Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






ĐIỆU HÒ TRONG VẠN CẤY MIỀN NAM








I. Hoàn cảnh lịch sử miền Nam trước khi hò vạn cấy ra đời:


Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn chiếm kinh thành ĐỒ BÀN. Vua lấy ĐỒ BÀN, ĐẠI CHIÊM và CỔ LŨY lập thêm đạo Quảng Nam. Năm 1777 Nguyễn Huệ chiếm xong Gia Định rồi trở về Qui Nhơn. Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Đế hiệu gọi Đồ Bàn là Hoàng Đế thành. Như vậy thành Đồ Bàn ở Qui Nhơn và nhà Lê chỉ mở mang về phía Nam tới Qui Nhơn mà thôi.

Nguyễn - Trịnh đánh nhau 45 năm từ 1627 đến 1672. Đất mới lập, dân cư có lẽ cũng thưa thớt nhưng vì chiến tranh, nhiều người trốn vào Bà Rịa, Đồng Nai làm ruộng. Năm 1674 chúa Hiền phá được Saigòn, vây Nam Vang. Năm 1679, Tổng binh nhà Minh ở Quảng Đông, Quảng Tây đem 3.000 quân sang xin làm dân Việt, chúa cho ở Biên Hòa, Đồng Nai và Mỹ Tho. Ở đây, Nhựt, Chà Và và người phương Tây đến buôn bán đông đúc.

Năm 1708, Mạc Cửu, người Trung Hoa trốn nhà Thanh sang chiếm vùng Hà Tiên dâng cho chúa Nguyễn được phong làm Tổng binh. Về hình thức, tới năm nầy ta mới chiếm trọn miền Nam.

Năm 1753 Nguyễn Cư Trinh sang Chân Lạp đánh Nặc Nguyên, Nặc Nguyên dâng đất chuộc tội, Cư Trinh đem người Chiêm Thành bị Cambodia húng hiếp cho ở Tây Ninh và Châu Đốc, mỗi nơi có lẽ cũng 5.000 người để chặn quân Cambodia sang đánh. Người Cambodia bản địa còn lại có lẽ cũng năm bảy ngàn người là ít, kế đó là người Chiêm Thành, Trung Hoa và người Việt cứ vô thêm lần. Như vậy, bước đầu, dân miền Nam là dân hòa hợp nhiều dân tộc. Tôi võ đoán rằng tới khoảng 1802 trở đi thì văn học miền Nam bắt đầu hình thành. Tục ngữ, ca dao, dân ca thì xuất hiện liên tục nhưng những thể loại ca ngâm mới nhen nhóm thôi. Năm 1915 Vọng cổ miền Nam xuất hiện thì các thể loại văn học, ca ngâm bắt đầu xuất hiện.


II. Điệu hò vạn cấy miền Nam ra đời lúc nào?


Sau khi thống nhứt giang sơn về một mối, từ 1802 trở đi, vua Gia Long chú ý mở mang việc học cho miền Nam. Trong chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Phúc Ánh, lính Trung vào Nam cũng đông. Sau đó, lính miền Nam ra Bắc trở về… Điệu hò hát miền Trung bắt đầu là “Hơ…” hay “Ơ…”. Miền Bắc hát ru con bắt đầu là “À ơi” hay “Ạ ơi”, “A ời…” hòa nhịp nhau. Do thổ nhưỡng, cách phát âm, cách thẩm âm của miền Nam, bài hát ru con miền Nam bắt đầu là “Ù ơ…” hay “Ầu ơ…”. Ví dụ:

Ầu ơ… ví dầu cầu ván đóng đinh…a á… cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi… Ầu ơ… khó đi khó đẩy về rẫy ăn còng, về sông ăn cá… về đồng ăn cua”.

Có bài hát ru con với hình thức thơ lục bát, nó hình thành lần điệu hò miền Nam nói chung, điệu hò vạn cấy nói riêng. Điệu hò nầy đã ngưng và mất hơn nửa thế kỷ rồi mà đi tìm nguyên nhân xuất hiện của nó chỉ là suy đoán mà thôi.

Từ sau năm 1802, vua Gia Long mở mang việc học cho người miền Nam nhưng đất mới, người thưa, việc lao động sanh sống cũng dễ dàng nên ít người chú tâm tới việc học. Cả miền Nam có lẽ chỉ có Gia Định là có mở kỳ thi Hương. Ai đậu cao là Cử nhơn, đậu thấp là Tú tài, rớt chỉ là anh Khóa.

Hồi nầy các ông đồ miền Trung vô Nam dạy học cũng nhiều. Họ đi các nơi, nếu có nhà giàu nào mời dạy con, ông chỉ ra điều kiện là nuôi cơm cho ông thôi. Nếu có ai gởi con học thêm ông cũng nhận nhưng học phí chủ nhà nhận làm gì thì làm, ông không cần biết. Nếu chủ nhà thấy con họ học không tiến bộ thì ngưng, cho ông một ít tiền lộ phí để ông đi. Khi phát hiện học trò giỏi thì ông ghi nhớ. Nếu có nhà giàu khác mời dạy, ông ra điều kiện nuôi ông và đứa học trò giỏi của ông, được thì ông gọi tới để dạy tiếp. Do đó, người có học trong xã hội cũng có tuy ít. Những người có học nầy góp phần vào việc tạo câu hò đấy. Cô, dì tôi nhờ ông nội, ông ngoại tôi làm giúp câu hò đối lại những câu hò hóc búa mà các chàng trai hò cho khỏi tức. Yếu tố câu hò có rồi, yếu tố phát sanh ra hò, tôi cho là bắt đầu câu nói khuyên nhau hay chống chế nhau rồi nó mở rộng ra là trai gái ghẹo nhau rồi tỏ tình với nhau.

Sau năm 1975, tôi về quê canh tác một mẫu ruộng, mỗi lần cấy, tôi kêu 12 công cấy một ngày xong. Về sau phải 15 công mới xong. Chọn công cấy giỏi thì họ trọng tuổi nên đã có chồng con. Khi cấy gần hết một lối nghĩa là khoảng hơn một giờ, họ bắt đầu nói chuyện tùm lum, chuyện tục ý thanh, chuyện thanh ý tục, câu đố… Có lẽ từ câu đố vui, nó đi tới câu đố thử nhau rồi tới câu ghẹo nhau, tỏ tình với nhau chăng?

Ngược về đầu thế kỷ 20, dân miền Nam còn thưa nên những ông địa chủ có từ 10 mẫu ruộng trở lên rất nhiều, có người có tới 150 mẫu đấy. Muốn cấy thì phải kêu công cấy. Kêu 30, 40 người không phải dễ nên mỗi xã có một ông trùm vạn. Ai muốn đi cấy thì tới ghi tên đề ông trùm vạn sắp xếp. Nếu xã nhà không đủ công, ông trùm vạn sẽ sang nhờ ông trùm vạn các xã kế cận hỗ trợ. Một vạn cấy thường gồm 30 người dàn thành một hàng ngang mà cấy. Các cậu có học chút đỉnh đọc những câu lục bát làm sẵn cho vui. Kế tiếp là ghẹo các cô công cấy. Các cô tức mình về nhờ người có học làm câu lục bát trả lời. Họ học thuộc lòng để đọc. Học riết, đọc riết đâm quen và tiến tới tự làm được. Nhưng đang cấy mà đứng lên đọc một câu thơ lục bát thì hơi kỳ. Do đó, từ đệm khởi đầu “Ầu ơ” đến. Ở ngoài ruộng mà nói “Ầu ơ” ru em thì chướng tai. Cái “Hơ…” của miền Trung khi bắt đầu hò một câu gì đó đến trong trí thì họ biến thành “Hò ơ…” hay “Hò lơ…” nghe tự nhiên hơn. Tất cả là do tôi võ đoán cả. Làm câu hò công cấy trai gái ghẹo nhau thì nói sao cho hợp, tôi không nhớ câu nào dù có nghe kể. Tôi táo bạo bịa ra câu hò để ứng phó một sự kiện đó là trời chuyển mưa mù mịt, một công cấy lên tiếng:

Hò lơ… Mây tuôn đen kịt ai ơi…

Hò lờ Cấy mau khỏi ướt tơi bời lạnh run.

Nói thế đương nhiên có người phản ứng ngay và trong hoàn cảnh nầy phải kêu người ta lắng tai nghe:

Hò lơ hó lơ lắng tai nghe tiếng tôi hò lờ

Cấy mau khỏi bị mưa vây… A lê hò lờ

Mai kia ông chủ… A lê hò lờ…

Ông chủ bắt mãi như vầy mệt ơi…

Ban đầu thì hò khơi khơi thôi nhưng sau đó nó tiến lần tới khiêu khích trả lời. Nhưng trả lời bằng thơ ngay thì hơi khó nên nó chuyển sang câu đối để dùng từ diễn ý thoải mái hơn. Sau, nó chuyển tới cách đối đại khái nhưng câu nói phải nghe xuôi tai. Như vậy là công cấy được hò tự do.

Trong tác phẩm “Chuyện tình trong chiến khu” của Lương Minh, ông có kể vài câu hò mà tôi nghe gần gũi với tôi vì ý giông giống như những câu hò mà tôi đã nghe nhưng tôi không nhớ. Tôi xin lược kể một đoạn của ông. Một hôm trong đám cấy, mặt trời lên khá cao, các cô gái trỗi giọng hò mấy câu cho vui thì có ba thanh niên ở xóm gần đó tới ngồi trên bờ nghe và coi cấy, cô Út lên tiếng:

Hò ơ ơ ơ… Nhìn lên trời thấy đôi chim ô thước,

ngó xuống nước có con cua đang bò…

Hò ơ… Các anh tới đây không hát thì hò,

đâu phải con cò ngóng cổ mà nghe.

Một cậu thanh niên lên tiếng:

Hò ơ ơ ơ…

Trên ngọn trâm bầu có con chim cu đang gáy.

Dưới đám ruộng có đôi trâu kéo cày.

Hò ơ ơ ơ…

Anh thương em muốn tính chuyện lâu dài, nhưng ngại gặp nhằm con hổ cái thì cuộc đời tàn luôn.

Có tiếng xì xào trong đám cấy, một chị nói:

Sao tụi bây không chêm cho nó vài câu hóc búa cho nó ngán?

Cô Tư Em cất giọng:

Hò ơ ơ ơ…

Lục bình trôi sông phải chăng họ hàng cùng rau mác, con cò không nhát sao gọi là cò ma.

Hò ơ ơ… Trông thấy anh có vẻ thật thà, nếu anh đối đặng gái già nầy sẽ theo không!

Một cô nói: “Chà! Vụ này hơi kẹt đó nghen”.

Trên bờ ruộng, một chàng trai cất giọng:

Hò ơ ơ… Con mèo không rách sao gọi là mèo vá, con cá không ai thờ sao gọi là cá linh?

Hò ơ ơ… Trông thấy em, anh có cảm tình, rõ ràng là hữu duyên thiên lý nên chúng mình gặp nhau.

Có tiếng nói: “Chu choa, mùi quá rồi đó nghen!” rồi họ cười rân với nhau. Đại để là như vậy.

Điệu hò vạn cấy phát triển rầm rộ, các cô gái trẻ, các cậu thanh niên háo hức trong mùa cấy, ở nhà họ nhẩm thuộc lòng một số câu hò để ra ruộng tùy nghi. Nhưng khi nó lên cao tột đỉnh rồi thì nó cũng cáo chung mà thôi. Hai trong số ba câu hò chấm dứt hò vạn cấy, mỗi câu tôi nhớ non một vế nhưng cũng bịa thêm cho đủ hai câu. Cao hứng thế nào mà một chị công cấy hò:

Hò ơ ơ… Thiên sanh nhơn sanh mộc, thọ khí âm dương, mộc dĩ đọt non.

Hò ơ ơ… Người sanh người nhưng làm sao tạo được con? Ai mà đối được…

Hò ơ… Ai mà đối được tôi mua gan công mật cóc thuốc chồng tôi theo!

Một thanh niên hò đối lại:

Hò ơ ơ… Nhơn sanh nhơn, mộc sanh mộc. Cây chuối một mình lại mọc chuối con.

Hò ơ ơ… Người sanh người mà cách tạo con… Hò ơ… Em về em hỏi ông nội ông ngoại em chớ anh là kẻ thơ sanh biết gì!

Chồng chị công cấy đang phát cỏ bờ gần đó xách phảng đi tới đám công cấy, và anh cũng hò:

Hò ơ ơ ơ… Nghe bây nói mà tao phát nổi xung…

Cho bây một phảng bây chun vô thùng!

Anh tới phảng cô vợ một phảng. Có lẽ trước 1945 màng lưới y tế nông thôn không có, nông dân thì cầm máu kém nên chị công cấy chết. Sau đó có lịnh cấm không cho hò nữa. Ông tôi là Hương Quản trong xã và cũng là điền chủ nên khi vạn cấy cấy ruộng của ông, ông ra thẳng ngoài ruộng vừa coi cấy, vừa truyền lịnh không cho hò. Rể của ông cũng là Hương Quản một xã khác, cũng là địa chủ, ông cũng ra ruộng coi cấy và truyền lịnh không cho hò. Các trùm vạn, không ai muốn công cấy của mình bị nạn nên trước khi công cấy xuống ruộng, họ cũng nhắc là cấm hò.

Có lịnh cấm nhưng có lẽ khí thế đang lên cao nên nó còn kéo dài thêm một thời gian nữa. Tôi còn nhớ thấy cô họ tôi ngồi một mình nói lảm rảm. Tới gần, cô đuổi đi. Má tôi nói đi chơi để cô học câu hò để mai hò đối với người ta. Đồng lúa vẫn còn xanh um dù Tây vô làng thì chúng muốn giết ai thì giết. Chiến tranh ác liệt dần, năm 1949 tôi lên Saigòn, lúc đó tôi tám tuổi. Sau đó, khi về quê, tôi không nghe ai nói đến vụ hò nữa.


Khánh Hội-Quận Tư-Saigòn 16-3-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 27.7.2016.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn