Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

cố đô Hoa Lư

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (33)



Văn Hóa Hoa Lư







S au thời đại Văn hóa Ðông Sơn. Văn minh sông Hồng. Lịch sử Văn hóa- Văn minh Việt Nam bước vào thời đại lớn thứ hai. Thời đại Ðại Cồ Việt- Ðại Việt với Văn hóa Hoa Lư.

Tiếp biến Văn hóa- trước Văn hóa Hoa Lư

Theo tác giả Lê Văn Hảo (Website Chim Việt Cành Nam).

Trước Văn hóa Hoa Lư là thời Bắc thuộc, 900 năm từ sau Hai Bà Trưng, trước Ngô Quyền. Thời này, kẻ đô hộ nước Tàu đã phải chạm trán với bản lĩnh Việt cổ. Tinh thần dũng liệt, bất khuất của những Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Thanh, Khúc Thừa Dụ, Dương Ðình Nghệ... đã cùng với người dân Việt cổ liên tục khởi nghĩa. Chuẩn bị cho đại thắng Bạch Ðằng cuối năm 938. Mở ra một kỷ nguyên Mới trong lịch sử dân tộc sau kỷ nguyên Việt cổ là Kỷ nguyên Việt Nam.

Giữa hai kỷ nguyên Cũ và Mới đã xảy ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt- Ấn và Văn hóa Việt- Trung. Làm biến đổi cấu trúc Văn hóa Văn minh Việt cổ. Dẫn tới, hình thành và phát triển Văn hóa Việt Nam từ truyền thống tới cận đại.

Ngàn năm Bắc thuộc là thảm họa đối với sự còn, mất của dân tộc Việt Nam và Văn hóa Việt Nam. Nước Văn Lang- Âu Lạc của vua Hùng, vua Thục, vua Trưng bị nước Tàu chiếm đoạt. Chính sách nô dịch, bóc lột về vật chất, thủ đoạn đồng hóa về tinh thần, liên tục diễn ra.

Tướng Mã Viện nhà Hán, người đầu tiên, dùng âm mưu, thủ đoạn diệt chủng toàn diện. Đàn áp dã man. Giết hại vô số dân Việt. Trấn áp dữ dội giới quý tộc Văn Lang- Âu Lạc. Mã Viện bắt đày sang Hồ Nam hơn 300 Thủ lĩnh Việt. Diệt những người có uy tín và khả năng đoàn kết dân Việt, chống Tàu cai trị, áp bức, bóc lột. Mã Viện đã cướp đi hàng trăm Trống Đồng, Thạp đồng, đúc thành một con ngựa lớn, làm quà dâng công vua Hán.

Mã Viện đã thu gom nhiều đồ đồng Việt cổ khác, đúc thành một cái cột mốc khẳng định địa giới nhà Hán trên đất Văn Lang- Âu Lạc cũ với lời nguyền độc địa : "Nếu để cột đồng gãy thì sẽ tiêu diệt hết dân Giao Chỉ" (Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt).

Mã Việt biết Trống Đồng và Thạp đồng, báu vật của Văn minh Đông Sơn và uy quyền các vua Việt cổ, các Lạc tướng, Lạc hầu. Được dùng trong chiến trận, trong các lễ hội Việt cổ. Là những sáng tạo có giá trị lớn về Văn hóa, Triết học, Kỹ thuật và Nghệ thuật Việt cổ. Triệt phá những báu vật đó, cùng việc giết dân, đày ải thủ lĩnh và quý tộc Việt cổ… đều là hành động diệt chủng. Mã Viện diệt nòi giống Việt thâm độc, dã man nhất là diệt Văn hóa, đánh tráo Văn hóa Việt thành của Tàu. Nó nằm trong âm mưu, thủ đoạn đồng hóa đại qui mô và lâu dài của nước Tàu.

Sau Mã Viện tới những Sĩ Nhiếp, Tôn Tư, Cao Biền… bằng các thủ đoạn khác nhau, đã ra sức đồng hóa, Hán hóa vĩnh viễn đất nước Việt và Văn minh Việt cổ”.

Trống Đồng- Triết học Thiên- Địa- Nhân hợp nhất

Dã tâm đồng hóa của nước Tàu đã bị thất bại. Người Việt cổ. Chủ nhân của nền Văn hóa Ðông Sơn, Văn minh sông Hồng, Văn minh lúa nước… đạt trình độ cao. Đã chống lại sự đồng hóa, diệt chủng man rợ.

Bằng chứng của trình độ Văn minh, trình độ Triết học Thiên- Địa Nhân hợp nhất, của người Việt cổ là Trống Đồng người Việt sáng tạo cách đây khoảng 2500. Đây là giá trị Trí tuệ Tâm linh Siêu việt của người Việt. Khoa học hiện đại khó lý giải, mối giao cảm Con người & Vũ trụ của Trống Đồng.

Để làm ra Trống Đồng. Người Việt cổ phải có những kiến thức về nhân sinh, vũ trụ, kỹ thuật đúc đồng… trước khi sáng tạo Trống Đồng. Nhiều nhà nghiên cứu Trống Đồng khẳng định. Trống Đồng hàm chứa năng lượng vận động của Thiên- Địa- Nhân. Và những vạch đứt, vạch liền của Kinh Dịch. Những hoa văn vòng xoắn, khế hợp với Trường Năng lượng vũ trụ…

Trống Đồng- Bản đồ Tâm linh Việt. Người Việt thờ Trống Đồng đời nọ nối đời kia. Trước sự hủy diệt đồng hóa, người Việt cổ giấu Trống Đồng trong lòng Đất Mẹ Việt. Để đến nay (9- 2015) Trống Đồng âm vang, bay bổng, hòa Sáng Tinh cầu, chở Triết học Thiên- Địa- Nhân hợp nhất, linh diệu của người Việt.

Tiếng Việt là Tâm hồn, Tư tưởng Việt

Tác giả Lê Văn Hảo viết:

Mất nước. Người Việt cổ vẫn giữ vững xóm làng sau lũy tre xanh. Văn hóa dân gian, hồn cốt của Văn minh Việt cổ trường tồn. Tiếng nói Việt cổ, được gìn giữ, với những âm tiết và từ ngữ thuần Việt. Mặc dầu nó nhận thêm nhiều âm tiết và từ ngữ Hán. Tiếng Việt, ấm hơi thở Việt, chân thật chở, tâm hồn, cốt cách, tư tưởng, nếp sống thuần Việt.

Ngàn năm Bắc thuộc. Tiếng Việt vẫn tồn tại. Là một thứ tiếng khác với Hán ngữ và với bất cứ phương ngữ nào của nước Tàu. Tiếng Việt là chứng cứ hùng hồn nhất về bản sắc, bản lĩnh của người Việt và Văn minh Việt từ nhiều ngàn năm nay.

Về tư tưởng và tín ngưỡng tôn giáo. Người Việt đã tiếp thu có chọn lọc Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo tới từ Ấn Ðộ và Trung Hoa, giữ vững tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên, tôn trọng anh hùng, người già và phụ nữ.

Nho giáo, tuy có thịnh hành trong một vài thời kỳ lịch sử. Tư tưởng và hành xử phản Khổng, phi nhân bản như quá đề cao quyền vua, quyền cha, trọng nam khinh nữ, bảo thủ, giáo điều... chỉ ảnh hưởng nhiều tới giới cai trị và các tầng lớp trên của xã hội. Tư tưởng Phật giáo, Thiền của từ bi, bác ái, là tôn giáo, đạo lý được ưa thích nhất của dân Việt mọi thời đại.

Tiếng Việt truyền sức sống và sức mạnh Việt, để bước vào một thời đại mới độc lập, tự chủ. Mở đầu là thời Ngô- Ðinh- Tiền- Lê của Văn hóa Hoa Lư nước Ðại Cồ Việt”.

Kinh đô Hoa Lư

Việc đặt tên nước Đại Cồ Việt và lập Kinh đô Hoa Lư là sự độc lập về Văn hóa- Lịch sử của nước Việt. Kinh đô Hoa Lư đặt tại Hoa Lư- Ninh Bình, đã sáng tạo Văn hóa Hoa Lư trên nền Văn hóa Việt cổ.

Kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh và Tiền Lê gắn với sự nghiệp của hai vua đầu triều Lý. Là nơi Lý Công Uẩn lên ngôi. Nơi sinh Lý Thái Tông. Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Buổi bình minh của Kinh thành Thăng Long, đều thừa hưởng từ kinh đô Hoa Lư. Nhà Lý đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc giống Hoa Lư tại Thăng Long như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, phố Cầu Đông, chùa Một Cột , ngã ba Bồ Đề, cống Trẹm, tháp Báo Thiên, phố Đình Ngang, chùa Vạn Tuế...

Sách Đại Nam nhất thống chí quyển XIV tỉnh Ninh Bình chép: "Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ,... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy...".

Theo các Thần tích ở cố đô Hoa Lư . Lý Thái Tổ có một hoàng hậu là con gái của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga tên là Lê Thị Phất Ngân. Bà sinh Lý Thái Tông , vua thứ hai của triều Lý có tuổi thơ 10 năm gắn bó với vùng đất Hoa Lư trước khi về Thăng Long. Lý Thái Tông sau này xây chùa Một Cột, đền Đồng Cổ, đền Phạm Cự Lượng ở Thăng Long; đào kênh Lẫm, đầm Lẫm ở Thần Phù (Hoa Lư) làm phòng tuyến đánh dẹp Chiêm Thành và nghi lễ cày ruộng tịch điền đều noi theo vua Lê Đại Hành .

Nghệ thuật Kiến trúc Hoa Lư

Di sản Văn hóa Hoa Lư khi mảnh đất Hoa Lư- Ninh Bình, hoang vu trở thành Kinh đô Hoa Lư, là Nghệ thuật kiến trúc thuần Việt. Do trí tuệ, bàn tay người Việt sáng tạo. Người Việt ngày nay khám phá các loại hình Nghệ thuật kiến trúc Hoa Lư thơm hơi ấm bàn tay Việt như: Kiến trúc cung đình. Kiến trúc cung điện. Kiến trúc đền thờ. Kiến trúc đình làng. Hệ thống lăng, bia. Kiến trúc phủ, miếu…

Những giá trị kiến trúc, điêu khắc, phù điêu, tượng linh vật tại Cố đô Hoa Lư như: đền thờ Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, lăng mộ của hai nhà vua, chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động… cùng với những tên động, tên núi, tên sông gắn với những dấu ấn lịch sử thời Đinh, Lê, tuy ngắn 42 năm, nhưng để lại nền Văn hóa Hoa Lư bất diệt.

Nghệ thuật kiến trúc Hoa Lư đã tạo ra những làng nghề truyền thống. Nghề điêu khắc đá Ninh Vân, Hệ Dưỡng, Xuân Vũ. Nghề mộc Phúc Lộc. Nghề thêu ren Văn Lâm. Nghề chiếu cói Kim Sơn... Nay, những sản phẩm ấy, bán vẫn được người dân làm bằng đôi bàn tay, bán trong, ngoài nước.

Trong các hố khai quật có đồ gốm, đồ sành Việt. Có một số hiện vật lần đầu tiên tìm thấy như: đài sen, hoa cúc, tượng theo phong cách nghệ thuật Đinh- Lê. Có cả hiện vật thời trước đó (thế kỷ VI - VII và IX) và sau đó (thế kỷ XI - XIV), nhưng không xây dựng mới mà chỉ dùng lại kiến trúc thời Đinh - Lê.

Nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Đinh- Lê phát triển mạnh và định hình được phong cách Việt. Trở về nền tảng Văn hoá Đông Sơn. Khác hẳn nghệ thuật nước Tàu thời Đường- Tống.

Cung điện Hoa Lư

Đại Việt sử ký toàn thư ghi thời Lê Hoàn:

"Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng, bạc, làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc".

Tại khu đền vua Lê Đại Hành . Các nhà khảo cổ đã khai quật một phần nền nền cung điện thế kỷ X trong lòng đất. Nền cung điện nằm sâu dưới mặt đất khoảng 3m. Tại đây trưng bày các di tích khảo cổ thu được tại Hoa Lư phân theo từng giai đoạn lịch sử: Đinh- Lê, Lý và Trần.

Có những viên gạch lát nền có trang trí hình hoa sen tinh xảo, đặc biệt loại lớn có kích thước 0,78m x 0,48m. Có những viên gạch còn dòng chữ Ðại Việt quốc quân thành chuyên (gạch chuyên xây dựng thành nước Ðại Việt). Có những ngói ống có phủ riềm, nằm sâu dưới đất ruộng, khai quật lên, còn lành nguyên và cả những chì lưới, vịt... làm bằng đất nung.

Cố đô Hoa Lư

Năm 1010. Vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội). Hoa Lư trở thành Cố đô. Các triều vua Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau đó, vẫn cho tu bổ và xây dựng thêm ở Hoa Lư nhiều công trình kiến trúc như đền, lăng, đình, chùa, phủ… Kinh đô Hoa Lư xưa, nay là Cố đô Hoa Lư, diện tích tự nhiên 13.87 km² nằm trọn trong quần thể Di sản thế giới Tràng An - tỉnh Ninh Bình.

Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Người con trai thứ hai là Khai Quốc Vương mới hơn 10 tuổi, được giao cai quản vùng đất này, cùng sự bảo trợ của hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân. Hoa Lư tiếp tục giữ vai trò là một căn cứ quân sự và trung tâm Văn hóa của các triều đại nhà Trần, Hậu Lê, nhà Mạc, Tây Sơn.

Nhà Trần dùng thành Nam Tràng An của cố đô Hoa Lư để làm cứ địa kháng chiến chống Nguyên Mông. Vua Trần Thái Tông tiếp tục xây dựng ở Hoa Lư hành cung Vũ Lâm. Đền Trần thờ thần Quý Minh và chùa A Nậu. Cung Vũ Lâm là nơi các vua trần xuất gia tu hành.

Nhà Hậu Lê, thời Lê Thánh Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép, vua thân hành dẫn đại ngự giá khởi hành, qua cố đô Hoa Lư, trời mưa nhỏ, gió bấc. Vua sai Lại bộ thượng thư Nguyễn Như Đổ tế đền Đinh Tiên Hoàng , cầu cho quân đi thắng trận. Vua Lê Thánh Tông cảm nhận sức mạnh Tâm linh của cố đô Hoa Lư, đánh thắng giặc.

Thời nhà Mạc, quận công Bùi Thời Trung là người Hoa Lư đã cho tu bổ, xây dựng các đền thờ, có kiến trúc giống hiện nay.

Mùa đông năm Canh Dần (1770) chúa Trịnh Sâm đi tuần thú cõi Tây, lúc quay thuyền về, đi tắt tới đất Tràng An thăm cảnh Hoa Lư. Chúa đề thơ:


Cố đô đã mấy hồi thay đổi,

Thiên phủ còn nguyên dấu vững bền.

Hưng phế xưa nay bao chuyện cũ

Lòng dân đáng sợ chớ nên quên."

Thiên nhiên Hoa Lư hồng hoang Việt cổ

Nhiều hang động trong vùng Tràng An, dù phần lớn chưa được khai quật, nhưng qua dấu vết để lại có dấu tích của con người, thời tiền sử, cách đây 5.000- 30.000 năm.

Địa chất, địa mạo ở đây là số lượng hang động rất phong phú, đa dạng về hình thái, chủng loại, tạo thành từng cụm, thạch nhũ đa dạng, kết cấu tầng lớp liên hoàn. Có hang động xuyên thuỷ, hang động thông, hang ngầm. Có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu khí hậu và sự tiến hoá địa hình, ghi dấu ấn của các thời kỳ nước biển dâng trong kỷ đệ tứ liên quan đến các đợt gian băng và khí hậu nóng lên. Nghiên cứu sự thích nghi của con người Việt cổ, trong thời kỳ biển tiến, biển lùi và sự biến đổi môi trường.

Về cố đô Hoa Lư chúng ta nghiên cứu Văn minh Đông Sơn, Văn minh sông Hồng, Sông Mã (Kinh Dịch, Trống Đồng thông thấu sự vận động của Con Người & Vũ trụ, biến hóa không ngừng …) Nghiên cứu Tổ Tiên Việt rực rỡ Văn hóa Hòa Bình, Văn minh lúa nước, Văn minh sông Hồng, sông Mã… Mấy ngàn năm bị nước Tàu hủy diệt, đánh tráo, nhưng Linh khí và dấu tích hùng hồn, muôn đời huyền diệu.

Tất cả hiện lên báu vật Trống Đồng- Bản đồ Tâm linh Việt tộc. Người Việt tư duy theo nguyên lý vận động Thiên- Địa- Nhân hợp nhất (Trời- Đất- Người là Một). Khác với tư duy Khoa học, duy lý, phát minh thuốc nổ và súng thuốc đầu tiên cho nhân loại, của người Tàu.

Muôn loài sinh học giao duyên

Giá trị sinh học đa dạng ở cố đô Hoa Lư Hệ động vật và thực vật phong phú trải vùng núi đá vôi, thung lũng đá vôi đầm lầy, sông trong núi đá vôi, sông ngầm, hang động, rừng trên núi đá vôi.

Thảm thực vật, hệ động vật, hệ sinh thái thực vật, thực vật tảo, động vật nổi, động vật đáy cỡ lớn và các nhóm côn trùng nước, cá... Nhà nghiên cứu đã đưa ra những số liệu: 577 loài thực vật, trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, 311 loài dùng làm thuốc, động vật thuỷ sinh ngập nước có 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy, trong đó có loài rùa cổ sọc quý hiếm.

Ninh Bình- Trầm tích dấu thiêng cư dân Việt cổ

Ninh Bình ở vùng giao thoa giữa các miền: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đã tạo ra một nền Văn hóa Ninh Bình, năng động, mang đặc trưng khác biệt, trên nền tảng Văn minh châu thổ sông Hồng.

Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi. Con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi, và các động vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ. Động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời Văn hoá Hoà Bình.

Sau thời kỳ Văn hoá Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn Văn hoá đồ Đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu.
Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X. Gắn với sáu vị vua, thuộc ba triều Đinh- Lê- Lý.

Dấu tích lịch sử linh thiêng trong các đình, chùa, đến, miếu, từng ngọn núi, con sông. Ninh Bình là vùng đất chiến lược, bảo vệ Thăng Long của triều Tây Sơn. Là căn cứ để nhà Trần hai lần chiến thắng giặc Nguyên- Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần. Thế kỷ XVI – XVII. Đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm. Giao thoa Văn hóa Hoa Lư và Văn hóa phương Tây. Thoát Tàu.
Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ. Ninh Bình có văn hoá của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoàng Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II... Nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m.

Ninh Bình mở không gian Văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển, nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua...

Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú: Tam Cốc, Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên... Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động". Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động"…

Các đế vương, danh nhân văn hoá: Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà… đề bút trên núi sông Ninh Bình.

Ninh Bình, quê hương của nhiều danh nhân đất Việt: Đinh Bộ Lĩnh; Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tụy, Ninh Tốn, Nguyễn Bặc ...
Ninh Bình phong phú các lễ hội dân gian Việt. Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi... Các lễ hội khác: lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ... diễn ra tại các công trình kiến trúc Tâm linh: đền vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê, nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính, đền Thánh Nguyễn, làng chèo Phúc Trì, Nam Dân, Thượng Kiệm, những trung tâm hát chầu văn ở đền Dâu, phủ Đồi...

Văn hóa Hoa Lư- Tràng An & Hương vị Tổ tiên Việt

Tràng An là tên gọi thành Nam của kinh đô Hoa Lư. Tràng An nay là khu du lịch sinh thái trong Quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình. UNESCO công nhận di sản thế giới kép năm 2014. Tràng An với hệ thống dãy núi đá vôi, hang đá, sông ngòi… có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm.

Ngày nay, du khách đến thăm cố đô Hoa Lư và Danh thắng Tràng An giao hòa cùng hồn thiêng Tổ Tiên Việt thơm những món ngon Việt cổ.

Không chỉ nổi tiếng với cơm cháy, thịt dê mà đất cố đô Hoa Lư còn nhiều món ngon dân dã, đồng quê của người Việt cổ, được chế biến bởi những bàn tay tinh tế. Những món ăn thơm ngon, bổ, hợp khẩu vị người Việt, là những món ăn- bài thuốc.

Cua đồng rang lá lốt. Cua bắt ở đồng lúa nước về, làm cẩn thận, rang chung, lá lốt thái sợi, tạo vị giòn tan của cua đồng cùng hương thơm lá lốt, ăn với cơm nóng.

Gỏi cá nhệch. Có vị thơm và bùi của sông nước Ninh Bình. Ăn cùng rau lá vườn nhà. Lá đinh lăng, mơ lông, thính, là những vị thuốc, đầy hương vị tươi sống, của loài người thời chưa tìm ra lửa.

Ốc núi luộc . Có vị ngọt tự nhiên, đậm đà do ốc ăn lá cây cỏ và một số loại thuốc quý. Ốc núi làm thành nhiều món khác nhau như nướng, xào me hay xào tỏi. Ưa chuộng nhất vẫn là món ốc núi luộc.

Món bánh trôi, bột gạo, nhân đường mật, lạc khô giã nhỏ và lá cúc mốc. Lá cúc mốc hái về, thái nhỏ, ướp đường mật, ngâm thấm đều rồi làm nhân bánh cùng lạc khô giã nhỏ.

Nem chua Ninh Bình, làm từ thịt nạc mông lọc bỏ mỡ, bì lợn luộc, thính, thêm vài gia vị… gói lại bằng lá ổi để tạo vị thơm lá chuối, cây, cỏ vườn nhà.

Cá kho gáo. Gáo là một loại cây mọc nhiều tại một số khe suối hoặc chân đồi ở Ninh Bình dùng làm thuốc và nấu ăn. Cây gáo xanh và gáo vàng kho cá, vị chua, chát…

Những món ăn gắn với Đất và người, với nắng, mưa, thơm thảo Tình Mẹ Việt, đã thành di truyền Việt. Người ta nói Ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật. Nhưng người Việt ăn cơm Tàu đến bữa thứ ba là chán lè. Nó béo bậm những thịt và mỡ. Đây là lý do tại sao người Việt thời đại nào cũng chống Tàu đồng hóa.

Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ- Vua Quang Trung tuyên bố:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 23.6.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004