Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

   






                                     VĂN HOÁ Á RẬP                            









V ào giữa thế kỷ thứ bảy đến giữa thế kỷ thứ tám, thị tộc Omayyad chiếm toàn bộ bán đảo Ả Rập, Bắc Phi, Nam Âu - một khu vực rộng lớn như Đế quốc La Mã từng cai quản. Theo chân nhữngkẻ chinh phục, tiếng Arập nghiễm nhiên trở thành ngôn ngữ chung cho toàn đế quốc của thị tộc Omayyad. Chính quyền Omayyad khuyến khích học hành nên học giả từ mọi vùng kéo về kinh đô Damascus. Đế quốc Omayyad được coi là đỉnh cao của nền văn minh đạo Islam. Dọc theo lịch sử và thời gian, khi đế quốc này hình thành, rồi tàn lụi. Kế đến lại xuất hiện những kẻ bành trướng mới, qua thời vàng son của nó là thời suy vong tàn lụi. Cùng với suy vong là sự phân chia lại lãnh thổ. Khu vực Trung Cận Đông ngày nay là kết quả sự xé lẻ thành những quốc gia mới mà khi xưa tất cả nằm trong tay một đế chế như đế chế của thị tộc Omayyad là một ví dụ. Theo thống kê thì có những nước sau đây nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hoá Arập: Ai Cập, Angiêri, Eteria, Jordani, Arập Xêut, Coet, Liên bang các tiểu Vương quốc Arập thống nhất, Qata, Barain, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Israel, Lebanon, Sudan, Qata.


LÃNG DU TRONG VĂN HỌC ARẬP


THI ĐÀN ARẬP KHI XƯA


Vào thời đại Abasside của Hồi giáo, thơ Arập phong phú, vì ở xứ này “trăm người dân và mười ngàn thi sĩ”, vì thế nên giữa thế kỷ 10 bộ Hợp tuyển thi ca Arập Kitab al-Aghani (gồm 20 tập) có thể sánh với Thơ Đường Trung Hoa,. Vua chúa thường nuôi thi sĩ để họ ca tụng công đức mình, ngợi ca bộ lạc mình. Ngày ấy, ở kinh thành Baghdad (750-1258) tráng lệ, thi sĩ không những được vua nuôi, mà còn được tặng nhiều tiền, chức cao trong triều đình. Trong thời đại hoàng kim của thơ Arập (từ giữa thế kỷ 8 tới giữa thế kỷ 11), các sách về thơ ca, triết học Hy Lạp được sưu tầm như châu báu, thậm chí đổi tù binh Hy Lạp để lấy sách của Hy Lạp.

Thi sĩ Arập thường ngâm vịnh thơ về ái tình, về các cuộc chinh chiến oai hùng , họ phải chú ý lễ độ trước vua quan, vì vậy có phần không tự nhiên như đứng trước dân du mục trong sa mạc. Từ người dân bình thường tới vua quan đều thích nghe ngâm thơ. Thơ được vua ưa chuộng tới mức, thi sĩ Hammad được thưởng hai nô tỳ kiều diễm và 50.000 dinar chỉ vì ông còn nhớ bài thơ mà vua Hisham quên. Ngày nay, giai thoại này bị coi như là chuyện hoang tưởng. Ba nhà thơ nổi tiếng trong văn học Arập là


Hasan ibn Hani tóc rậm và quăn nên người đời gọi ông là Abu Nuwas (ông tóc quăn). Ông sinh ở Babylon, nhưng lại Bagdad sống và trở thành sủng thần của vua Haroun al Rashid (786-809) . Abu Nuwas nổi tiếng tới mức có vài truyện kể về ông và vua Haroun al Hasrid đi “tìm hoa” trong bộ Nghìn lẻ một đêm. Ông thích rượu và đàn bà và phóng túng quá mức để cho vua Haroun có lúc bực ra lệnh nhốt. Ở phương trời xa xôi, thi sĩ Lý Bạch của Trung Hoa thích rượu để thoát khỏi “vạn cổ sầu”, thì trong thế giới Arập có Abu Nuwas cũng thích rượu, nhưng để “ra khỏi sầu” :

Rót rượu cho tôi nào

Rượu rót càng lấp lánh

Đưa tôi ra khỏi sầu.

Ông cho rằng, Thượng đế cũng tha thứ cho người thích lạc thú trần gian:

Có xá gì tội lỗi

Em cứ chất cho đầy

Thượng đế rồi cũng phải

Tha thứ cho đến ngày

Trước mặt Người độ lượng

Không biết thi sĩ tỉnh hay giả say mà:

Đến thắt lưng của nàng

Khi tôi cố buộc lại

Nút thắt vẫn không xong

Điệp khúc đời thi sĩ Abu Nuwas là:

Suleimar, đến đây nào

Hãy hát lên đi chứ

Và đem rượu đến mau!

Dù ở phương trời nào, xưa hay nay thì thi sĩ, mỹ nữ, rượu và ca hát cũng quyện lấy nhau như bản nhạc tổng kết đời nghệ sĩ “Weib, Wein, Gesang” (đàn bà, rượu, ca hát) của vua nhạc Valse thành Viên nước Áo Johann Strauss.


***


Thi sĩ Arập Abu’l Ala al-Ma’arri (1003-1087) sinh ở Al-Ma’arratu, gần Alep. Năm 4 tuổi ông bị mù do bệnh đậu mùa. Tuy mù nhưng ông vẫn đi học, ông có tài học thuộc lòng những gì nghe được. Ông đến các giảng đường để nghe những giáo sư danh tiếng giảng bài. Trong khi các thi sĩ cùng thời ngâm vịnh mỹ nữ , chiến tranh thì ông suy gẫm đặt câu hỏi:

- Chúng ta nên theo lời khải thị hay theo lý trí?

- Đời có đáng sống không?

- Có kiếp sau không?

- Có Thượng Đế không? …

Ông kể cuộc đời mình:

Hồi trẻ đã bao lần tôi nói xấu bạn bè

Khi họ khác tín ngưỡng với tôi

Nhưng bây giờ linh hồn tôi đã đi khắp nơi

Ông nghiệm thấy:

Ngoài tình th ương ra thì hết thảy chỉ là một danh từ trống rỗng.

Ông bảo lũ con buôn đi lễ ở nhà thờ là lũ người bắt tôn giáo phụng sự lòng tham lợi của con người:

Gã điên kia, đứng dậy!

Những nghi lễ anh tin là thiêng liêng ấy

Chỉ là trò hề cổ nhân bày đặt

Để cướp của cải người khác cho thoả lòng tham

Họ chết trong sự đê tiện –

Và luật lệ của họ chỉ là cát bụi.

Ông khuyên những người hành hương tới các thánh địa, đừng nghĩ tới một thế giới khác, cõi trần này đủ rồi.

Về tệ nạn say rượu, ông bảo:

Thiên hạ có tội gì đâu?

Chính bạn và tôi mới đáng trách

Nho, rượu và người uống rượu

Cùng là vật như nhau cả

Tôi tự hỏi: Lỗi ở ai?

Người ép nho làm rượu

Hay người uống rượu?

Rồi ông than thân trách phận làm người, làm người làm gì để chuốc lấy đau khổ buồn chán:

Cha tôi đã bắt tôi phải sinh ra

Tôi không bắt lại ai hết.

Ông cho rằng, để thoát “ưu sầu, khổ não” về những dối trá, tàn nhẫn của con người thì chỉ có phương thuốc - chết:

Đời sống là một thứ bệnh

Mà chết là phương thuốc

Ai rồi cũng chết

người gia trưởng hay tên du đãng

Ông thấy vầng trăng lưỡi liềm:

Như ngọn giáo nhọn uốn cong lại của thần chết.

Đời người gói gọn trăm năm, nhưng hy vọng của con người thì:

Pho sách nào chứa nổi

Bao hy vọng con người.

Hình như những người mù như Homer, Maarri được tạo hoá phú cho trí nhớ tuyệt vời cùng cảm nhận tinh tế để trở thành những nhà thơ lớn của nhân loại nói về nhân tình thế thái của xã hội đương thời. Homer, Maarri là hai nhà thơ, đồng thời là hai nhà hiền triết. Maarri sống giản dị, thánh thiện và qua đời ở tuổi 84. Có 128 thi sĩ đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Có 84 nhà bác học đọc điếu văn trên huyệt.


***


Ahamd ibn Husein (915-965) sinh ở Kufa. Ông học ở Damas, tự xưng là nhà Tiên tri nên bị bắt. Sau đó ông được thả. Ông tự tạo một tôn giáo cho mình: không màng tới thiên đường, ham hưởng lạc thú ở trần gian, không cầu nguyện kinh Coran. Thơ ông rất phổ biến ở Arập. Vì tự xưng là nhà Tiên tri nên người đời gọi ông là al-Mutanabi (người muốn thành nhà Tiên tri). Ông ca ngợi quá khứ, chê thời mình sống là “già nua”:

Trong quá khứ,

Thời gian từng sinh hạ

Những đứa con cưng

Nó tự tìm thấy mình

Trong cánh hoa thanh xuân

Và rộng lòng ban phát

Những niềm vui tuyệt trần

Thế mà chúng ta

Chui ra từ

một Thời gian khác

Đã quá nua già

Chúng ta là con cái

Của những gì già nua

Ông bi quan:

Tôi thấy niềm hy vọng

Đã chết tự bao giờ

nên vui thú hưởng cuộc đời “nhởn nhơ”:

Con chó nào càn quấy

Lại càng được nhởn nhơ

Áo bào cho mọi rợ

Cái chết cho nhân từ …

Ông nổi tiếng với hai câu thơ huênh hoang:

Tôi quen cưỡi ngựa

trong sa mạc mênh mông

Quen với gươm giáo

hơn là giấy bút.

Khi ông ngao du trên đường đi từ Baghdad tới Babylon thì bị bọn cướp Beduin đón đánh, tên nô lệ của ông nhắc hai câu thơ trên để khích ông, ông liền xông lên đánh trả, ông bị tử thương.


BỘ TRUYỆN CỔ DÂN GIAN ARẬP “NGÀN LẺ MỘT ĐÊM”

(ALF LAILA WA-LAILA / THE ARABIAN NIGHTS)


Ngàn lẻ một đêm (Phan Quang dịch, NXB Kim Đồng, 2007) là bộ sưu tập truyện tình, truyện phiêu lưu, truyền thuyết, cổ tích. Ngày nay vẫn chưa xác định được ai là tác giả bộ sách, chúng ta chỉ biết có một người xứ Persia đã chép lại những truyện lưu truyền trong dân gian mà nàng Sheherazade kể cho vua Shahriar nghe và sắp đặt theo một lôgic để thành cuốn sách Ngàn lẻ một đêm vào năm 1450. Trong bộ sách có cả truyện cổ dân gian

của các nước trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu đã được Arập hoá. Bộ sách Ngàn lẻ một đêm lưu truyền rộng rãi ở vùng Trung Cận Đông (Iran, Iraq, Ai Cập.v.v.) Dịch giả Pháp Antoine Galland đã dịch Ngàn lẻ một đêm sang tiếng Pháp và công bố vào những năm 1704-1709. Bộ truyện lần lượt được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhanh chóng trở nên phổ biến trên toàn thế giới và là một trong những bộ sách được nhiều người đọc nhất.

Vua Shahriar ở miền đông Arập có người vợ ngoại tình, vua đâm ra chán ghét phụ nữ, tính nết trở nên hung bạo, nghĩ ra một cách để thoả cơn giận bằng cách, hàng đêm chăn gối với một thiếu nữ, ngày hôm sau thiếu nữ kia bị thủ tiêu. Dân chúng trong kinh thành lần lượt phải đưa con gái mình vào hoàng cung. Một ngày kia đến lượt nàng Sheherazade con viên đại thần. Quan đại thần rất buồn. Con gái khuyên cha yên tâm dẫn nàng tới hoàng cung. Sheherazade là một cô gái thông minh, có tài kể chuyện. Đêm đêm, cô kể cho vua Shahriar những chuyện về tình yêu, về chiến tranh, về những xứ xa lạ có kim cương nhiều hơn sỏi đá. (kim cương xứ này to như quả trứng), về những đô thị tráng lệ khi ấy là Bagdad, Cairo, Damascus, về những sa mạc, những hải đảo xa xôi, về loài ngựa biết bay, loài chó biết nói .v.v. Nghe kể chuyện, nhà vua rơi vào trạng thái mộng mộng, thực thực bởi “mơ được ước thấy” trong truyện cổ tích, bởi nhân vật thoắt ẩn thoắt hiện trong thế giới ảo (thiên đường, địa ngục) và thế giới hiện thực (trần gian). Truyện cổ tích lại thường bắt đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa” xa xăm và kết thúc với ”Họ sống sung sướng bên nhau tới khi tóc bạc răng long”. Nàng Sheherazade thường kết thúc buổi kể chuyện vào lúc mặt trời mọc ở đọan câu chuyện lên đến đỉnh điểm của kịch tính. Tối hôm sau nàng kể tiếp câu chuyện cho nhà vua nghe. Nhà vua mê nghe kể chuyện tới mức, luôn nóng lòng nghe đoạn kết của câu chuyện tối hôm trước,. Nhà vua mê tới mức quên mất chuyện “đem giết cô dâu sau ngày cưới một hôm”. Sau một ngàn lẻ một đêm nghe nàng Sheherazade kể chuyện nhà vua đâm ra mê luôn người kể chuyện và cưới nàng Sheherazade làm vợ. Nếu như bạn không tin là chuyện thật xin hãy tới thăm vua Shahriar và nàng Sheherazade trong hoàng cung ở Cairo, nơi có các vũ nữ múa bụng nổi tiếng điêu luyện.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.6.2016.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI

Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004