Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






ĐẠO PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO MÀ CHỈ LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

(Công trình nghiên cứu của Tâm Nguyện)






Nhiều người cho rằng khó mà định nghĩa cho chính xác về hai từ TÔN GIÁO. Nhưng theo tôi, dù định nghĩa, giải thích cách nào thì cuối cùng Tôn Giáo nào cũng có Ba thứ không thể thiếu, là GIÁO CHỦ, GIÁO PHÁP và TÍN ĐỒ.

Hầu hết các Tôn Giáo đều xây dựng Giáo Pháp nhằm tôn vinh Giáo Chủ. Theo đó, Giáo Chủ toàn quyền quyết định vận mạng cho tín đồ. Mọi sự thưởng, phạt đều do thực hành đúng hay không đúng những giáo điều đã được ban ra. Trong khi đó, xem kỹ lại toàn bộ Giáo Pháp và những việc mà Tín đồ của Đạo Phật phải thực hiện cũng như kết quả cuối cùng, thì Đạo Phật không đưa đến việc tôn vinh Giáo Chủ. Tất cả những điều cần phải thực hành không nhằm mục đích phụng sự, tôn sùng Giáo Chủ, hay vì kinh sợ bị trừng phạt, mà chỉ nhằm lợi ích cho chính người thực hiện. Cuối cùng thì người theo Đạo Phật dù được hướng dẫn bằng đủ thứ cách thức: Nói Quả Vị. Nói Niết Bàn hay các Nước Phật, Chư Phật, Chư Bồ Tát, 32 Tướng Tốt của Phật. Nói rằng tu Phật là để đắc Quả Vị, để thành Phật v.v… nhưng tất cả chỉ là phương tiện để dẫn dụ người hành trì trở thành một con người hoàn chỉnh qua những việc: Biết kính yêu cha mẹ. Yêu thương xã hội đất nước để đền trả công ân dưỡng dục, cưu mang mình. Tôn sư, trọng đạo. Giúp đỡ bạn bè và yêu thương tất cả mọi loài biết sống. Tin sâu Nhân Quả để có cuộc sống lành mạnh. Luôn giữ gìn THÂN, KHẨU và Ý để chẳng những không xâm phạm, không làm tổn hại ai bằng lời nói, hành động, mà ngay cả Ý tưởng cũng phải thanh tịnh, ngay chính. Kết quả là để người thực hành được an vui, hạnh phúc trong kiếp sống. Nếu có tái sinh cũng sẽ được về nơi tốt đẹp. Cho nên phân tích cho kỹ thì Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo, mà chỉ là một Phương Pháp giáo dục siêu đẳng cho con người bằng nhiều phương tiện mà thôi. Xin lần lượt chứng minh sau đây.

Trước hết, xin nêu ra một thí dụ điển hình cho Tôn Giáo là Thiên Chúa Giáo. Dù không có nghiên cứu sâu về Đạo này, nhưng theo tôi được hiểu thì Thiên Chúa Giáo xây dựng trên Niềm Tin. Tín đồ được dạy để tin rằng Giáo chủ của mình không phải người phàm, mà là Thượng Đế, là một trong Ba Ngôi từ trời giáng thế. Chính Ngài đã tạo ra toàn thể vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, các vì sao và trái đất, trong đó có loài người và các loại cầm thú. Ngài cũng là người cầm nắm, điều hành vận mạng, quyết định mọi sống, chết, phúc, họa, an, nguy của mọi loài. (Một sợi tóc trên đầu con rụng xuống cũng là do ý Chúa). Ông A Dam và Bà Eve là hai con người đầu tiên do Thượng Đế tạo dựng, từ đó mà sinh sôi, nảy nở cho đến nay. Tín đồ được dạy phải tôn thờ vị Giáo Chủ và hoàn toàn vâng phục “Sống chết thế nào mặc thửa ý Chúa phân định”. Giáo Pháp của Thiên Chúa Giáo thì có hai Bộ: Cựu Ước và Tân Ước để nói về những giao kết giữa Thượng Đế và con người. Giới của Thiên Chúa Giáo gồm có 10 Điều Răn của Chúa và Sáu Điều Răn Hội Thánh. Người nào biết Kính thờ Thượng Đế và yêu thương người khác, không phạm tội thì khi chết được thưởng về Thiên Đàng đời đời. Nếu phạm tội mà biết ăn năn thì sẽ được tha. Ngược lại thì bị phạt xuống Địa Ngục đời đời kiếp kiếp. Đó mới thật sự là một Tôn Giáo, vì vị Giáo Chủ tạo dựng, và toàn quyền định đoạt cho số phận của Tín Đồ. Tín Đồ chỉ việc Tin và sống theo Giáo Pháp để được ban ân khi sống và khi chết được rước về Thiên Đàng.

Trong khi đó thì Giáo Chủ của Đạo Phật là Đức Thích Ca, là một con người hoàn toàn bình thường như tất cả mọi người. Ngài là Thái Tử sắp nối ngôi, con của một vị Vua của một nước nhỏ ở Ấn Độ. Có vợ và 1 con trai. Vì thấy nỗi Khổ đè nặng trên kiếp sống của con người, nên rời bỏ ngai vàng, cung điện, vợ con để đi tìm cách GIẢI THOÁT khỏi những nỗi Khổ đó. Sự “Đắc Đạo” của Ngài không phải là học được một thứ quyền năng cao siêu để cứu cho nhân loại khỏi Khổ, mà chỉ là khám phá được nguyên nhân và cách thức để THOÁT KHỔ. Người muốn Thoát Khổ phải tự mình hành trì, không ai có thể làm giúp cho ai được, nên Đạo Phật còn gọi là TỰ ĐỘ. Sau khi thấy được cách thức thì Đức Thích Ca đã dành hẳn cuộc sống cho đến cuối đời để hướng dẫn lại cho Đệ Tử và tất cả những ai có cùng mong muốnThoát Khổ. Tất cả các việc hành trì cũng như kết quả đều được diễn ra tại cảnh sống hiện tại, không chờ đến kiếp sau. Dù vậy, nếu có kiếp sau hay cuộc đời bên kia thế giới thì do những điều tốt đẹp đã thực hiện, Tín Đồ của Đạo Phật cũng sẽ được đến những cảnh giới tốt đẹp, không bị đọa vào cảnh Khổ.

Hầu hết các Tôn giáo đều buộc Tín Đồ phải Tin vào Giáo Pháp, không được thắc mắc, vì cho rằng người phàm không đủ trí tuệ để hiểu những điều sâu xa của đấng bề trên. Trong khi đó, Đạo Phật không những không buộc tín đồ phải Tin, mà còn dạy VĂN-TƯ-TU, tức là khi NGHE điều gì đó về Đạo thì phải suy nghĩ, tìm hiểu cho rõ (TƯ DUY) rồi mới TU (SỬA hay thực hành). Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN viết: “Ngay đối với lời của Như Lai, nếu có lòng nghi ngờ thì cũng không nên thọ trì”.

Đạo Phật cũng không nói về Thượng Đế, Thần Linh. Không hứa hẹn thưởng, phạt, mà cho rằng mỗi người tự làm, tự hưởng hay chịu kết quả việc của mình đã làm theo một quy luật gọi là NHÂN QUẢ. Giáo Pháp của Đạo Phật cũng chỉ để hướng dẫn cho con người cách nhận thức, ứng xử, để giải quyết cuộc sống hiện tại một cách tốt đẹp, đưa đến an vui, hạnh phúc. Không chỉ có thế, chính nhờ được khuyên không Làm Ác, chỉ Hành Thiện, nên kiếp sau nếu có, lại càng tốt đẹp hơn lên. Do mỗi người được tự thực hành để đạt đến kết quả nên gọi là TỰ ĐỘ. Do dùng Lý Nhân Quả để hướng dẫn cho tín đồ, nên Đạo Phật còn được gọi là ĐẠO NHÂN QUẢ.


Giáo Lý của Đạo Phật.

Đạo Phật ra đời do nhìn thấy những nỗi đau khổ Sinh, Lão, Bệnh, Tử đè nặng trên cái Thân của con người. Đạo Phật cho rằng cuộc đời là KHỔ. Có Thân là có Khổ. Nhưng đã có mặt ở cuộc đời rồi thì dù muốn dù không cũng phải sống cho đến hết kiếp. Vì thế, Giáo Pháp của Đạo Phật giải thích về Nỗi Khổ của kiếp sống, và đưa ra cách thức để giải quyết: Làm thế nào cho con người sống giữa cảnh Khổ mà không bị nó hành hạ nữa. Được như HOA SEN, sinh trưởng, tàn lụi trong Bùn mà không bị Bùn làm cho nhiễm ô.

Nhưng không phải Thoát Khổ bằng cách cầu xin Phật cứu cho, mà Đạo Phật chỉ cho con người cách thức để nhận biết sự thật về Bản Thân, về cuộc đời, về Các Pháp, để tìm cách giải quyết.

Theo Đạo Phật, trong cuộc sống, các pháp luôn có liên quan, chuyền níu, tác động đến mỗi con người. Vì vậy, muốn Thoát Khổ người tu được dạy cho phân tích rõ về Thân, Tâm, về Các Pháp, về Kiếp sống. Khi thấy được từng món rõ ràng thì cũng học được cách để đối trị. Kết quả cuối cùng của việc tu Phật không phải là Quả Vị, là được thành Thần Linh hay thành Thánh, mà là Thành Phật. “Thành Phật” không phải là thành một vị Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ngồi trên Tòa Sen để cứu nhân độ thế, mà chỉ có nghĩa là “Thành Tựu công việc Giải Khổ” cho bản thân. Đức Thích Ca đã làm được điều đó và để lại con đường cho tất cả những ai muốn Thoát Khổ như Ngài. Tất cả mọi người đều có thể Thành Phật được nên Ngài dạy: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”.


MỤC ĐÍCH TU PHẬT

Tu Phật không phải là để phụng thờ, phục vụ cho Phật, hay kêu gọi thêm nhiều người Quy Y theo Phật, mà là để được THÀNH PHẬT. Dù là Đức Thích Ca, Chư vị Giác Ngộ trong quá khứ, hay người thời nay và muôn vạn đời sau, khi thành tựu thì cũng bằng nhau: “Phật trước Phật sau đều bình đẳng”, vì những hiểu biết, việc làm, kết quả đạt được đều giống như nhau. TU nghĩa là SỬA. Sửa không phải là thay đổi hình tướng, cách thức ăn mặc cho giống Phật, mà là SỬA những hiểu lầm đã gây ra nỗi KHỔ đến với mỗi người trong kiếp sống. Do đó, bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác, giới tính, giai cấp, trình độ, dù ở thời Quá Khứ, hay Hiện Tại, Vị Lai, nếu theo đúng Giáo Pháp của Đạo Phật mà hành thì đều là sẽ được Giải Thoát như nhau. Vì thế, gọi là có TAM THẾ PHẬT. Tức là Quá Khứ đã có những vị tu hành thành công. Hiện tại, người tu hành đúng cũng thành công. Tương lai cũng thế. Do con đường Tu Phật cuối cùng là đi đến kết quả THOÁT KHỔ, nên Đạo Phật còn được gọi là ĐẠO ĐỘ KHỔ.

Giáo Chủ của Đạo Phật là ĐỨC THÍCH CA không bao giờ muốn mình là ngôi vị tối thượng, là độc tôn để tín đồ phải tôn thờ mình. Trái lai, muốn tất cả mọi người đều bình đẳng như mình. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA có Kệ:

XÁ LỢI PHẤT NÊN BIẾT

TA MUỐN TẤT CẢ CHÚNG

BẰNG NHƯ TA KHÔNG KHÁC”

Và chính lời Thọ Ký: “TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH. TẤT CẢ CHÚNG SINH LÀ PHẬT SẼ THÀNH” là một minh chứng cho điều mong mỏi đó.

Điều kiện cần có để Thành Phật là THẤY TÁNH. Tổ Đạt Ma còn nhấn mạnh thêm: “Nếu Thấy Tánh thì Chiên Đà La cũng Thành Phật được”. “Thấy Tánh” cũng không phải là thấy trước việc nọ việc kia, hay có được một phép màu hay thần thông cao siêu nào, mà chỉ là nhận ra được Bản Thể thật sự của mình mà thôi.


PHẢI Ở ĐÂU MỚI TU ĐƯỢC?

TU chỉ có một nghĩa là SỬA. Vì thế, ai chấp nhận làm công việc đó thì gọi là đang TU. Bất luận hình tướng, giới tính, nơi ở. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “CÕI NƯỚC CHỖ NÀO NẾU CÓ NGƯỜI THỌ TRÌ, ĐỌC TỤNG, GIẢI NÓI, BIÊN CHÉP, Y PHÁP TU HÀNH. HOẶC LÀ CHỖ CÓ QUYỂN KINH, HOẶC TRONG VƯỜN, HOẶC TRONG RỪNG, HOẶC DƯỚI CÂY, HOẶC TĂNG PHƯỜNG, HOẶC NHÀ BẠCH Y, HOẶC ĐIỆN ĐƯỜNG, HOẶC NÚI HANG ĐỒNG TRỐNG, TRONG ĐÓ ĐỀU NÊN DỰNG THÁP CÚNG DƯỜNG.

VÌ SAO? PHẢI BIẾT CHỖ ĐÓ CHÍNH LÀ ĐẠO TRÀNG. CÁC ĐỨC PHẬT Ở ĐÂY MÀ ĐẶNG VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. CÁC ĐỨC PHẬT Ở ĐÂY MÀ CHUYỂN PHÁP LUÂN. CÁC ĐỨC PHẬT Ở ĐÂY MÀ NHẬP NIẾT BÀN”.


THẾ NÀO LÀ PHẬT

và CÁCH THỨC TU HÀNH ĐỂ THÀNH NHƯ LAI

Tu Phật là để được THÀNH PHẬT, thành NHƯ LAI. Kinh viết: “ĐÂY LÀ PHƯƠNG TIỆN ĐẦU TIÊN TU HÀNH CỦA HÀNH GIẢ, TỨC LÀ BA PHÁP QUÁN. NẾU CÁC CHÚNG SANH TINH TẤN, SIÊNG TU BA PHÁP QUÁN NÀY ĐƯỢC HOÀN TOÀN TỨC LÀ NHƯ LAI XUẤT HIỆN Ở THẾ GIAN VẬY”. Ba Phép Quán tức là CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU.

Thành Phật cũng là thành NHƯ LAI, Nhiều người đã cho rằng NHƯ LAI là PHẬT TỔ NHƯ LAI, quyền năng tối thượng, cứu vớt, ban ân, giáng phúc cho mọi người. Phàm phu không bao giờ có thể trở thành Đức Như Lai được. Họ không biết rằng từ NHƯ LAI chỉ để giải thích tình trạng KHÔNG KHỞI khi đối pháp của người đã đạt được cái hiểu về sự bình đẳng của vạn pháp. Nhờ hiểu được vạn pháp bình đẳng, họ không khinh, không trọng, không yêu, không ghét, không chấp, không bỏ, không khởi Tham lam, Sân hận, Si Mê đối với các pháp. Không sinh những TÀ TÂM, Ác Ý, vì thấy CÁC PHÁP ĐỀU NHƯ, nên gọi là NHƯ LAI. Tất cả mọi người, mọi thời đều có thể đạt được địa vị này bằng cách tu hành. Đạo Phật không hề dấu diếm để truyền riêng, mà tất cả đều được chỉ rõ trong Kinh.

Kinh VIÊN GIÁC giải thích về NHƠN ĐỊA TU HÀNH CỦA CÁC ĐỨC NHƯ LAI. Đó cũng là phương pháp mà TAM THẾ PHẬT đều y theo đó mà tu hành, thành Phật như sau:


THIỀN ĐỊNH

Ai vào Đạo Phật thì cũng biết Đức Thích Ca “Đắc Đạo” nhờ 49 ngày đêm Thiền Định. Mục đích của THIỀN ĐỊNH không phải chỉ để đạt được sự tĩnh lặng, mà là để sinh TRÍ HUỆ, tức là sự sáng suốt để đưa đến thành tựu cho con đường tu hành. Nhưng nếuTHIỀN ĐỊNH mà thiếu Quán Soi thì không thể sinh TRÍ HUỆ. Vì vậy, THIỀN của Đạo Phật gọi là THIỀN QUÁN hay THIỀN MINH SÁT. Để giải thích thế nào là THIỀN, Kinh VIÊN GIÁC có Kệ:

BIỆN ÂM ÔNG NÊN BIẾT

CÁC TRÍ HUỆ THANH TỊNH

CỦA TẤT CẢ BỒ TÁT

ĐỀU DO THIỀN ĐỊNH SANH

THIỀN ĐỊNH LÀ “CHỈ”, “QUÁN”

VÀ “CHỈ, QUÁN, SONG TU

BA PHÁP, PHÂN ĐỐN, TIỆM

THÀNH RA HAI MƯƠI LĂM

MƯỜI PHƯƠNG CÁC NHƯ LAI

VÀ HÀNH GIẢ BA ĐỜI

ĐỀU Y PHÁP MÔN NÀY

MÀ THÀNH ĐẠO BỒ ĐỀ

THIỀN ĐỊNH cũng là CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU. Ba Đời Chư Phật đều y theo ba pháp này để thành Đạo Bồ Đề. Nhưng tại sao bao nhiêu đời rồi, có biết bao nhiêu người đã hành các pháp này mà không thấy có người Thành Phật?

Xin trả lời: Đó là do người sau đã NGỒI THIỀN không đúng cách. Quán, Soi không đúng pháp.

Đúng như thế. Nếu ai có nghiên cứu về THIỀN thì đều biết rằng dù cùng dùng hình thức NGỒI THIỀN giống nhau, nhưng do điều động hơi thở, ý thức mà cho ra nhiều kết quả khác nhau: Phái Yoga thì dùng Thiền để khai mở Luân Xa. Khí Công thì dùng Thiền rồi điều khiển hơi thở để trị bệnh. Phái Xuất Hồn thì dùng Thiền để Xuất Hồn. Do đó, người muốn THIỀN ĐỊNH cho có kết quả theo Đạo Phật thì có ba vấn đề phải khai thông trước lúc NGỒI THIỀN.

1. Phải biết thời xưa Đức Thích Ca đã Ngồi như thế nào?

2. Ngài làm gì trong lúc NGỒI THIỀN?

3. Pháp mà Ngài đã chứng đắc là gì?

Nếu chưa giải mã được 3 điều này thì dù có Ngồi Thiền 24/24 kiếp này sang kiếp khác cũng vô ích mà thôi. Đó là lý do khiến bao nhiêu đời nay có biết bao nhiêu người cũng Ngồi Thiền miên mật mà không có mấy người “Đắc Đạo” như Đức Thích Ca.

Thắc mắc thứ nhất thì ai cũng trả lời được, và bao nhiêu thời qua, biết bao nhiêu Tông, Phái, cá nhân đều Ngồi giống y như Phật đã Ngồi. Thiền Viện, Thiền Đường mọc lên như nấm, khắp thế giới hầu như nước nào cũng có. Nhưng sở dĩ không có người Thành Phật là vì chưa giải mã được 2 vấn đề mấu chốt thứ 2 và thứ 3.

Lý do là do Kinh sách không nói rõ là Đức Thích Ca đã làm gì khi NGỒI THIỀN nên đa phần người Ngồi Thiền chỉ làm đúng phần hình tướng, không biết phải làm gì trong lúc Ngồi. Do đó sẽ có một số hiện tượng diễn ra khi Ngồi Thiền:

1. Ngồi Sững ở đó.

Trong Kinh DUY MA CẬT cũng có viết về Ngài XÁ LỢI PHẤT Ngồi Thiền mà bị Ngài Duy Ma Cật quở trách, vì: “Ngồi Thiền không phải là ngồi sững ở đó”.

2. Thả tư tưởng rong chơi.

Có nhiều người cũng NGỒI THIỀN, cũng khoanh chân, khoanh tay, mắt khép hờ, nhưng thả tư tưởng rong chơi khắp nơi. Nhưng ngồi đó mà nhớ đủ thứ việc, tơ tưởng tới đủ thứ người. Như vậy họ chỉ ngưng nghỉ cái THÂN, còn tư tưởng thì đâu có ngưng nghỉ?

3. Ngủ ngồi.

Có người NGỒI THIỀN rồi dứt bặt tư tưởng. Họ giống như người ngủ sâu, không biết không hay gì tới những gì diễn ra chung quanh. Đó là NGỦ NGỒI, không phải là NGỒI THIỀN?

4. Thấy vào các Cõi.

Có người NGỒI THIỀN thì cái Thức thế gian không còn hoạt động thì mở ra các Cảnh Giới vô hình. Họ thấy mình gặp Quỷ, gặp Ma, gặp Thánh, Thần, Bồ Tát. Thấy đến cảnh non bồng nước nhược, gặp tiên Ông, Tiên Bà… như vậy khác nào đi xem phim? Xả Thiền ra cũng đâu có hiểu biết thêm điều gì về Đạo Phật?

5. Dùng Thiền Định để Khai Công Án.

Có người NGỒI THIỀN để khai các CÔNG ÁN. Họ nhận một Công Án tức là một Đề Tài của người Thầy, hay tự mình lấy một đề tài nào đó để Tham trong thời gian NGỒI THIỀN. Có người thì Tham chữ VÔ. Có người thì Tham câu “Ai Niệm Nam Mô A Di Đà Phật”. Có người thì Tham “Tổ Sư Tây Lai Ý”… là những Công Án nổi tiếng từ xưa.

Tất nhiên Tham điều gì thì thấy điều đó. Tham chữ VÔ thì gặp chữ VÔ. Tham Tổ Sư Tây Lai Ý thì hiểu về cái Ý của Ngài khi sang Tây. Những điều đó đâu có liên quan gì đến sự Đắc Đạo của Đức Thích Ca?

Muốn biết Đức Thích Ca đã làm gì trong khi NGỒI THIỀN, ta có thể mở lại lịch sử tu hành của Ngài để thấy ghi rõ:

Sau nhiều ngày đêm Thiền Định, thì rạng sáng ngày thứ 49 Đức Thích Ca Đắc Đạo nên xả Thiền, đứng dậy rồi tuyên bố “Ta lang thang trong vòng Luân Hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp Kẻ Làm Nhà. Hỡi kẻ làm nhà, từ đây ta đã gặp được người rồi. Người không được xây nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã tan nát cả rồi, rui mè của ngươi cũng nát vụn cả rồi. Tâm trí ta đã đến vô thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn giải thoát”.

Như vậy, từ kết quả, ta truy ngược sẽ thấy là Đức Thích Ca lúc Ngồi Thiền không có ngồi một cục, cả Thân và Tâm đều ngưng hoạt động. Trái lại, giờ THIỀN ĐỊNH đó Ngài nhiếp niệm để truy lùng THỦ PHẠM ĐÃ XÂY NGÔI NHÀ SINH TỬ. Cuối cùng Ngài đã tìm gặp được thủ phạm cũng như khống chế được hắn không cho xây nhà Sinh Tử nữa thì gọi là Đắc Đạo. Do đó, THIỀN của Đạo Phật được Chính Kinh ghi rõ là THIỀN QUÁN hay THIỀN MINH SÁT. Có nghĩa là khi hành giả NGỒI THIỀN là ngưng nghỉ mọi hoạt động của Lục Căn. Dừng lắng mọi vọng niệm mà QUÁN SOI về mục đích của của Đạo Phật. Mục đích tu Phật là để được GIẢI THOÁT hay để Thoát Khổ. Muốn THOÁT KHỔ thì phải biết đâu là nguyên nhân? Cách thức để Giải Khổ. Khi THẤY được thì gọi là Gặp, khám phá được, hay là Đắc Đạo. Chỉ đơn giản như thế. Nhưng nhiều thời rồi, do kinh sách không chỉ rõ nên người đi sau mất phương hướng.


VỀ THÂN VÀ TÂM

Tu Phật thì không ngoài Thân và Tâm, không phải ở nơi nào khác. Vì thế, người tu Phật cần tập trung ở hai nơi này.

Đạo Phật cho rằng con người gồm có 2 thành phần:

1.Phần HỮU TƯỚNG, tức là CÁI THÂN thịt mà ta đang mang. Thân này do Tứ Đại hợp thành. Sở dĩ nó có mặt ở kiếp sống này là để TRẢ những gì đã gieo ở kiếp trước. Khi nó dứt Nghiệp thì sẽ trả về cho Tứ Đại những gì đã vay mượn.

2. Phần VÔ TƯỚNG hay còn gọi là Thần Thức, Linh Hồn hay bên Tiên Đạo thì gọi là Tiểu Linh Quang. Bên Đạo Phật cho rằng Cái này Thường Còn, thanh tịnh, không nhơ, không sạch, không ô nhiễm, không Sinh, Không Tử.

Cái Thể xác hữu tướng đã Sinh thì phải Tử. Phần Thần Thức thì các Tôn Giáo khác cho rằng sẽ về với Chúa hay Thượng Đế để được ban thưởng hay chịu phạt.

Đạo Phật gọi phần Vô Tướng là THẦN THỨC, CHÂN TÁNH hay là BỔN THỂ TÂM, và cho rằng cái đó mới là CÁI TA THẬT SỰ, ở chung với cái TA GIẢ TẠM, tức cái THÂN PHÀM. Trong quá khứ, cái CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH, do MÊ lầm mà hướng dẫn cho cái Thân Giả Tạo Nghiệp, nên sau khi Thân Giả hết Nghiệp, tan rã thì lại phải nhận một cái Thân mới để trả. Tùy theo Nghiệp đã làm mà vòng quanh trong Lục Đạo, hết kiếp này sang kiếp khác gọi là Luân Hồi. Cho đến bao giờ tỉnh ngộ, nhận ra cái TA thật, thì mới hết Sinh Tử Luân Hồi, vì lúc đó không còn hành động trong mê lầm nữa, mà sáng suốt tự làm chủ mọi hành vi của mình.

Khi vào Tu Phật thì người tu được dạy cho Soi, Quán để tìm cái TÂM MÊ. Thấy được nó rồi thì phải hàng phục nó. Công việc hàng phục Vọng Tâm gọi là tu hành. Do vậy, Tu Phật không phải là Sửa Tướng cho nghiêm trang. Đầu phải tròn, áo phải vuông, phải Ăn chay, tụng Kinh, Niệm Phật, mà việc quan trọng phải làm chính là TÌM cho được cái VỌNG TÂM, rồi chuyển nó thành CHÂN TÂM, gọi là BIẾN MÊ thành NGỘ. Chính vì vậy mà Tu Phật được gọi là TU TÂM. “Giải Thoát hay ràng buộc cũng chỉ nơi cái Tâm”. Vì thế, Tổ Đạt Ma dạy: “Muốn tìm Phật thà tìm Tâm”.


TƯ DUY hay CHỈ, QUÁN và THỰC HÀNH

Kinh Tâm Địa Quán viết: “Các vị còn trong phàm phu địa, không quán được Tâm, nên phải trôi giạt trong bể Sinh Tử. Chư Phật, Bồ Tát vì Quán được Tâm, nên qua được bể Sinh Tử, đến bờ Niết Bàn”. Muốn Quán được TÂM thì không thể nào không TƯ DUY. Để Tư Duy cho có hiệu quả thì phải Chỉ, sau đó mới Quán.

CHỈ tức là dừng lắng mọi ý nghĩ, không cho nó chạy lăng xăng, để tập trung mà QUÁN. Quán cũng có một nghĩa khác là TƯ DUY. Tư Duy không phải là suy nghĩ để tìm xem Cảnh Giới của Phật ở đâu? Làm thế nào để đến đó. Kinh LĂNG NGHIÊM DẠY: “Gút ở đâu thì mở ở đó”. Gút của người đi theo con đường của Đạo Phật là mong mỏi được THOÁT KHỔ. Do đó, muốn Mở Gút KHỔ thì phải đi tìm nguyên nhân, gốc gác của nó.

Cũng theo Đạo Phật, cái KHỔ dính liền với CÁI THÂN, “CÓ THÂN LÀ CÓ KHỔ”. “THÂN là GỐC KHỔ”, vì thế, người tu sẽ được hướng dẫn quan sát CÁI THÂN và những gì đang diễn ra quanh nó để thấy hết những nỗi Khổ nào đang vây quanh nó, và cách thức để hóa giải. Do đó mà TỨ DIỆU ĐẾ là bài học căn bản, phân tích về những Nỗi Khổ diễn ra trong cuộc sống, để đưa đến kết luận là: chỉ có ĐẠO ĐẾ mới đưa con người đến Thoát Khổ mà thôi.

Tất nhiên muốn chuyển hướng từ nhận thức này sang một nhận thức khác không phải là điều đễ dàng. Người tu cũng không thể nhắm mắt cứ theo lời dạy bảo của Phật hay của Thầy, cũng không thể giữ nguyên nếp sống cũ, mà cần hạn chế cái Thân, không cho nó tự do, bừa bãi theo nhu cầu của Lục Căn như trước, nên 3 căn bản đầu tiên không thể thiếu là GIỚI - ĐỊNH - HUỆ.

Có GIỚI, ĐỊNH thôi thì chưa đủ, mà phải nghe lời giảng giải của người đi trước đã biết rõ đường lối để hướng dẫn cho. Hoặc đọc những gì Chư Tổ khai triển lời Phật dạy, và Tư Duy để có sự hiểu biết sáng suốt theo chiều hướng Đạo gọi là TRÍ HUỆ. Do vậy, có thêm 3 Căn Bản nữa, gọi là VĂN-TƯ-TU.

Song hành với VĂN-TƯ-TU người tu không thể giữ nếp sống cũ, mà cần sống theo TÁM CON ĐƯỜNG CHÂN CHÁNH mà Đức Thích Ca đã đặt ra. Để hỗ trợ cho việc tu hành. Đó là: CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM và CHÁNH ĐỊNH.

Để có cái CHÁNH KIẾN thì cần phải có sự TƯ DUY chân chánh nên gọi là CHÁNH TƯ DUY. Người đã có sự hiểu biết chân chánh thì biết tự trọng cũng như tôn trọng người khác nên không thể nói láo, nói thêm, bớt, nói để khen mình, chê người, gọi là CHÁNH NGỮ. Không sinh ra Tà Niệm. Không thể hành Tà Nghiệp. Không thể nuôi mạng bằng những phương tiện thiếu chân chánh. Siêng năng hành theo các hướng đó gọi là CHÁNH TINH TẤN.

Phân tích ra thì ta thấy:

CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG thuộc về THÂN.

CHÁNH NGỮ thuộc về KHẨU.

CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH thuộc về Ý.

CHÁNH TÍNH TẤN cho cả ba.

Tóm lại, TÁM CON ĐƯỜNG CHÁNH này nhằm kiềm chế THÂN, KHẤU và Ý cho nó không còn nghĩ Ác, hành ÁC. Đó là là Tám cách sống mà người tu Phật dù đã Chứng Đắc rồi nhưng suốt vô lượng kiếp vẫn phải đi trên đó.


THUYẾT CÓ, KHÔNG

Muốn thực hành cho đúng thì trước hết phải có cái LÝ đúng. Đạo Phật cho rằng sở dĩ con người phạm nhiều sai lầm, tạo nhiều Ác Nghiệp là vì:

1. Không biết hậu quả điều mình làm.

2. Không biết gì về kiếp sống, về cuộc đời.

Do không biết tại sao mình lại có mặt ở cuộc đời? Sống để làm gì? Chết sẽ về đâu, nên mọi người lầm lũi sống, lầm lũi mà Tạo Nghiệp. Vì vậy, khi vào tu, Đạo Phật dạy mọi người phải tìm hiểu về Cái Thân của con người, về Kiếp sống, để thấy rằng sở dĩ ta cắm cúi sống và chấp nhận mọi điều khổ, vui đến với Ta, vì cho rằng là cái THÂN là TA. Cuộc đời là THẬT, ngoài ra không thắc mắc, tìm hiểu thêm. Người CHẤP như thế Đạo Phật gọi là người CHẤP CÓ.

Cái lý thuyết Các Pháp là thật CÓ hay KHÔNG có cũng làm cho cuộc sống của người Chấp bị đảo lộn. Người CHẤP CÓ thì tranh giành mọi thứ với cuộc đời, sinh ra THAM, SÂN, SI khi không dành được. Khi tranh dành bất chấp thủ đoạn lại tạo ra ÁC NGHIỆP, làm xáo trộn cuộc sống của bản thân và của mọi người chung quanh. Làm xã hội rối loạn. NGƯỜI CHẤP KHÔNG thì bỏ hết tất cả, sống như kẻ vô hồn. Hàng ngày vẫn hưởng dụng mọi thứ vật chất mà cho rằng KHÔNG, nên không thiết tham gia mọi việc đời, không tiếp tay với xã hội để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên. Do đó cuộc sống của họ thành phí phạm và mâu thuẫn với những gì đã nói, cũng như không thực hiện đúng lời dặn dò của Đức Thích Ca, là phải đền TỨ ÂN. Nếu ta chỉ vô Chùa để tu hành thì rõ ràng ta chỉ đền được Ấn Phật, còn Ân Phụ Mẫu, Ân Chúng Sinh, Ân Đất nước làm sao đền? Phật cũng chỉ là người bình thường, nhờ tu hành, đắc đạo mà được Giải Thoát, đâu có phải là Thần Linh để ta cầu nguyện Ngài phù hộ cho đất nước, cho cha mẹ để thay cho việc Báo Ân? Chính Ngài dặn ta phải đền Tứ Ân, đâu có kêu ta cầu xin Ngài vì Ngài đâu có quyền phù hộ cho ai. Nếu phù hộ được hẳn Ngài đã dặn dò rồi. Có lẽ mọi người nên xem lại khoảng này để khỏi sai lạc tôn chỉ của đạo Phật.

Hơn hữa, nếu nói rằng “tất cả đều là KHÔNG” thì lẽ ra cũng không có Phật, không có họ, không cả ăn, uống, sống, chết mới đúng! Đàng này họ vẫn phải sống, vẫn xây Chùa, đúc Tượng, vẫn chiêu mộ tín đồ, vẫn tổ chức lễ nọ lễ kia, cầu An, cầu Siêu… thì Không chỗ nào?!


(còn tiếp)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 18.6.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004