Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







KỲ THỨ 4


Đoạn I .- VĂN CHƯƠNG NAM BỘ TỐ CÁO THỰC CHẤT CAI TRỊ

CỦA NGƯỜI PHÁP Ở VIỆT NAM.


Giai đoạn nầy chiến tranh đã khốc liệt, tình hình biến đổi không ngừng, văn nghệ phải chạy theo thời đại nên nhà văn không thể đi vào những vấn đề trừu tượng, mơ hồ, chỉ ích lợi về mặt lý thuyết. Họ, trái lại nhắm vào những điều cụ thể, đánh thẳng vào tâm trí người đọc. Chiêu bài của Pháp, người viết văn lúc đó cũng thấy, cũng biết nhưng họ không đi vào chi tiết. Họ chỉ nói một cách khẳng định: không thể tin được rằng trên thế giới nầy lại có một hạng người cơm ghe bè bạn dấn mình vào xa xăm, nguy hiểm vì quyền lợi của người khác.

Ông Phan Hữu nói một cách quả quyết: Chúng ta có thể tin được rằng thực dân đã phải vượt trùng dương lao mình vào những số mệnh xa lạ, chiếm những đất xa xôi để bảo vệ cho một bọn người truyền giáo hay để giáo hoá cho những dân tộc mà họ gọi là dã man không? Hẳn là không. Luận điệu giả dối đó, ngày nay không thể lừa nổi một đứa con nít (Phan Hữu - Việt Nam, một nền kinh tế tương lai - Ngày Nay - Saigon - 1947, trang 9,10.) .

Có thể ta không bằng lòng cách thế diễn tả của ông. Ông không chứng minh, không vạch cho người đọc biết tại sao không thể tin những điều người Pháp đưa ra. Nhưng bao nhiêu đó đủ rồi, thời này trước mặt người đọc có tiếng súng, sau lưng thần chết rình mò, sự xác định đó tự nó đã đầy đủ, lý luận, biện giải chỉ cần thiết đối với những người sống xa thời gian xảy ra cuộc chiến tranh Việt Pháp, những người sống ở giai đoạn này đã có hành động cụ thể của người Pháp thay cho lý luận.

Do đó, thời này chúng ta gặp rất nhiều lời tố cáo thực chất cai trị của người Pháp ở Việt Nam.

Đi theo nguyên tắc căn bản: không có nước nào hành động vì nước khác, Lý Văn Sâm trong vở kịch Nham hiểm đã cho nhân vật Trương Phụ tự thú nhận lý do hắn kéo quân sang Việt Nam: Chẳng lẽ kéo binh sang dẹp loạn... rồi kéo binh suông về chính quốc, phải được một phần thưởng gì xứng đáng để đáp lại công khó nhọc của mình1. Phần thưởng đó nằm trong việc tự do vơ vét kho tàng của Việt Nam, tự do khai thác tài nguyên của quốc gia đang bị Trương Phụ giày xéo.

Năm 1949 phong trào văn chương tranh đấu đã lớn mạnh, Lý Văn Sâm viết kịch lịch sử không phải muốn nói về trường hợp Trương Phụ và nước Trung Hoa xưa; điều này vô ích lúc chiến tranh Việt Pháp đang diễn ra, ông muốn nói đến các quan lại cai trị người Pháp và thâm tâm của chánh phủ Pháp khi cho quân trở lại Việt Nam.

Thâm tâm đó được cụ thể hoá bằng tài sản của Pháp ở Việt Nam mà tác giả Tuấn Anh đã nhắc đến trong bài Văn tế thực dân :

Vườn cao su chó chạy ngay đuôi...

Ruộng bắp lúa cò bay thẳng cánh...

Túi tham tóm thâu ruộng đất...

Lòng trục lợi gom góp tiền tài... .2

Tài sản của thực dân ở Việt Nam không phải tạo dựng được vì người Pháp có tài kinh tế, cũng không phải họ mang từ chính quốc sang mà có được bởi vì sử dụng quyền thế, làm đủ cách để thu mối lợi về mình, nói theo Thiếu Sơn: Họ bóc lột với tất cả sự ủng hộ của chánh phủ, của luật pháp 3.

Có chánh phủ và luật pháp trong tay, người Pháp bóc lột dân tộc Việt Nam bằng những phương sách bỉ lổi xấu xa nhưng đúng pháp luật.


a) Dựa vào chánh quyền và luật pháp bóc lột bằng sự cưỡng bách dân Việt tiêu thụ rượu và sản xuất á phiện.


Để phục vụ quyền lợi của tư bản Pháp, chánh quyền đô hộ đã hy sinh sức khoẻ của dân tộc Việt Nam bằng sự cưỡng bách dân chúng Việt Nam phải tiêu thụ rượu, mỗi người mỗi tháng phải mua một số rượu nhất định do công ty Pháp dưới sự yểm trợ của nhà nước sản xuất, dĩ nhiên giá rượu do công ty định và chỉ có công ty độc quyền trong việc sản xuất thứ nước tai hại này.

Năm 1934 thông cáo của nhà cầm quyền Bắc Kỳ có đoạn: Từ nay mỗi người dân ghi tên trong sổ bộ đời đều phải tiêu thụ 7 lít, làng nào không tiêu thụ số đã định sẽ coi như nấu rượu lậu và hương chức sẽ bị phạt. Làng nào cũng phải mua một số rượu tính ra cứ 7 lít một tên dân và phải đóng trọn số tiền về số rượu phải mua ấy 4. oàng Cao Khải - Gương nước Nam - Nhà in DuòurHoangf

Với thông cáo trên của nhà cầm quyền, sự bóc lột của công ty rượu đã trở thành một điều hợp pháp, việc mua rượu không còn là hành vi tự do của người dân mà trở nên một nghĩa vụ như nghĩa vụ đóng thuế, phải đi lính...Đó là chúng ta chưa kể bọn tư bản Pháp thực hiện điều này đã gây nên sự tàn hại ghê gớm về sức khoẻ và tinh thần người dân Việt cũng như giết chết các tư gia sản xuất nho nhỏ trước đây sống về nghề nấu rượu như một tiểu công nghệ gia đình.

Không những chỉ có rượu, dân ta còn bị bắt buộc phải trồng á phiện nữa. Dĩ nhiên người Việt chỉ có việc trồng, còn công việc sản xuất bán lấy lời đã có người Pháp lo. Họ thực hành dưới sự yểm trợ của chánh quyền cai trị.

Châu tri SAE ngày 22-7-1942 của Thống Sứ Bắc Kỳ gởi cho các Công Sứ các tỉnh Thượng Du căn dặn:

... Phận sự các ông tóm tắt như sau:

- Khuyến khích việc trồng á phiện,

- Trông nom mùa hái trái thẩu và biết rõ châu vi những đất trồng được á phiện.

- Bài trừ sự buôn bán á phiện lậu 5.

Cuối cùng, người Pháp nhờ chánh quyền và luật lệ đã làm giàu, một sự làm giàu dựa trên xương máu người Việt, tạo không biết bao nhiêu tệ hại cho dân chúng: sồ người nghiện ngập tăng gia tăng. Những người Pháp không chú ý đến điều đó, họ chỉ chú ý đến lợi lộc của họ.

Một tờ báo xuất bản năm 1948 đã tố cáo: Trong khi kinh tế khủng hoảng, dân chúng Việt Nam thiếu áo bận, mà vẫn có từng lũ xe cam nhông vải chở sang Ai Lao để đổi lấy á phiện đem về cho dân hút 6.


b)- Dựa vào chánh quyền và luật pháp để thủ lợi về kinh tế.


Với chủ trương khai thác nước Việt Nam, bọn thực dân Pháp đã tận dụng quyền hành của mình để mưu lợi về kinh tế. Tổng quan, họ đồng thời áp dụng bốn phương cách:

* Bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam.


Với những luật lệ khắt khe, người Pháp cấm đoán việc thực hiện các cơ sở kinh tế của người Việt Nam. Nói cách khác, những nhà máy sản xuất phải do người Pháp làm chủ, do người Pháp điều hành. Người Việt Nam có tư bản tiên đoán được tình trạng khả quan của việc sản xuất muốn đầu tư vào kỹ nghệ sẽ không được chánh quyền cấp giấy phép và các nhà máy chế tạo của người Pháp sẽ độc chiếm thị trường.

Trong quyển Việt Nam, một nền kinh tế tương lai ông Phan Hữu đã tố cáo: Người Pháp bóp nghẹt nền kinh tế Việt Nam để thu hết lời về chúng 7.


* Độc quyền ở các ngành khai thác.


Bị bóp nghẹt về kỹ nghệ, người Việt Nam muốn khai thác đồn điền (trà, cà phê, cao su...) cũng không được, chánh quyền Pháp dựa lý do này, lý do kia để cấm đoán. Họ giành độc quyền khai thác các nguồn lợi vô tận này không ngoài mục đích tạo điều kiện để hưởng lợi thật nhiều. Nếu chỉ nhìn các đồn điền bát ngát do người Pháp khai khẩn, những hầm mỏ rầm rộ sản xuất dưới sự điều khiển chuyên môn của các kỹ sư Pháp, ta có thể tưởng công trình của chánh phủ Pháp ở thuộc địa rất tốt đẹp, nhưng thật ra, theo ông Phan Hữu: Họ mở mang công trình trồng tỉa không phải làm lợi cho ta, nhưng là để vơ vét đầy túi ( trồng lúa để họ xuất cảng, trồng cao su để họ bán...). Họ khai thác mỏ để thu lợi một mình. Mỉa mai hơn...chỉ vì những mỏ đó họ không thể bỏ túi để đem đi 8.


* Dùng hàng rào quan thuế để tăng giá hàng chánh quốc.


Không chỉ tố cáo sự độc quyền của người Pháp ở mặt khai thác và kỹ nghệ, ông Phan Hữu còn vạch trần cho chúng ta thấy người Pháp đã bóc lột giới tiêu thụ bằng thủ đoạn tân kỳ: lập hàng rào quan thuế ở Việt Nam đối với các nước đệ tam để bảo vệ giá hàng của chánh quốc: Bị đánh thuế quá nặng, hàng nước ngoài không thể đem vào nữa...trong khi đó hàng của thực dân một mình chiếm thị trường 9. Người tiêu thụ Việt Nam bị bắt buộc phải tiêu thụ hàng của Pháp - với giá do họ toàn quyền ấn định - bởi vì không có cách nào khác hơn.


* Tước đoạt quyền ngoại thương của người Việt.

Độc quyền, bảo vệ hàng chánh quốc...người Pháp đã bóc lột kinh tế của người Việt Nam khá nhiều. Nhưng họ vẫn chưa bằng lòng với bao nhiêu đó. Có thể một vài người Việt Nam làm giàu được nhờ mua lại các hàng hoá trong xứ để xuất cảng sang ngoại quốc, công việc này có vẻ dễ dàng nên chánh quyền Pháp đã ra nghị định cấm người Việt Nam xuất cảng hơn 20% tổng số hàng xuất cảng. Nhờ điểm tựa chánh quyền và pháp luật này, các hảng buôn Pháp đứng trung gian hưởng lợi vì các nhà xuất cảng bổn xứ đã bị tước đoạt mất đi một phần quyền ngoại thương. Tác giả Hồ Thu đã chua chát tố cáo điều đó trên nhật báo Gió Mới năm 1948: Các nghị định...cho phép người Việt Nam được (?) xuất cảng 20% trên tổng số sản xuất ở Nam Kỳ nhắc cho mỗi người nhớ rằng 80 năm nay người Việt Nam không có quyền giao thiệp thương mại với người ngoại quốc... Người Việt Nam chỉ có quyền làm ra lúa, móc ra than, cạo ra mủ cao su... để người khác bán lại cho dân mình dùng 10.

Các sự kiện vừa bị những nhà văn Nam Bộ tố cáo thật ra không có gì đáng ngạc nhiên đối với chúng ta ngày nay, người Pháp đến Việt Nam với dụng tâm bóc lột nên

chánh sách cai trị của họ chỉ nhắm thực hiện điều nầy, luật pháp, do đó luật pháp được thiết lập chỉ nhằm yểm trợ công cuộc khai thác nước Việt.


2) Thực chất vô nhân.

Trong công cuộc cai trị ở thuộc địa, ta có thể nói; tính chất vô nhân sanh ra từ ý hướng bóc lột. Kẻ khai thác cần phải tạo một hình ảnh cao về mình, hạ thấp con người mới có thể bóc lột được. Tuy nhiên những hành vi nầy không phải chỉ xuất hiện nhằm bảo vệ sự bóc lột mà còn xuất phát từ bản chất vô nhân của người đi thi hành chánh sách thực dân. Nhà văn Nam Bộ đã tố cáo nhiều về đặc điểm nầy.

a). Thực dân không coi người Việt Nam ngang hàng với chánh quốc.

Chế độ thực dân vô nhân ở chỗ tạo cho người chánh quốc sang thuộc địa một tâm lý tự tôn, cho mình thuộc hàng tôn quý, kẻ cả, còn người dân bị trị như hạng thấp kém, tôi mọi, lớp dưới, giống dân hạ tiện. Tâm lý này được Dương Tử Giang mô tả trong tác phẩm Tranh đấu11 của ông (1): bọn Pháp cai trị hách dịch, trịch thượng mỗi khi đi đâu, cũng bắt viên chức địa phương đón tiếp tưng bừng. Cảnh một viên quan chủ quận xuống làng chẳng khác nào một cuộc tiếp rước thật quan trọng: Cai tuần đi trước nạt đường... hai viên chức nhỏ đi theo kè một bên... để che lọng, và mấy ông hương chức khăn đen, áo rộng khóm róm đi sau (2) 12.

Ký giả Nguỵ Văn Thông trong một bài phóng sự trên tạp chí Thế Giới13 (3) đã cho chúng ta hình ảnh trịch thượng của người xếp Tây đối với người lao động Việt Nam. Anh nầy vì không hiểu tiếng Pháp nên không biết xếp sai mình lấy cái gì, anh loay hoay lấy hết cái nầy đến cái kia nhưng đều không phải. Cuối cùng xếp Tây giận đạp anh té lăn cù dưới đất rồi bù thêm những cái đá, cái đạp vào đầu, vào lưng. Tâm lý kẻ cả này còn được Sơn Khanh trình bày trong tác phẩm Giai Cấp khi tả một viên Thanh tra mật thám người Pháp lai vào nhà một quan chủ quận người Việt đã ngang nhiên ngồi xuống không đợi ai mời và cũng không buồn giở nón ra khỏi đầu (4) 14.

Trong tác phẩm Về Thành, Hoài Tân đã nhắc đến sự hách dịch của một viên chức Pháp đối với thuộc chức Việt Nam. Người nầy hôm trước vì bệnh phải nghỉ hôm sau vào sở phải gánh chịu những sự dằn ném, hạch sách hằn học của người chỉ huy 15.

Ta không thể bảo Dương Tử Giang, Nguỵ Văn Thông, Sơn Khanh, Hoài Tân chỉ quan sát một vài trường hợp riêng lẽ và các điều mô tả trên đây không có giá trị tổng quát, trái lại những hành động vừa được kể đó phát sinh từ tâm lý chung của người Pháp, viên chức lớp dưới cũng như những người nắm các địa vị quan trọng trong guồng máy cai trị ở Việt Nam.

Điều nầy ta có thể thấy khi nhìn cách thu dụng công chức của nhà cầm quyền. Nhà nước nuôi báo cô một số công chức Pháp bất tài vô tướng dốt nát, nhưng vì là người Pháp nên chánh quyền coi trọng, đặt vào các địa vị then chốt và trả lương rất hậu16 khi đó những người Việt Nam mặc dầu tốt nghiệp ở các trường Đại học Âu Châu trở về đều bị giao cho những chức vụ thấp kém, lương bổng ít oi lại còn bị bạc đãi. Số công chức người Pháp này theo tài liệu tạp chí Việt Bút lên đến 5.000 người, mỗi người lãnh lương ngang hàng với một Bộ Trưởng Nhật 17.

Về điểm này người Anh có vẻ dễ chịu hơn vì để cai trị 350 triệu dân Ấn Độ, họ chỉ dùng một số công chức tương đương 18.

Nhà cầm quyền Pháp có chánh sách hẳn hoi về điều này khi họ ra lệnh chỉ mở mang các trường học đến bậc sơ đẳng. Trần Đức Thảo cho rằng vì người Việt Nam tốt nghiệp Đại Học chiếm hết chỗ làm trong các công sở nên người Pháp, để bảo vệ quyền lợi các quan hạ cấp Pháp đã chỉ cho mở mang ở bậc sơ đẳng... 19.


b). Thực dân không coi người Việt Nam là con người.

Tính chất vô nhân của người Pháp trong việc cai trị bộc lộ rõ ràng hơn trong những hành vi không coi người Việt Nam như con người:

- Đối xử ác độc, mướn với giá thật thấp nhân công Việt Nam.

- Đàn áp dã man những người đối lập chánh trị.

- Cố tình để nhân dân Việt Nam lâm vào tình trạng nghèo khổ.


* Đối xử ác độc, hạ giá nhân công Việt Nam:

Các tác phẩm Nước độc của Sơn Khanh, Bên gốc cao su của Bùi Nam Tử, Sau dãy Trường Sơn của Lý Văn Sâm giúp chúng ta chứng kiến những nỗi khổ của người công nhân Việt Nam trong các đồn điền cao su của người Pháp. Những công nhân vô phước này bị đánh đập, hành hạ,bị ngược đãi và phải làm việc quá sức lao động...

Ông Phan Hữu tố cáo công khai những hành vi này của người Pháp: Trong các vườn cao su, tại các mỏ than, thợ thuyền bị ngược đãi, ăn cơm lức, cá khô với số lương vài cắc một ngày 20.

Đồng ý người Pháp chủ nhân đồn điền và hầm mỏ càng trả lương công thấp, càng chi phí ít, càng thâu nhiều lợi, nhưng ta phải công nhận nguyên nhân thực hiện những điều nầy một cách quá đáng một phần vì tính chất vô nhân của họ. Dưới mắt họ, bọn phục vụ trong các đồn điền, hầm mỏ... không là con người mà là những dụng cụ, những

phương tiện để họ thu thập tư bản, nói cách khác, họ đã coi công nhân Việt Nam như những người nô lệ dưới chế độ mãi nô (1) 21.

* Đàn áp dã man những người đối lập chính trị:

Những người đối lập chính trị thời này đã bị chánh quyền Pháp đàn áp cực kỳ mãnh liệt. Theo các tác giả Bùi Nam Tử (trong quyển Trốn tù, Giờ chót một tội ác và Người vợ tù mong một ngày về), Hợp Phố (tác phẩm Chị Dung). Thiên Giang trong tập truyện hồi ký Lao tù những người hoạt động chánh trị bị đánh đập, tra tấn, đày ải lên vùng núi non, nước độc... có người không chịu nỗi sự tra tấn đã tìm cách chạy trốn trước họng súng kẻ thù để tìm lấy cái chết mau chóng, nhẹ nhàng 22.

Đặc biệt những mô tả này phần nhiều phù hợp với thực tế, thực tế có những người kháng chiến Việt Nam đang bị quân Pháp tra tấn, hành hạ, xử tử... nên những chuyện trong các tác phẩm này đều được nói tránh bằng cách kể tội ác người Nhật (!). Vào những năm Nhật đã mất đất đứng ở Đông Dương, người Việt đang đánh nhau với quân Pháp, độc giả sẽ hiểu những chữ Nhật trong tác phẩm kia ám chỉ ai 23.

Đàn áp, nhìn từ phía chánh quyền như một cách thế giải quyết những xáo trộn, báo động... có hại cho công cuộc trị an, những đàn áp, nhìn từ mặt người dân, thể hiện sự vô nhân, nhất là những cuộc xáo trộn đó chỉ nhằm mục tiêu đòi cải thiện chế độ.


* Cố tình để nhân dân Việt Nam lâm vào tình trạng nghèo khổ:

Nếu chính phủ Pháp coi người Việt Nam như con người, họ sẽ tìm cách phát triển nước Việt Nam, trong khi vẫn bóc lột, đàng này họ chỉ chú tâm khai thác trong khi vẫn để người Việt Nam kéo lê cuộc sống xa cách những kiến thức khoa học, những phát minh mới... Người Pháp còn quyết định không phát triển kỹ nghệ Việt Nam để kéo dài tình trạng nghèo khổ.

Ông Trần Đức Thảo tố cáo chánh quyền thực dân đã không săn sóc đến nghề nông, không chỉ dạy nông dân phương pháp canh tác cho nên số thu hoạch ở Việt Nam kém nhất thế giới 24.

Ông Phan Hữu cho rằng nghề nông ở xứ ta không phát triển, nhà nông vẫn cày bừa với các dụng cụ cổ xưa lỗi thời, chịu đựng những thiên tai mà không làm gì được bởi vì chánh phủ không để ý đến nghề nông 25.

Chủ ý của nhà cầm quyền Pháp trong việc không muốn nâng cao đời sống nhân

dân Việt Nam phù hợp với chánh sách khai thác thuộc địa, nhưng đồng thời bộc lộ tính chất vô nhân của họ đối với nhân dân Việt Nam.

Nhà văn Thiên Giang đã tố cáo ý hướng kìm hãm người Việt Nam vào đời sống thấp kém mãi khi ông dẫn lời tuyên bố của Justin Godard, đại diện cho chánh phủ Bình Dân Pháp, trước Viện Thuộc Địa ngày 12-5-1937 Có nên ước muốn cho (đời sống?) số người vô sản ở xứ này tăng lên, nghĩa là mong ước sự phát triển kỹ nghệ xứ Đông Dương này chăng? Tôi không hề có ý tưởng như thế? và câu trả lời của ông này với báo chí: Chánh sách hướng về kỹ nghệ hoá xứ Đông Dương sẽ là một sự lầm lạc 26.


Đoạn II. - VĂN CHƯƠNG NAM BỘ VẠCH TRẦN NHỮNG PHƯƠNG SÁCH NGƯỜI PHÁP ÁP DỤNG ĐỂ THỂ HIỆN SỰ BÓC LỘT.


Thực tâm của người Pháp khi thực hiện chế độ thuộc địa ở Việt Nam như ta đã biết: boc lột và vô nhân. Người Việt Nam, trong quá trình bị lệ thuộc của mình đã hiểu điều đó nên luôn luôn nổi dậy, chống đối, mong giành lại chủ quyền quốc gia.

Người Pháp, để duy trì chế độ, để bảo vệ quyền lợi mình, sẽ có những phương sách đối phó.

Nhìn chung, họ áp dụng ba cách thế sau:

- Đối với việc cai trị: duy trì và làm băn hoại các cơ cấu xưa.

- Đối với sự phát triển trí thức của dân tộc Việt Nam: tìm hết cách để ngăn chặn việc học.

- Đối phó với dân chúng: giết hại người tài và gây sự chia rẽ nội bộ của Việt Nam.

Nhà văn Nam Bộ, trong chiều hướng góp phần vào cuộc kháng chiến đã vạch trần những phương cách này nhằm tạo sự căm phẫn trong quần chúng và cống hiến cho họ cái nhìn thấu đáo hơn.


1/ Phương sách người Pháp áp dụng để cai trị: duy trì và làm băng hoại cơ cấu cũ.

Người Pháp đến Việt Nam, muốn ở đây lâu dài nên cách thế cai trị của họ rất khôn khéo. Họ tạo cho dân chúng cảm tưởng nước nhà còn chủ quyền, còn độc lập - cảm tưởng này xoa dịu lòng người và cản trở những lực lượng chống đối - bằng cách không chạm đến cơ cấu cai trị cũ nếu không có lợi cho họ.

Năm 1889, Thống Sứ Bắc Kỳ gởi lên Toàn Quyền Đông Dương một phúc trình đại ý cho rằng cần phải duy trì triệt để chánh thể cũ của người Việt Nam bởi vì sự duy trì đó có ích lợi cho công cuộc đô hộ của người Pháp 27.

Chính Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier cũng viết sách ca ngợi chế độ xã thôn tự trị của Việt Nam, ông cho hình thức xã hội này có tính cách dân chủ vì chánh quyền trung ương không nhúng tay vào công việc của làng xã: Làng xã Việt Nam là một cơ cấu xưa, tốt, đồng thời thích hợp với đại chúng 28.

Thật ra nhận xét của P. Pasquier, cũng như của viên Thống Sứ Bắc Kỳ nói trên chỉ nhằm phục vụ công cuộc cai trị ở Việt Nam. Họ muốn duy trì những định chế cũ, những cơ cấu xưa không phải vì quốc gia Việt Nam mà chỉ vì nhận thấy những cơ cấu nầy có khả năng làm giảm bớt phản ứng chống đối của dân chúng. Thật vậy, dưới cách thế cai trị gián tiếp của người Pháp, dân chúng Việt Nam trong thôn xóm không thấy người Pháp cai trị mình mà chỉ thấy ông Xã, ông Cai, Hương chức hội tề... phụ trách những vấn đề trong làng. Tâm lý bất mãn, mặc cảm bị trị vì vậy ít có điều kiện phát sinh.

Tuy nhiên người Pháp chỉ duy trì những cơ cấu cũ trên hình thức, trên thực tế họ đã nhúng tay vào bằng cách:

- Tước bớt quyền hạn: bắt buộc làng xã phải tăng thuế, bắt dân đóng thuế thân, tiền thuế này xã không có quyền thu mà phải chuyển về tỉnh.

- Khống chế làng xã: bắt làng xã phải xúc tiến việ trung gian bán rượu, nếu bán không đủ số ấn định, hương chức làng xã bị coi như thông đồng với người nấu rượu lậu.

- Đặt những viên chức bất tài, ích kỷ, ác độc...vào các chức vụ làng xã: với cách thế nầy người Pháp dễ dàng cai trị hơn vì những người nầy sẽ hết lòng phục vụ chế độ, mặt khác dân chúng oán ghét họ sẽ quên đi việc người Pháp có mặt ở Việt Nam.

Ba cách thế người Pháp áp dụng, nhà văn Nam Bộ đều thấy, và họ đã tố cáo xa gần trong các tác phẩm của họ.

- Phi Vân trong truyện dài Dân Quê nhắc đến sự thúc bách của viên chức cấp trên đối với những việc liên quan đến thuế thân. Trong một bức thư của chủ quận gởi cho Hương Quản có đoạn: ...Hình như bọn đó nhập vào phong trào làm loạn và có lẽ sẽ bí mất về làng xúi giục dân chúng đừng đóng thế và chống với Nhà Nước.

Bản chức nhắc lại cho Hương Quản nhớ rằng: bổn phận Hương Quản là phải canh phòng cẩn mật... 29.

Viên Hương Quản, đại diện cho viên chức làng xã hâm doạ dân chúng: Mà nếu không chịu đóng thuế nữa thì nhà nước sẽ trừng trị thẳng tay 30.

- Tác giả bài Dưới chế độ thực dân, vì mãi lo làm lợi cho công nho, người ta đã vô tình đầu độc dân Việt Nam 31 tố cáo chánh quyền trung ương đã khống chế, bắt buộc làng xã ép dân chúng uống rượu...

- Các tác giả Sơn Khanh (với quyển Loạn); Phi Vân (với hai quyển truyện dài Dân quê và Tình quê), Bùi Nam Tử (với quyển Trốn tù), Dương Tử Giang (với truyện dài Tranh đấu) đã mô tả lại những hành vi gian ác, dã man của các viên chức làng xã để gián tiếp tố cáo chánh phủ Pháp đã tạo sự băng hoại, thối nát cho cơ cấu làng xã Việt Nam.


2/ Phương sách đối phó với sự phát triển trí thức của dân Việt.


Không mở mang trường sở.

Kiến tạo trường ốc cho dân chúng mở mang kiến thức là điều kiện căn bản để xây dựng quốc gia, người Pháp biết rõ điều đó nên không muốn người Việt có dịp học hỏi; trường học ở Việt Nam được thiết lập một cách hạn chế nên không đủ cung ứng cho số học sinh ngày càng tăng gia. Người Việt Nam một phần lớn phải chịu dốt. Vũ Anh Khanh trong truyện ngắn Một đêm trăng đã cho nhân vật của mình phẫn nộ: Dân Việt Nam là một giống dân hiếu học. Bao nhiêu lâu họ dốt vì họ bị người ta tìm cách... ( Vũ anh Khanh - Bên kia sông (truyện Một đêm trăng) - Tân Việt Nam - Saigon - 1949, trang 43.). Vũ Anh Khanh chỉ cần nói lơ lửng như vậy thôi, chỉ cần xác nhận có sự ngăn chận việc học của người Việt Nam, bao nhiêu đó cũng đủ để người đọc hiểu, vì kỹ thuật của tác phẩm, vì sự cấm đoán của chế độ kiểm duyệt, ông không thể nói rõ hơn ai chủ trương cấm đoán, ông cũng không nói rõ người Pháp đã dùng cách thế nào để ngăn trở, nhưng ai cũng hiểu: chánh phủ không xây dựng trường, không cho phép mở tư thục, tạo sự nghèo khó cho dân chúng.

Trong tác phẩm đồng thời như Chị Tập của Hồ Hữu Tường( Sống Chung - Saigon - 1949.), Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh (Tân Việt - Saigon - 1947.), người đọc còn thấy sự tố cáo đến mực rõ ràng hơn khi tác giả mổ tả những lớp học sinh bình dân học vụ được mở ra cho tất cả mọi người. Ở đây có bà lão đi học với đứa cháu, người mẹ đi học với đứa con nhỏ bên nách... Họ đi học vì trước đây, khi người Pháp còn làm chủ đất nước này họ không được học...

Tóm lại, nhà văn xác nhận người Việt Nam hiếu học và họ dốt vì nghèo khổ và không đủ trường để đi học. Thật ra người Pháp cũng mở trường, nhưng trường học được thiết lập ngoài ý muốn của họ nên vừa ít oi vừa không xứng đáng. Chẳng hạn thực hiện để tỏ rằng chánh phủ Pháp biết ơn sự đóng góp xương máu của người Việt bên cạnh dân tộc Pháp hồi đệ nhất thế chiến, họ đã cho phép mở vài trường nhưng các trường này có phẩm chất quá kém. Trần Đức Thảo đã vạch trần điều đó:

Khi chiến tranh bùng nổ ở Âu Châu, Đông Dương đã phải ra một sự cố gắng phi thường, gởi sang Pháp 150.000 người với một số chiến cụ và vật thực to tát do tiền của Đông Dương trả. Chính chính phủ bảo hộ phải có một nghĩa cử. Cho nên năm 1918, sau 20 năm đòi hỏi, trung đẳng học mới mở cửa cho dân Việt Nam. Người ta cũng tạo ra một Đại học chưa thành hình... Năm 1924, Toàn Quyền Merlin tuyên bố chỉ nên mở mang về sơ đẳng. Lời tuyên bố ấy đã gieo bất bình trong dân gian ( Trần Đức Thảo - Vấn đề Việt Nam - Sđd, trang 27.).

Việc đóng cửa các trường trung học làm chặn ngang bước tiến trí thức của người Việt đồng thời biểu lộ bộ mặt thật của bọn thống trị. Họ chỉ muốn vỡ lòng cho người Việt Nam vài chữ để đủ phục vụ trong các công sở hành chánh về phương diện điều hành, họ không muốn đào tạo cao hơn. Những người rời trường học với trình độ sơ đẳng dĩ nhiên sẽ sợ hãi phục tùng người Pháp. Giáo dục như vậy là một công cụ cho người Pháp về nhiều mặt:

- Cản trở người Việt trong sự học.

- Đào tạo được một lớp cán bộ tay sai.

- Vẫn được tiếng là mở mang giáo dục cho người Việt trong khi người Việt Nam nói chung vẫn không lợi gì.

Cản trở việc mở mang trí thức của người Việt Nam là một chánh sách đã bị công kích nhiều nhưng người Pháp vẫn không thay đổi. Trước đây cụ Phan Bội Châu trong quyển Thiên hồ địa hồ đã tố cáo dã tâm dùng giáo dục làm công cụ cho chánh sách ngu dân ( theo Đông Tùng - Bút chiến đấu - Sđd, trang 28.). Nhưng mặc những người tố cáo, chửi rủa, chánh sách kiềm hãm sự học của người Việt vẫn được chánh phủ Pháp áp dụng, người Việt vì vậy mù chữ hơn 90%.

Những người thật tâm vì dân vì nước, nghĩ đến tương lai dân tộc lo mở trường tư, nghĩa thục để mong xoá bỏ phần nào sự dốt nát của dân chúng thì bị làm khó dễ, bắt bớ, với lý do các trường này là ổ đào tạo cách mạng: Về bực sơ đẳng kém một phần mười con nít đến tuổi đi học, đi học được. Nhiều ít hương thôn toan lo lấy việc học cho con em như hồi còn chính thể quân chủ. Việc ấy gặp rất nhiều trở ngại. Merlin lật đật ký nghị định hạn chế trường ta ( Trần Đức Thảo - Sđd, trang 27.).

Ở Việt Nam không đủ trường, không đủ lớp, người Pháp có mở rộng bước đường du học cho sinh viên Việt Nam không?

Chúng ta có thể nói mau rằng không, và nếu sự thể bắt buộc, họ có cách thế của họ: mở trương Cao Đẳng với một phẩm chất thật thấp kém, trường này mở cửa để ngăn đường qua Pháp, cản dân Việt Nam qua học bên Pháp sợ họ có những cuộc gặp gỡ nguy hiểm (J. Barthel - Regards sur l' Indochine - Trích bởi Thiếu Sơn - Giữa hai cuộc cách mạng - Sđd, trang 47. ).

Dụng ý kiềm hãm việc học của dân tộc Việt Nam, cộng thêm sự lo ngại thanh niên Việt nhiễm tinh thần tự do, bình đẳng... khiến cho người Pháp thiết lập trường Cao Đẳng không ra Cao Đẳng, đào tạo một số viên chức nửa mùa, một số thầy thuốc thuộc địa không đủ khả năng chuyên môn.

Tóm lại, chánh sách của người Pháp đối với sự học của dân Việt Nam nhằm làm trì trệ càng nhiều càng tốt. Điều này có lợi cho họ vì người trí thức càng ít những suy nghĩ về số phận dân tộc càng giảm, những lãnh tụ cách mạng càng ít và việc cai trị, bóc lột của họ do đó càng dễ dàng.


3/ Phương sách đối phó với người dân: chia rẽ dân tộc và sát hại nhân tài.


a) Chia rẽ tình đoàn kết:

Ngại rằng dân ta đoàn kết lại sẽ thành sức mạnh nguy hiểm, người Pháp tìm hết cách để phân ly dân tộc. Họ chia nước ra làm ba xứ, đặt ba chế độ khác nhau, ngăn trở sự đi lại, ngăn trở sự trao đổi kinh tế, gây ra các cuộc tranh đua giữa ba xứ để tăng hiềm khích.

Họ không từ bỏ cơ hội nào có thể làm cho dân tộc chia rẽ. Trong lúc cần phải có sự đoàn kết tuyệt đối để chống đối nhau với họ, họ đã tạo nên Nam Kỳ quốc, Nam Kỳ tự trị, Tây Kỳ, các xứ độc lập Nùng, Thái, v.v...

Trong các cuộc tranh tài thể thao dưới sự tổ chức của Ducoroy những năm 1942-1945, các lực sĩ được xếp theo Nam, Trung, Bắc và được cổ võ để đem theo màu cờ sắc áo về xứ của mình, đáng lý ra người tổ chức chỉ xếp Việt Nam tranh tài với Lào, Miên mà thôi.

Đây là mưu mô thâm độc nhằm chia rẽ dân tộc chớ không phải nhỏ mọn và tính cách thuộc về kỹ thuật tổ chức như nhiều người lầm tưởng.

Thời còn người Pháp ở Việt Nam ta thường nghe câu nói Đông Dương gồm 5 nước: Nam, Trung, Bắc, Miên, Lèo, đó là sách lược chia rẽ của thực dân.

b)- Giết hại người tài:

Ngoài cách chia rẽ, người Pháp còn làm cho người Việt Nam không thể nào nổi dậy để giành độc lập được bằng những kỹ thuật vừa tân kỳ vừa dã man. Họ biến những người có thể nguy hiểm cho nhà cầm quyền Pháp thành những kẻ phế nhân, họ bắt uống thuốc độc, hay chích cho những người này thành điên khùng, tê bại, hoặc vĩnh viễn từ giả cõi đời mặc dầu không bệnh tật.

Các nhà văn thời này đã tố cáo xa gần sự độc ác này của người Pháp, ông Thiết Can cho nhân vật mình lý luận: Tôi nghĩ rằng các ông Hoa Đà, Biển Thước đã có tài chích một mũi thuốc, chỉ một mũi thôi! mà cứu sống người thì cũng có thế chích một mũi thuốc đưa thân chủ mình lên thiên đàng dễ như chơi... Cũng là bác sĩ như nhau, không lẽ ông thầy thuốc Việt lại thua sút thầy thuốc Âu Mỹ sao? ( Thiết Can - Trái lựu đạn không kịp nổ - Nam Việt - Saigon-1949, trang 12 ).

Lý Văn Sâm dùng kịch lịch sử để nói chuyện hiện tại: Trương Phụ sau khi cho một nho sĩ uống rượu độc để người này hoá điên, đã nói: Rồi đây rượu sẽ ngấm, hắn sẽ biến thành người điên dại, nhìn đời bằng đôi mắt ngây ngô. Cha có thể...tha mạng sống cho hắn nhưng cha không thể tha cái tài ba lợi hại của hắn được ( Lý Văn Sâm - Người đi không về - Nam Việt - Saigon-1949, trang 64.).

Lý Văn Sâm cũng như Thiết Can chỉ cần viết bấy nhiêu người đọc cũng đã hiểu bởi vì thực tế đã cho ta thấy bản chất vô nhân của người Pháp trong các việc chích cho điên, vô xuống biển những nhân tài Việt Nam trước đây...


Đoạn III.- VĂN CHƯƠNG NAM BỘ BUỘC TỘI CHÁNH SÁCH CAI TRỊ

CỦA NGƯỜI PHÁP LÀM TAN RÃ XÃ HỘI VIỆT NAM.


Tố cáo thực chất công cuộc cai trị của người Pháp ở Việt Nam, vạch trần những phương sách dã man được áp dụng để duy trì thực chất đó, nhà văn Nam Bộ vẫn chưa làm tròn nhiệm vụ kháng Pháp nếu không cho thấy những hậu quả tai hại do chế độ thực dân gây nên.

Thực vậy, với hai khía cạnh trên chúng ta chỉ biết được lòng dạ người cai trị nhưng chưa nhìn thấy thảm trạng của dân tộc bị trị. Nhà văn Nam Bộ đi xa hơn bằng cách buộc tội người Pháp đã:

- Tạo nên một xã hội Việt Nam băng hoại, xuống dốc với những hình ảnh xấu xa như cờ bạc, đĩ điếm, cướp bóc...

- Tạo nên một thế hệ công dân nông nổi, tầm thường, ngu muội....


1/ Hậu quả của chế độ cai trị: một xã hội rối loạn.


Vì người Pháp chỉ chú ý đến họ, chỉ lo duy trì quyền lợi của họ nên xã hội Việt Nam đã bị bỏ rơi. Hậu quả việc bỏ rơi đó là sự hiện hình của tất cả những thói hư tật xấu.

Có người sẽ nói xã hội nào cũng vậy, những tệ nạn luôn luôn có mặt để bào chữa cho người Pháp. Nhưng ở thời khác, bài bạc, đĩ điếm, cướp bóc...có mặt một cách lén lút, thời nầy chúng hiện diện mọt cách công khai, không sợ pháp luật. Những sòng bạc tổ chức có giấy phép, những xóm điếm hành nghề có sự hỗ trợ của nhà nước, những bọn cướp hành động với sự ngó lơ của chánh quyền.

Những thứ xấu xa này hiện diện càng làm cho việc cai trị của người Pháp dễ dàng vì người dân sẽ bị nghèo thêm, khổ thêm, hư thêm và do đó sẽ không có thì giờ suy nghĩ đến những thứ khác có hại cho công cuộc đô hộ.

Nhưng xã hội bây giờ được nhà văn Nam Bộ mô tả như thế nào?

- Cờ bạc công khai, đĩ điếm tràn lan.

Nạn cờ bạc thời này tràn ngập khắp xứ: ở miền quê hẻo lánh do các tay anh chị cầm đầu hoặc do người có máu mặt trong vùng thiết lập với sự yểm trợ của bọn hương chức, hội tề; ở Saigon do các tay tài phiệt tổ chức hợp pháp, sang trọng, có nộp thuế cho chính phủ có lính gác sòng...

Loại ở vùng quê ít quan trọng, tay chơi ít, vì xa xôi và con bạc không yên chí: dễ bị giựt tiền trên chiếu bạc cũng như bị đón đường khi được bạc trở về ( Xem Vũ Anh Khanh - Bạc xỉu lìn - Tiếng Chuông - Saigon-1950 - Chương I) .

Trong thành phố nơi sát phạt yên tĩnh, bảo đảm và tiện nghi hơn, khỏi sợ lính cũng như không sợ nạn yêng hùng (Xem Vũ Anh Khanh - Đầm ô rô (truyện Hối tắc, Ma Thiên Lãnh) - Tiếng Chuông- Saigon-1949). Vũ Anh Khanh xứng đáng đại diện cho những nhà văn tố cáo chánh quyền đã dung dưỡng nạn cờ bạc bằng cách mô tả tỉ mỉ những nơi này cũng như nói lên được hậu quả của cờ bạc trong các tập truyện Đầm ô rô và Sông Máu. Vũ Xuân Tự trong quyển Tấn công tài xỉu trình bày những điều lợi của chủ sòng và khuyên mọi người: Nên sáng mắt lui khỏi vòng chiến ( Vũ Xuân Tự - Tấn công Tài xỉu - Nam Việt - Saigon, trang 76.) .

Kết quả của tệ trạng này, thi sĩ Hồ Thị đã viết:

Bán con, bán vợ, đợ chồng,

Hết cơ, hết nghiệp thần vòng rủ đi (Hồ Thị - Khúc nhạc thành - Bài Cúng cô hồn) - Dân tộc - Saigon, 1949.).

Vũ Anh Khanh lập luận Cờ bạc thạnh hành thì lẽ tất nhiên theo luật tuần hoàn, trai sanh ra trộm cướp, gái sanh ra điếm đàng (Vũ Anh Khanh - Đầm ô rô (truyên Ma Thiên Lãnh) - Sđd, trang 43) và Vũ Anh Khanh qua những truyện ngắn Hối tắc, Ma Thiên Lãnh, Saigon ơi! mô tả lại cảnh những cô gái hết tiền vì bài bạc kêu xe đi vào Ma Thiên Lãnh hay theo cái ngoắc tay của một người khách lạ nào vào một phòng ngủ Tàu, cảnh những thanh niên túng tiền làm liều, thụt két, thâm lạm tiền của hãng...

- Cướp giật hoành hành.

Hậu quả của cờ bạc: con gái hư thân, đàn ông con trai cũng không khác gì hơn, Vũ Anh Khanh đã từng mô tả những người thua bạc trở thành côn đồ tụ tập nhau đón đường giựt tiền của những người đi lẻ tẻ ( Vũ Anh Khanh - Bạc xỉu lìn - Sđd, Chương I). Họ sẵn sàng thanh toán một mạng người để cướp đoạt một số tiền nhỏ. Chánh quyền có nhiều việc phải lo hơn nên không có thì giờ để ý đến họ, chánh quyền cũng không thấy lợi lộc gì trong việc trừ khử họ nên để mặc cho xã hội đi lần đến chỗ vô tổ chức, đầy những bất an đối với hạng người lương thiện.

Đó là lúc bình thường, lúc không có những cuộc đụng độ, tấn công, nổi dậy. Trái lại, khi những chuyện này xảy ra, cảnh cướp bóc tăng gia thảm khốc hơn. Bình thường vài người cướp một người,, lúc nầy một đám đông có vũ khí cướp bóc một đám đông yếu thế. Người dân chạy để tránh chiến tranh thường bị đụng đầu với bọn cướp đường: bọn này thừa cơ hội lộn xộn tu tập để tước đoạt những gì dân chúng đã quơ quào mang theo khi lánh nạn.

Người dân, khổ mặt này và mặt khác, chạy tránh súng đạn lại bị đám giặc chòm khác nổi dậy cướp giựt, chém giết. Ở những vùng quê xa xôi, người dân gặp thêm nạn giặc Thổ... kéo nhau đến cướp bóc mỗi ngày. Bọn này rất tàn ác, ngoài việc cướp bóc, chúng còn thẳng tay chém giết người. Kéo đến đâu, chúng gây tang tóc đến đó, tạo thành cảnh những tiếng khóc vang trời dậy đất, tiếng van lơn cầu khẩn...xen lẫn tiếng hét vang rền, tiếng chửi mắng như sấm dậy ( Phi Vân - Cô gái quê - Sđd, trang 3).

Có thể cảnh trên đe dưới búa của người dân, không phải lỗi do nhà cầm quyền nhưng hình ảnh nầy đã tạo nên một xã hội rối loạn đến cùng cực, an ninh của người dân không được bảo đảm. Số phận của dân chúng tuỳ thuộc cách tự vệ và sự may rủi của họ.Nhưng trai tráng còn có thể tự vệ bằng những phương tiện thô sơ, hoặc gia nhập kháng chiến chớ đàn bà, con trẻ, người già cả làm sao tự vệ được? Và họ phải sống trong nỗi u hoài, lo lắng triền miên.


2/- Hậu quả của chế độ cai trị: những thế hệ người dân thấp kém, dốt nát.


Ngoài việc mô tả những hình ảnh đặc biệt để buộc tội chế độ làm băng hoại xã hội Việt Nam, các nhà văn Nam Bộ còn trình bày những tư tưởng, tình cảm thấp kém của người dân Việt Nam để gián tiếp kết án chế độ đã tạo nên những thế hệ công dân Việt Nam không xứng đáng.

Nhà văn Nam Bộ ghi nhận ba nguyên nhân quan trọng tạo nên những thế hệ công dân thấp kém: sinh kế khó khăn, sự đàn áp và tình trạng vô học của dân chúng. Đa số nguyên nhân này do sự bóc lột của người Pháp khi thi hành chánh sách thực dân.


* Vì sinh kế khó khăn con người không nhìn xa hơn những gì thuộc về mình.


Nhà văn Vân Lâu trong quyển Những kẻ hy sinh cho rằng cái nhìn thiển cận của dân chúng bình dân sở dĩ có tại vì người bình dân quá chật vật trong việc mưu sinh. Vì cuộc sống của chính họ và gia đình, họ phải quý trọng tiền bạc, của cải... Ông viết có những người sinh kế mà sống một cuộc đời bình dị chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình, của gia đình mình (Vân Lâu - Những kẻ hy sinh II - Sđd, trang 10 .

Điều này cũng dễ hiểu, người ta chỉ hy sinh, chỉ coi thường vật chất khi cuộc sống dễ dàng, cuộc sống cũng quá chật vật, người ta càng bám víu vào những gì mình đang có.

Cùng quan điểm với Vân Lâu, Thẩm Thệ Hà ghi nhận bằng vài nét chấm phá những hành vi của người quá nghèo khổ: họ chửi mắng nhau suốt đêm chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt như mất một cái quần hay giành nhau một trái ớt? (Thẩm Thệ Hà - Người yêu nước - In lần II - Tân Việt Nam- Saigon, 1949, trang 31).


* Vì bị bắt bớ... con người không dám suy nghĩ sâu xa.


Dưới chế độ thực dân, người Việt rất dễ bị tù tội nếu bộc lộ những ý nghĩ xấu về chính phủ, về chế độ bóc lột. Do đó, để bảo vệ mình, dân chúng gần như không không dám nói chạm đến người quyền thế, cũng không dám nói xấu về họ. Sơn Khanh trong quyển truyện dài Loạn đã kết tội thực dân mọt cách chính xác khi ông nói: Di sản tám mươi năm đô hộ, để lại cho Kiểm Bò một bộ óc sợ sệt... Không chịu suy nghĩ cơm hẩm cá ươn do đâu mà ra và tại sao có một ít người ngồi bên bàn tiệc linh đình trong khi bao nhiêu người không gạo nấu cơm ăn (Sơn Khanh - Loạn (Ký: Nguyễn Tử Việt) - Sđd, trang 71.3).

Di sản tám mươi năm đô hộ tại sao tạo nên bộ óc sợ sệt cho người dân? Câu trả lời rất giản dị: những cuộc bắt bớ, giam cầm, đánh đập, khủng bố.

* Vì dốt nát con người trở nên ác độc, nông nổi.


Ngoài cảnh nghèo khó bao vây, sự khủng bố ám ảnh, người dân còn bị đày ải trong sự dốt nát vì dưới chế độ thực dân, trường học không đủ, mà có đủ việc học cũng không thể tiến hành được vì họ quá nghèo khó.

Hậu quả của sự dốt nát là tính tình độc ác, nông nổi của lớp người nghèo. Qua tác phẩm Nửa bồ xương khô, Vũ Anh Khanh kể lại trường hợp thằng bé Năm Rồng đã kết tội họ thực: Thiếu sự giáodục của cha mẹ, của học đường, tánh tình nó trở nên độc ác.

Nhỏ thì ăn mày, ăn xin rồi sinh ra trộm cắp. Lớn lên... nó vỗ ngực xưng hùng để phá đời thiên hạ (Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô II - Sđd, trang 92).

Lý Văn Sâm sau khi mô tả hai người phu xích lô đánh một anh ký giả vì anh này can thiệp khi họ giành nhau kéo lôi một chị đàn bà đang có mang đã kết luận: Hết người dốt nát, xứ sở sẽ bớt người vũ phu. Lỗi không phải ở người phu xích lô đã đánh đập anh mà lỗi ở một chế độ, ở xã hội ( Lý Văn Sâm - Nắng bên kia làng - (truyện Rửa hờn),- Sđd, trang 50) . Tác giả không cần nói nhiều, ta cũng hiểu ý ông: chế độ xã hội đã tạo nên những người dốt nát đó. Từ sự dốt nát, họ có những hành vi độc ác, mất nhân tính...


3/- Hậu quả của chế độ cai trị: tinh thần giai cấp quá mạnh.


Chế độ xã hội với những bất công của nó đã tạo nên hai từng lớp dân chúng xa cách nhau: lớp thống trị, giàu có, địa vị; lớp bị trị, nghèo khổ không chức tước. Từ sự cách biệt đó, hạng người trước gần như không muốn nhận mình ngang hàng với hạng sau. Họ cho mình thuộc hàng trên trước để hạch sách làm khó dễ hạng nghèo khổ.

Về điểm này, nhà văn Sơn Khanh đã mô tả tỉ mỉ những hành vi tự tôn của một ông chủ quận, ông muốn người khác dạ thưa lòn cúi, ông bắt bẻ kẻ dưới quyền đã cả gan gặp ông mà không chào... trong tác phẩm Giai Cấp.

Tinh thần giai cấp ngoài sự kiện tạo nên những quãng cách giữa hai giới còn mang lại những khổ đau tinh thần cho người thuộc giai cấp bị áp bức.

Về điểm này, chúng ta có thể kể đến hai tác giả Sơn Khanh và Dương Tử Giang.

Sơn Khanh trong quyển Giai Cấp cho thấy nỗi khổ tâm của một cô gái nghèo, cô Huệ, trước sự khinh bỉ, nhục mạ của người chị chồng giàu có, chua ngoa... Cuối cùng Huệ mang tâm bịnh và từ trần.

Dương Tử Giang trong tác phẩm Tranh Đấu đã phơi bày tâm trạng thui thủi, bơ vơ, nhục nhã của một cô học trò nghèo, chị Kim Huệ, trước cả một tập đoàn chỉ biết nhìn giá trị con người qua bộ áo và qua những nữ trang... Sau cùng bị bao vây giữa những người vì giai cấp của mình không biết thương hại những kẻ kém may mắn, chị Kim Huệ đã tự tử trong cảnh cô đơn...


**


Tóm lại, để đóng góp vào công cuộc kháng Pháp, nhà văn Nam Bộ khai thác ba vấn đề:

1/ Trình bày thực chất bóc lột và vô nhân của người Pháp trong việc cai trị.

2/ Vạch trần những thủ đoạn người Pháp đã thực hiện để thi hành sự bóc lột.

3/ Buộc tội chánh sách cai trị đã tạo nên những băng hoại tệ hại cho xã hội Việt Nam, từ sự băng hoại của xã hội đến tinh thần thấp kém của dân chúng.

Tuy nhiên, những điều chúng tôi trình bày chỉ có tính cách tổng quát, nhà văn Nam Bộ còn mô tả tỉ mỉ hơn tình trạng tinh thần và vật chất của người dân dưới chế độ ngoại thuộc.

Đó là đối tượng của chương kế tiếp.


***



1 Lý Văn Sâm - Người đi không về (tập kịch) - Nam Việt - Saigon - 1949, trang56.

2 Tuấn Anh - Văn tế thực dân - Việt Bút, số 1 ngày 8-2-1948.

3 Thiếu Sơn - Giữa hai cuộc cách mạng - Tác giả xb - Saigon 1947, trang 46.

4 Thông cáo đăng trên tờ Aurore Indochinoise, số đề ngày 8-8-1934. Tài liệu trích dẫn bởi tạp chí Việt Bút số 21 ngày 25-8-1948 bài Dưới chế độ bóc lột của thực dân, vì mãi làm lợi cho công nho...người ta đã vô tình đầu độc dân Việt Nam .

5 Tài liệu của Việt Bút, số 21 đã dẫn.

6 Tuần báo Việt Bút, số 21 đã dẫn.

7 Phan Hữu - Việt Nam, một nền kinh tế tương lai - Ngày Nay - Saigon-1947, trang 12.

8 Phan Hữu - Sđd, trang 13.

9 Phan Hữu - Sđd, trang 13.

10 Hồ Thu - Nhật báo Gió Mới, số 272, ngày 20-4-1948.

11 Dương Tử Giang - Tranh đấu - Nam Việt - Saigon-1949.

12 Dương Tử Giang - Sđd, trang 98.

13 Nguỵ Văn Thông - Dân cu li - Thế giới, số 3 ngày 11-11-1949.

14 Xem Sơn Khanh - Giai Cấp - Sống Chung - Saigon, 1949.

15 Xem Hoài Tân - Về thành - Tân Việt - Saigon,1949.

16 Điều này chính người Pháp cũng than phiền. Xem Pierre de Fondettes - Solution pour l'Indochine - Julliard - Paris, 1932, trang 19.

17 Tạp chí Việt Bút, số 21 ngày 1-9-1948.

18 Lê Thành Khôi - Sđd, trang 407. Tuy nhiên ông Khôi chỉ nhắc đến con số 3.700. Sự khác biệt giữa tài liệu của tạp chí Việt Bút và của tác giả quyển Việt Nam, histoire... có lẽ phát sinh từ việc dùng những bản thống kê lấy từ những năm khác nhau.

19 Xem Trần Đức Thảo - Vấn đề Đông Dương - Sđd, trang 27.

20 Phan Hữu - Việt Nam, một nền kinh tế... Sđd, trang 13.

21 Theo Ninh Huy - Chế độ thực dân - Việt Bút, số 19 ngày 18-8-1948, một ký giả Pháp, ông Henri de Monpezat cho rằng người Pháp đã tạo nên chế độ mãi nô ở các đồn điền của họ.

22 Xin xem Bùi Nam Tử - Giờ chót một tội ác - Bảo Tồn - Saigon, 1950.

23 Có lẽ tác giả nói thẳng, không ám chỉ ở thời này là Trần Đức Thảo - Xem Trần Đức Thảo - Sđd, trang 20.

24 Trần Đức Thảo - Sđd, trang 27.

25 Phan Hữu - Sđd, trang 41-42.

26 Thiên Giang - Vấn đề nông dân Việt Nam - Nam Việt - Saigon, 1947, trang 32.

27 Phúc trình số 36 đề ngày 5-2-1889-Thư Khố Trung Ương ký hiệu E­­3 9256. Dẫn bởi Vũ Quốc Thông, tạp chí Hành Chánh số đặc biệt 5 và 6-1963-Học Viên Quốc Gia Hành Chánh xuất bản 1963.

28 Pierre Pasquier - L'Annam d'autrefois - Challamel - Paris-1907, trang 63.

29 Phi Vân - Dân quê - Sđd, trang 19.

30 Phi Vân - Dân quê - Sđd, trang 113.

31 Đã dẫn ở trên chú thích số 4 trang 35




... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 18.6.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004