Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đền Thờ Vua Đinh Tiên Hoàng

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (33)



Đại Cồ Việt - Nam Quốc Sơn Hà







Đ ại Cồ Việt là quốc hiệu nước Việt thời nhà Đinh, Tiền Lê, Lý. Quốc hiệu Đại Cồ Việt tồn tại 86 năm. Từ khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp Loạn 12 sứ quân, làm vua năm 968 đến vua Lý Thái Tông năm 1054. Giai đoạn này có sự kiện dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

Đại Cồ Việt là một Quốc gia Độc lập- Tự chủ. Có triều chính. Có vua. Đinh Tiên Hoàng là anh hùng dân tộc đàng hoàng. Lừng lẫy chiến công. Có quân đội. Bộ máy cai trị, do người Việt làm chủ một giang sơn. Triều đình Đại Cồ Việt tự chủ, đã khơi dậy mạnh mẽ, nền Văn minh lúa nước rực rỡ. Sáng tạo Văn hóa Hoa Lư.

Độc lập- Tự chủ Văn hóa- Tư tưởng

Đại Cồ Việt là một Quốc gia Độc lập- Tự chủ. Điều đó được nhìn từ sự Độc lập- Tự chủ về Văn hóa- Tư tưởng, trong bộ não người cầm quyền nước Đại Cồ Việt. Là sự thoát Tàu từ trái tim, hơi thở của người Việt.

Làm vua. Đinh Tiên Hoàng lập tức đưa triều đình Đại Cồ Việt trở về Văn hóa- Tư tưởng- Tinh hoa Việt, được Tổ Tiên Việt hun đúc mấy ngàn năm. Đạo Phật là Quốc Đạo. Thoát tư tưởng cai trị Phản Khổng của nước Tàu.

Sau hơn ngàn năm Bắc thuộc. Bị người Tàu cai trị. Áp đặt lối sống, cách nghĩ Phản Khổng chất chồng. Dân Việt ít nhiều cũng bị phân hóa.

Song bản sắc người Việt, tuôn trào mạnh mẽ trong từng con người Việt. Sống trên mảnh đất Việt. Thở không khí của không gian Việt. Tiếp nhận Hào quang Tổ Tiên Việt. Nước Tàu không đồng hóa được tất cả dân Việt.

Sự độc lập Văn hóa- Tư tưởng của triều đình nhà Đinh là Bản lĩnh kiên cường và khả năng Độc lập- Tự chủ cao của nước Đại Cồ Việt- Nam Quốc Sơn Hà.

Vua Đinh Tiên Hoàng quyết liệt xây dựng nước Đại Cồ Việt Lớn ngang nước Tàu. Độc lập- Tự chủ về Văn hóa- Tư tưởng. Rũ Phản Khổng trong đời sống hằng ngày của cung đình và nhân dân Đại Cồ Việt.

Quốc hiệu Đại Cồ Việt do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968. Quốc hiệu Đại Cồ Việt được dùng trong tám đời vua của ba triều Đinh, Tiền Lê, Lý.

Dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Nước Việt độc lập vẫn mang quốc hiệu Đại Cồ Việt. Năm 1054 niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6, vua Lý Thánh Tông đặt lại quốc hiệu Đại Việt.

Quốc hiệu Đại Cồ Việt- Khát vọng Lớn

Các nhà nghiên cứu phân tích. Đại theo nghĩa chữ Hán là lớn. Cồ trong tiếng Việt cổ cũng là Lớn. Đinh Tiên Hoàng đã ghép hai chữ Lớn (Hán và Việt). Khẳng định nước Việt là nước Lớn.

Ý nghĩa nước Lớn được ghi câu đối, đền vua Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư:

Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Trường An.

Nghĩa là:

Nước Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo
Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của nhà Hán.

Nguyên gốc chữ Tràng An tại Kinh đô Hoa Lư chở khát vọng Lớn của dân Việt. Sánh ngang kinh đô Tràng An nước Tàu.

Nước Việt lấy Phật giáo làm quốc giáo.

Giới nghiên cứu luôn đi tìm ý nghĩa quốc hiệu Đại Cồ Việt.

Học giả An Chi giải thích:

“Tại những nguồn thư tịch đã nói, chúng tôi đã phân tích và chứng minh rằng Đại Cồ Việt là một kiểu đặt tên… Cồ Việt là một danh ngữ có cấu trúc cú pháp giống như Âu Việt, Lạc Việt, Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, v.v… trong đó Cồ, Âu, Lạc, Dương, Điền, Mân là định ngữ của Việt.

Cồ là hình thức nói tắt lần thứ hai của Cồ Đàm Ma, mà hình thức nói tắt lần đầu là Cồ Đàm, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Cồ Việt là “nước Việt lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Và Đại Cồ Việt là “nước Việt vĩ đại lấy đạo Phật làm quốc giáo”… Chữ Cồ , họ của Đức Phật Thích Ca. Vậy Cồ Việt là nước lấy đạo Phật làm quốc giáo. Quốc hiệu này cho thấy sự sáng suốt của Vua Đinh từ đối nội đến đối ngoại.

(Theo Petro Times).

Các Thiền sư tham gia chính sự

Đinh Tiên Hoàng lấy Đạo Phật làm Quốc giáo. Thời Đinh và Tiền Lê, các Thiền sư đều tham gia chính sự và đóng góp xây dựng nước Đại Cồ Việt hoàn toàn Đôc lập- Tự chủ về Văn hóa- Tư tưởng. Trở về Văn hóa- Nhân bản nguồn cội Việt.

Khuông Việt đại sư tham gia triều chính như một vị tể tướng. Các chùa (tự viện) của Nhà nước do các tăng quan trụ trì đều được cấp ruộng làm tự điền. Các tự viện có những đại điền trang không kém gì đại điền trang của bọn vương công đại thần”. (Lịch sử Việt Nam, q. thượng, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr.175).

Hai triều đại. Đinh (968-980) và Tiền Lê (981-1009) đã ghi dấu son đặc biệt quan trọng. Đánh dấu sự mở đầu của một quốc gia Việt độc lập có chủ quyền đến ngày nay. Thể hiện Độc lập Tư tưởng- Văn hóa.

Bằng những giá trị nhân văn của mình, đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc, thiết thực bởi những Tinh hoa cao quý của một tôn giáo độc tôn ở giai đoạn ấy vào giải quyết việc triều chính và ngoại giao với nước Tàu. Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê đạt đến đỉnh cao của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Là một nền văn hóa Phật giáo đặc sắc trong di sản văn hóa Việt Nam.

Tại Hội thảo Phát huy di sản văn hóa Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê năm 2010. Các nhà nghiên cứu khẳng định. Thời Đinh và Tiền Lê là thời kỳ bản lề mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc triều đại Đinh và Tiền Lê có được vai trò, vị trí như vậy. Trong đó có một nguyên nhân không thể không kể đến. Đó là vai trò của Phật giáo đương thời. Đóng góp của Phật giáo thời kỳ này thể hiện nổi bật ở hai lĩnh vực: Phật giáo cung cấp Tư tưởng trị nước cho hai triều đại Đinh và Tiền Lê. Các Thiền sư tham gia chính sự giúp vua trị vì đất nước.

Nhà nước Đại Cồ Việt non trẻ, đang cần một điểm tựa về ý thức, một công cụ Tinh thần để xây dựng và quản lý đất nước. Phật giáo đã chiếm được ưu thế trong xã hội bởi triết lý tích cực là thương cảm chúng sinh. Thời Đinh và Tiền Lê chọn Phật giáo là Tư tưởng- Chính trị chính thống. Hợp lòng người dân Việt. Phật giáo đã cung cấp cho nhà Đinh và Tiền Lê- Tư tưởng trị nước (Từ bi- Bác ái- Khoan dung) và cung cấp lý Thuyết trị vì thiên hạ cho bậc quân vương.

Trong cả hai triều Đinh và Tiền Lê, công việc giữ nước và trị nước đều được các vua bàn thảo cùng những Thiền sư nổi tiếng. Các Thiền sư tham gia chính sự. Giúp vua trị vì đất nước là nét nổi bật của Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê. Đối với nhà vua.

Các vị Thiền sư không chỉ là người có học vấn uyên thâm, Người trí thức của thời đó. Họ còn là những bậc thầy thắp sáng Tâm linh. Dẫn dắt Tâm linh trên con đường tìm đến hạnh phúc nhân sinh.

Các nhà sư đóng góp công sức của mình trong mối quan hệ bang giao của nước nhà. Vua Lê Đại Hành giao công việc ngoại giao cho Thiền sư Pháp Thuận.

Bài thơ Quốc tộ của Thiền sư Pháp Thuận đã góp phần khai sinh nền Văn học viết Việt thời kỳ tự chủ. Nhờ có các nhà sư, ngôn ngữ văn học viết Việt Nam phát triển; từ việc dựng các cột kinh Phật, thư pháp đá, đã hình thành và thể hiện nghề chạm khắc đá ở Ninh Bình đã có từ lâu đời. Dưới các triều đại Đinh và Tiền Lê, hệ thống chùa chiền được xây dựng nhiều (chùa Đại Vân, chùa Vạn Tuế, chùa Bà Ngô, chùa Am, chùa Nhất Trụ...) tạo điều kiện cho sự phát triển của Phật giáo sau này…

Với việc tham gia chính sự của các Thiền sư. Tiêu biểu là Khuông Việt đại sư, Pháp Thuận, Vạn Hạnh (Quốc sư)… Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê đã đặt nền móng vững chắc cho Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc trong vai trò "Hộ quốc an dân" của Phật giáo.

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Người Thăng Long- Hà Nội nghìn năm truyền nhau:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch, cũng người Tràng An

Tưởng như câu ca này chỉ dành cho người Thăng Long- Hà Nội hào hoa, thanh lịch.

Câu đối trong đền vua Đinh tại Hoa Lư đã trả lời về ý nghĩa nguyên gốc câu ca trên:

Nước Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo
Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của nhà Hán.

Đó là khát vọng xây dựng Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của nhà Hán của vua Đinh Tiên Hoàng.

Khát vọng của vua Đinh đã thành hiện thực. Kinh đô Hoa Lư độc lập, tự chủ, đã kết tinh tụ hội, sản sinh Tinh hoa Văn hóa Hoa Lư trong đời sống hằng ngày. Từ cách ăn, mặc, giao tiếp, sản xuất, thương mại, sinh hoạt cộng đồng... Nghệ thuật cung đình đã thoát Tàu. Hơi hám Phản Khổng tạm lùi xa.

Người Ninh Bình luôn tự hào được sinh ra trên mảnh đất Kinh đô Hoa Lư Văn hiến, ngang kinh đô Tràng An của nước Tàu. Họ hát ca:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch, cũng người Tràng An

Nét đẹp Tinh hoa văn hóa Hoa Lư được kế thừa và phát triển rực rỡ từ Kinh đô Hoa Lư đến Kinh đô Thăng Long. Hai từ Tràng An trở thành biểu tượng của người dân kinh đô Hoa Lư. Hàm chứa những giá trị Văn hóa của Kinh đô Việt Nam tự chủ. Sánh vai Kinh đô Tràng An nước Tàu.

Giá trị Văn hóa Hoa Lư qua hai từ Tràng An tiếp tục thắp sáng tại Kinh đô Thăng Long. Khi vua Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long. Hai từ Tràng An biểu tượng cho sự thanh lịch của dân Kinh kỳ, được chuyển hóa và phát triển trong đời sống hằng ngày của Thăng Long khi nó trở thảnh Đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ.

Người dân Kinh đô Thăng Long sống thanh lịch, và hát câu ca của cố đô Hoa Lư, nay dành cho sự tinh tế, hào hoa của người dân Kinh đô Thăng Long:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch, cũng người Tràng An

1000 năm đã trôi qua. Đất Hoa Lư- Ninh Bình không còn là kinh đô. Nhưng dòng chảy Tinh hoa Văn hóa Hoa Lư không ngưng nghỉ. Tiếp sức mạnh Tâm linh và những Tinh hoa trong đời sống cho người dân Ninh Bình- Hà Nội cùng Nhân dân Việt Nam, sống trong Hòa bình và Bảo vệ chủ quyền Đất nước.

Điều đó đặt ra trách nhiệm của người Việt Nam mọi thời đại, tiếp tục khơi dòng chảy Tinh Hoa Hà Nội cũng như Tinh Hoa Hoa Lư và Tinh Hoa Văn hóa Việt… để mỗi người dân Việt được quyền Sống và Yêu nòi giống Việt trên mảnh đất của Tổ Tiên Việt để lại, như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên Nam Quốc Sơn Hà.

Người Tàu kiêng nể Nước Đại Cồ Việt

Lịch sử Đại Cồ Việt. Trang sử thoát Tàu hào hùng. Chứng minh sức mạnh dân tộc Việt, bị Bắc thuộc hơn ngàn năm. Mà vẫn thoát Tàu. Thành một Quốc gia độc lập. Mở ra một kỷ nguyên người Việt, nước Việt độc lập, lâu dài xuyên suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê...

Thời gian này, các vương triều nước Tàu, liên tục mang quân sang xâm lược Đại Cồ Việt. Bị dân Việt đánh đuổi quyết liệt. Chiến công vang dội của Lê Hoàn. Thắng quân Tống xâm lược. Giữ vững độc lập, chủ quyền và xây dựng nước Đại Cồ Việt hùng mạnh.

Thế kỷ X. Nước Ðại Cồ Việt bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ lâu dài. Người Việt trở về với bản sắc Văn hóa Việt từ trong cung đình. Nảy sinh những mầm cây của một nền Văn hóa, Văn học dân tộc, dưới hình thức chữ Hán, và ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo.

Khi Đạo Phật là Quốc Đạo. Các Thiền sư, là người trí thức của thời đại như Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh… được triều đình trọng dụng. Họ mang ảnh hưởng Văn hóa- Tư tưởng dân tộc Việt hiền hòa, bác ái, dân chủ, vào cung đình.

Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên lập chức tăng thống đưa Phật giáo trở thành Quốc đạo. Đinh Tiên Hoàng phát triển Văn hóa, kinh tế, thương mại riêng của Đại Cồ Việt. Đúc tiền đồng Thái Bình. Từ năm 976. Thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ, kết mối giao thương với Đại Cồ Việt.

Lê Đại Hành làm vua. Xây dựng nhiều công trình. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp. Chấn hưng đất nước. Ông nhận ra thế mạnh nền Văn minh lúa nước của người Việt, trên mảnh đất, thiên nhiên Việt.

Lê Đại Hành, mở đầu Lễ tịch điền. Khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Một lễ nghi trọng đại của Văn hóa Hoa Lư. Các vương triều sau tiếp tục noi theo. Lê Đại Hành là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông. Công trình đào sông Nhà Lê do Lê Hoàn khởi dựng là con đường giao thông thuỷ nội địa đầu tiên của Việt Nam. Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó đã trở thành phương châm hành động của các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

Lê Hoàn mở đầu và xác lập những nguyên tắc cơ bản của nền ngoại giao Đại Việt. Nhà Tống hùng mạnh nhất châu Á, nặng tư tưởng bành trướng, đã phải từng bước thừa nhận sức mạnh, thế lực của quốc gia độc lập Đại Cồ Việt. Họ phong Lê Hoàn các tước vị cao như Giao Chỉ quận vương, Nam Bình vương.

Phan Huy Chú đánh giá:

Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà Tống, tình ý và văn thư rất là chu đáo. Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài mà quốc thể được thêm tôn trọng làm cho người Bắc phải khuất phục.

Sứ thần Tống làm thơ tôn Lê Hoàn tài ba không khác gì vua Tống.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi:

“ Nhà vua còn bố trí sư Pháp Thuận giả làm người chở đò ra đón sứ giả Lý Giác. Câu chuyện hai người đã mượn bài thư Vịnh ngỗng của Lạc Tân Vương đời Đường để nối vần đối đáp với nhau nhân có hai con ngỗng bơi trên mặt sông, đã khiến Lý Giác rất thích thú và bị chinh phục, đã trở thành giai thoại thú vị trong bang giao và văn học. Sau đó, về sứ quán Lý Giác đã làm một bài thư gửi tặng ngỏ ý "tôn Lê Hoàn không khác gì vua Tống" như lời Khuông Việt đại sư nói”.

Lê Đại Hành đối phó với Chiêm Thành

Sau khi đánh bại quân Tống, giữ vững nền tự chủ. Lê Hoàn lại phải đối phó với nước Chiêm Thành ở phía Nam.

Học giả Đào Duy Anh viết:

Đây là lần đầu tiên quân Đại Việt đi đánh Chiêm Thành.

Chiêm đương thịnh, thế mà thua lần ấy, rồi cứ thế suy luôn cho đến mất, trừ thời kỳ oanh liệt ngắn ngủi của Chế Bồng Nga...

Cái việc bắt người Chiêm đem về cho khai khẩn đất hoang nghĩ cũng lạ. Hiển nhiên ngay ở châu thổ Bắc bộ thời ấy vẫn còn rất nhiều đất hoang. Hẳn di dân có góp vào văn hóa địa phương một sắc thái lạ mà bây giờ nếu nhìn thật kỹ trong một số trường hợp ta có thể nhận ra...

Theo Góc Nhìn © 2009-2020. Trong khi dân tộc Việt, nhân lúc nhà Đường suy bại. Giành được nước tự chủ. Thì nước Hoàn Vương, đổi tên Chiêm Thành. Cũng nhân cơ hội ấy, tự cường trở lại. Chiếm được tất cả phần đất từ Ải Vân đến Hoành Sơn. Dời kinh đô trở lại miền Quảng Nam, địa điểm Đồng Dương (Indrapura, trong huyện Thăng Bình). Thời kỳ Chiêm Thành thịnh trị. Nhiều cung điện chùa tháp được xây.

Nhà Tống thống nhất nước Tàu. Các vua Chiêm Thành, tiếp tục quỳ phục. Phía Nam, Chiêm Thành phải đối phó với sự uy hiếp của nước Chân Lạp đang cường thịnh. Nhưng ở phía Bắc, Chiêm Thành uy hiếp nước Việt mới dựng. Vươn ra phía ngoài Hoành Sơn. Nhân nội biến thời Đinh. Vua Chiêm tính kế, đánh Đại Cồ Việt.

Ngô Nhật Khánh là một sứ quân trong loạn 12 sứ quân. Hàng phục Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Tiên Hoàng bị giết. Nhật Khánh trốn sang nước Chiêm Thành. Ngô Nhật Khánh dụ người Chiêm vào đánh nước Việt, để báo thù. Nhật Khánh dẫn quân Chiêm từ đường biển, ra cửa Đại Ác (tức Đại An) và cửa Tiểu Khang (cửa Càn, ở phía bắc Thần Phù), định đánh úp Hoa Lư. Nhưng gặp bão lớn. Nhiều thuyền đắm. Quân Chiêm phải rút về.

Vua Lê Hoàn sai hai sứ giả sang thông hiếu với vua Chiêm. Sứ giả Việt, bị vua Chiêm bắt giam. Năm 982. Đánh bại quân Tống. Lê Hoàn cầm quân đánh Chiêm Thành. Tiến vào miền Quảng Nam, chiếm được kinh đô nước Chiêm (Đồng Dương). San thành trì. Phá cung điện. Vua Chiêm bỏ chạy.

Lê Hoàn thu được vô số của cải, châu báu. Bắt hàng trăm cung nữ và rất nhiều quân, dân về nước Việt. Dùng làm nô tỳ, cho khai đất hoang. Sau cuộc bại trận ấy. Vua Chiêm phải triều cống Đại Cồ Việt.

Sang thời nhà Lý. Vua Chiêm lấn cướp ven biển và không chịu thông sứ. Lý Thái Tông khởi binh đánh Chiêm Thành năm 1044. Nhà Lý bắt hơn 5.000 người. 30 con voi và Quách Gia Di, tướng Chiêm Thành Sạ Đẩu. Quốc vương Chiêm Thành, đem đầu sang xin hàng. Lý Thái Tông mang tù binh người Chiêm về nước Việt. Ban cho ruộng đất, lập phường, ấp. Từ đó về sau, nước Việt, bắt đầu phát triển về Nam. Nước Chiêm suy đốn dần.

Người Việt phát huy, sáng tạo Văn hóa- Tư tưởng Việt

Hơn ngàn năm Bắc thuộc. Người Việt bị nước Tàu đồng hóa. Bộ máy cai trị người Việt hoàn toàn theo cung cách cai trị Phản Khổng. Kiểu Tàu.

Kinh đô Hoa Lư Độc lập- Tự chủ. Sản sinh nhiều giá trị văn hóa thuần Việt. Là đất tổ của nghệ thuật sân khấu chèo. Do bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh sáng lập.

Theo internet. PGS. Bùi Duy Tân phát hiện bài thơ Nam quốc sơn Hà một kiệt lác văn chương, cũng đồng thời là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam xuất hiện đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất của Lê Hoàn.

Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu. Nam quốc sơn hà là bài thơ thần khuyết danh hoặc vô danh, nằm trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát xuất hiện đầu thời tự chủ (có thể tác giả là Đỗ Pháp Thuận thời Lê Hoàn).

Chương trình sách giáo khoa mới nhất. Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa Nam Quốc Sơn Hà vào dạy và học ở lớp 7 đã đề khuyết danh - không ghi tác giả. Nam Quốc Sơn Hà được Lý Thường Kiệt vận dụng ở lần kháng chiến chống Tống thứ hai.

Kiệt tác thứ hai, ở triều đại Lê Hoàn là một bài ngũ ngôn tuyệt cú của nhà sư Pháp Thuận. Bài thơ có tên tác giả xuất hiện sớm nhất. Được đặt vào vị trí khai sáng Văn học Cổ Việt Nam.

Bản phiên âm Hán-Việt:

Quốc tộ

Quốc tộ như đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh..
Nam thiên lý thái bình.


Bản dịch:


Vận nước

Vận nước như dây mây leo quấn quýt,
Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình.
Vô vi ở nơi cung điện,
[Thì] khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh
Vô vi cư điện các,


Để trả lời nhà vua "hỏi về vận nước ngắn dài", nhà sư đã dùng ngôn từ giản dị mà uyên thâm, bày tỏ chính kiến của mình: "Vận mệnh nước nhà dài lâu, bền vững khi nhà vua dựng mở được nền thái bình bằng phương sách ".

Các nhà nghiên cứu khẳng định nếu Nam Quốc Sơn Hà có giá trị như một bản Tuyên ngôn Độc lập, thì Quốc Tộ có giá trị như một bản Tuyên ngôn Hòa bình.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 21.5.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004