Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






PHÁT HIỆN MỚI VỀ CHÚ ĐẠI BI








Có lẽ gọi đó là phát hiện mới thì cũng không có gì sai, vì bao đời nay, CHÚ ĐẠI BI là Kinh Nhật Tụng của các tu sĩ. Phật tử cũng được khuyến khích trì tụng, vì cho là “chỉ cần thành kính tụng chú này thì được sự hộ trì của Chư Bồ Tát, cầu gì được nấy. Trước khi tụng lại phải chuẩn bị mọi thứ sạch sẽ, trang nghiêm. Lúc đọc cũng phải rõ ràng, giọng phải trầm hùng thì mới có hiệu quả”. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi đọc được những lời phát biểu đầy hoang mang của một số Phật Tử khi nhận được và gởi cho nhau bản dịch của dịch giả Huỳnh Bá Hinh (xin mạn phép dịch giả để phổ biến tiếp).

Trước khi nghiên cứu Đạo Phật được áp dụng theo kinh điển Đại Thừa tôi cũng thấy có đôi chút tò mò về Mật Tông, vì theo lời giới thiệu ở đầu quyển Kinh của Ô. Ngô Trọng Anh, một Cư Sĩ nổi tiếng ở Saigon trước 75: “Mật Tông là phương tiện thiện xảo cho người hành trì đã và đang được duy trì bên Tây Tạng và Thiên Trúc mà những Cao Tăng đi vào con đường giải thoát bằng Phép Thuật”. Do đó, tôi cũng có đọc qua, nhưng không nghiên cứu sâu về Tông này, vì thấy đa phần trong Kinh hướng dẫn khi Lập Đàn, Đọc Chú, đều vì mong cầu, trong khi mục đích của người Phát Tâm tu hành chân chánh thật sự là vì thấy cuộc đời là Khổ, nên vào tu hành là mong muốn Thoát Khổ, không phải để cầu những điều hơn thua trong cuộc sống. Nhưng Kinh viết:

Lập Đàn số 3: muốn biết việc vị lai. Số 15: Cầu hơn trong tranh tụng, đấu tranh. Số 19: Cầu giàu có, nhiều của báu. Số 20: Khiến người kính thương, vui mừng. Số 26: Hai bên giao tranh cầu chiến thắng.

Người vào tu Phật vì thấy rằng cuộc đời là giả tạm, nên phát tâm đi tu để tìm Chân Lý Thường Còn. Kinh Mật Tông lại dạy những điều mong cầu đáp ứng cho cái Giả Ngã được thuận lợi hơn người. Như thế sao gọi là tu hành để Xả cái Giả Ngã?

Nhưng nếu chưa biết trong đó chứa đựng những gì mà vội bài bác thì cũng không đúng với tinh thần người muốn học hỏi. Thế là tôi đã để thêm một số thời gian, đọc Kinh CHUẨN ĐỀ ĐÀ LA NI để xem sự khác biệt giữa HIỂN TÔNG với bao nhiêu Pháp cần Tư Duy, Soi Quán, Thực Hành, so với MẬT TÔNG Lập Đàn, Kết Ấn, gọi là tu theo PHÉP THUẬT như thế nào?

Mở đầu Kinh, tôi thấy giải thích: “Một đời thuyết pháp của Đức Như Lai, giáo lý của Ngài chia ra làm 3 Tạng, gọi là KINH, LUẬT, LUẬN. Tạng Giáo tuy phân ra làm ba, nhưng không ngoài Hiển Giáo và Mật Giáo.

Hiển Giáo nói rộng Tánh, Tướng để hiểu ngộ lý mầu, tu chứng Pháp Thân. Mật Giáo chỉ khiến tụng trì được thầm lên Thánh vị và vượt ra ngoài sự hiểu biết”.

Theo chỗ tôi hiểu thì mãi sau khi Phật nhập diệt 200 năm mới có Kinh điển thì thời đó làm sao có Kinh mà tụng, lại chỉ cần tụng mà lên Thánh Vị? Như vậy, thời Phật hiện tiền Kinh chưa có, thì các vị Giác Ngộ lấy đâu mà tụng để đắc Quả Thánh? Hơn nữa, nếu nói Kinh này cho người cuối Đại Thừa, mà theo Đại Thừa, thì Quả Vị “chỉ là hóa thành cho người tu lâu không thấy đạt được gì thì sợ họ nản lòng”, nên Phật tạm đặt ra, để cho họ vì ham muốn, mà tiếp tục hành trì. Mục đích tu hành của Đạo Phật là để được Giải Thoát, đâu phải để đạt Quả Vị? Nhưng tôi cũng đọc tiếp để thấy phần Kinh văn viết khá nhiều câu Chú bằng tiếng Phạn, và người muốn cầu mong điều gì thì Lập Đàn, Tụng Chú và Bắt Ấn bằng cách đan những ngón tay với nhau tương ng với câu Chú. Nhưng phần câu Chú thì không giải nghĩa hết, chỉ giải thích một số từ. Chính vì vậy Chú mà trở thành mật ngữ, vì người đọc không biết tiếng Phạn thì làm sao hiểu nội dung câu Chú có ý nghĩ gì. Do đó, họ cứ đọc, chọn những Đàn mà họ cần, mục đích để mong cầu mà thôi. Chẳng biết xuất phát từ đâu mà có nhiều người còn cho rằng “càng không hiểu ý nghĩa thì mới càng linh ứng”!

Phần Lập Đàn, Bắt Ấn thì tùy theo sự kết hợp của những ngón tay với nhau mà Ấn có những tên gọi khác nhau, và để mong đạt mục đích khác nhau. Nhưng xem kỹ thì thấy: Mỗi ngón tay tượng trưng cho một việc làm:

- Năm ngón bên trái tượng trưng cho: TRÍ, HUỆ, TIỆN, NGUYỆN, LỰC.

- Năm ngón bên phải tượng trưng cho ĐÀN, GIỚI, NHẪN TẤN, THIỀN.

Đó là mười việc mà người tu theo Hiển Tông phải thực hành theo Luật Nhân Quả. Tôi tin rằng không thể nào chỉ dùng mấy ngón tay kết vào nhau mà cho rằng mình đã thực hành những pháp đó, sẽ mang lại kết quả như mong muốn!

Đọc hết quyển Kinh, tôi thấy trong đó có ghi rõ: “Người tu theo Mật Tông cũng phải có GIỚI, ĐỊNH, HUỆ”. Kinh cũng dặn dò những cách thức trước khi khởi ý muốn LẬP ĐÀN. Dặn dò khi muốn cầu mong việc gì, thì cần làm những điều gì? Qua đó, tôi cho rằng đó chẳng qua là phương tiện của Chư Vị Giác Ngộ đặt ra để người thích những gì cao siêu, huyền bí, đinh ninh đây là pháp cao của Đạo Phật để thực hành theo đó. Do vậy, trước khi khởi tâm mong đạt được điều gì đó thì họ bắt buộc trước đó phải hành một số pháp mà đối chiếu lại thì thấy không khác với bên Hiển Tông. Nhưng hình như đa phần người Lập Đàn chỉ nhắm vào Đàn mà bỏ quên những điều cần thực hành trước khi Lập!

Thật vậy, nếu có GIỚI, có ĐỊNH, có HUỆ tôi tin rằng không ai khởi tâm tranh hơn thua, hay mong muốn được điều nọ điều kia mà không phải do sức của mình làm tương ứng với Luật Nhân Quả. Hơn nữa, cuối Kinh còn có lời dặn dò người Lập Đàn: “Phải biết tội có tánh tội và giá tội, sám hối phải đủ sự, lý. Tánh thời không luận Thọ Giới hay không Thọ Giới, làm là có tội”.“Nếu phạm cấm Giới, căn cứ theo luật nói sám hối, gia thêm Thần Chú, thời sự, lý gồm đủ, tánh giá đều tiêu hết không sót. Không thể vừa nghe công lực của thần chú như thế, liền trái lại phạm cấm Giới, không y luật sám hối thì giá tội cũng phải còn. Hoặc nhờ nương nghi quỹ Chơn Ngôn lại tạo thêm các lỗi. Thí như người ngu, ỷ thế lực của Vua, rộng tạo các ác, họa trọn đứt đầu. Nghiệp tâm không dứt, tội thật khó trừ, quyết khiến thân tâm điều tiêu mới được tội diệt, như ánh mặt trời sương mù tiêu tan. Rõ ràng là lời cảnh báo mạnh mẽ cho những ai mong nương nhờ Công Lực của Thần chú để tiếp tục tạo ác. Từ đó tôi không còn thắc mắc về Mật Tông nữa, dù nghĩ rằng hẳn phải có một số linh ứng nhất định nào đó, nên nhiều người mới tu theo.

Cách đây vài tháng, có người gởi cho bài TÌM VỀ CHÚ ĐẠI BI của dịch giả Huỳnh Bá Hinh. Dịch giả cho rằng vì thuở nhỏ nghe thấy các Sư tụng bằng một ngôn ngữ lạ hoắc “bà dô bà ra” không hiểu gì. Ông tò mò hỏi nhiều vị thầy thì được trả lời: “Đó là chú của nhà Phật, bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn, nói ra thì sợ mất linh ứng”. Nhưng khi lớn lên, ông tìm hiểu thì biết bài chú đó có tên là “Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni”, do Bồ Tát Quán Thế Âm tuyên chú trước hội các Chư Phật, Bồ Tát.

Theo dịch giả, rất nhiều Kinh đã được dịch ra tiếng Việt thì cũng có một số chỉ chuyển từ phiên âm chuyển sang phiên âm khác để trở thành tối nghĩa, thậm chí người Trung Hoa đã y theo 84 câu để chế ra 84 hóa thân của Đức Quán Âm, trong khi nguyên văn chỉ có 36 câu. Xin được trích lại nguyên văn bài dịch, mạn phép bỏ đi phần viết bằng tiếng Phạn vì có lẽ có viết ra cũng không có ai hiểu nổi:


Câu 1: Nam Mô Hắc Ra Đát Na Ra Dạ Da (thành kính đảnh lễ ngôi Tam Bảo)

Nam Mô A Rị Da Bà Lo Yết Đế Thước Bát Ra Da (thành kính đảnh lễ Đức Quán Tự Tại - Đức Quán Thế Âm)

Câu 2: Bồ Đề tát đỏa bà da ma ha tát đóa bà da ma ha ca lô ni ca da (bậc Bồ Tát giác ngộ hữu tình - bậc đại sĩ - bậc đại bi tâm)

Câu 3: Án tát bản ra phạt duệ số đát na đát tá (tán thán việc quy y nhất thiết thánh chúng và chánh pháp tùy thuộc)

Câu 4: Nam Mô tất kiệt tật đóa y mông a rị da bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đá bà Nam Mô na ra cần tri hê rị (Sau khi hoàn tất việc đảnh lễ đấng quán Tự Tại Quán Âm Đại từ Bi Tâm Địa tiếp đến thành kính đảnh lễ các bậc đại chí thánh, bậc hiền thiện tôn giả).

Câu 5: ma-ha bàn đa sa mê (Phóng ra ánh sáng đại quang minh)

Câu 6: Tát bà tát ba a tha đậu du bằng a thệ dựng Tát bá tát da na ma bà tát đa (Khiến cho hết thảy chúng sanh nhất thiết được vô ưu tý bỉ vô tham và trong sạch diệu tịnh)

Câu 7: Na ma bà tát da Nam ma bà dà Ma phạt đạt đậu

(Từ đó, hướng tâm đảnh lễ quy y bậc thiện hữu tình, quy y bậc đồng từ mà trời và người đều hằng mong thân cận).

Câu 8: Dát diệt tha Án A bà lo hê Lo ca đế (Thần chú tuyên ra: Hợp nhất thể đại đồng với Quán Tự Tại)

Câu 9 & 10: Ca ra đế Di hê rị Ma ha bồ đề tát đỏa Tát bà tát bà Ma ra ma ra (Từ người phát đại bi tâm đến nhất thiết các đại giác hữu tình như hoa thanh tịnh vô nhiễm lan ra khắp nơi chốn)

Câu 11 & 12: Ma hê ma hê ra đà dựng

(phát đại tự tại tâm hăng hái thường tạo nên các thiện nghiệp)

Câu 13 &14: Cu lô cu lô yết mông Đô lô đồ lô phạt xà da đế Ma ha phạt xà da đế Đà la đà ra Địa rị ni Thất Phật ra da (mới có năng lực độ thoát khỏi các triền phược và vượt thẳng lên được, phải ráng sức duy trì cho có được tâm kiên cố dũng mảnh tự tại)

Câu 15: Giá ra giá ra Ma mạ phạt ma ra Mục đế lệ (lâu dần cho biến hóa dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm)

Câu 16 & 17: Y hê di dê Thất na thất na Ra sâm Phật ra xá lợi Phạt sa phạt sâm Phật ra xá da (nương theo đó mà thực hiện hoằng pháp hởi vị Pháp vương tử chủ của hòa bình).

Câu 18 & 19: Hồ lô hô lô ma ra Hô lô hô lô hê ly (tiếp tục tu hành, tiếp tục làm sạch thân và làm sạch tâm - thanh tẩy thân tâm)

Câu 20 & 21: Ta ra ta ra Tất rị tất rị Tô rô tô rô Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ Bồ đà đa bồ dà dạ (với tâm đại từ đại bi khi người đã thành tựu trong việc giải thoát tương ứng với vạn pháp, thành tựu trong đức hạnh)

Câu 28 & 29 & 30: Ma ra na ra Ta bà ha Tất ra răng a mục khê da Ta bà ha Ta bà ma ha a tất dà dạ Ta bà ha (Thành tựu trong diệu nghĩa vô cấu, thành tựu không ai có thể sánh khi nói ra có sức thuyết phục, thành tựu ai có thể sanh trong tất cả các ý nghĩa sâu sắc)

Câu 31 & 32: Giá kiết ra a tất đà dạ Ta bà ha Na đà ma kiết tất đà dạ Ta bà ha

(thành tựu không ai sánh trong chuyển pháp luân, thành tựu không ai sánh trong đóa sen đỏ tượng trưng cho diệu tịnh nghiệp)

Câu 33 & 34: Na ra cần trì bàn đá ra dạ Ta bà ha Ma bà rị thắng yết ra dạ Ta bà ha ( thành tựu trong việc trở thành Đức Thế Tôn, thành tựu trong đem uy đức của mình tạo ra tín nhiệm cho mọi người)

Câu 35: Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da Nam mô a rị da Bà lô kiết đế Thước bàn ra dạ Ta bà ha (thành kính đảnh lễ ngôi tam Bảo, thành kính đảnh lễ đức Quán Tự tại, Đức Quán thế Âm)

Câu 36: Án Tất diện đô Mạn đà ra Bạt đà gia Ta bà ha

(tuyên chú: hiệp nhất các thành tựu viên mãn, đạt được sự viên mãn thành tựu đó qua trì tụng lời chân ngôn này).


Việt dịch của trọn bài chú như sau:

Thành kính đảnh lễ Ngôi Tam Bảo. Thành kính đảnh lễ Đức Quán Tự Tại Quán Thế Âm, Bậc Bồ Tát giác ngộ hữu tình, bậc Đại Sĩ, bậc Đại Bi Tâm. Tán thán việc quy y nhất thiết Thánh Chúng và chánh pháp tùy thuộc. Sau khi hoàn tất việc đảnh lễ đấng Quán Tự Tại Quán Âm Đại Bồ Tát Đại Từ Bi, tiếp đến thành kính đảnh lễ các bậc Đại Chí Thánh, bậc Thiện Hiền tôn giả. Phóng ra ánh sáng đại quang minh khiến cho hết thảy chúng sinh nhất thiết được vô ưu tý bỉ vô tham và trong sạch diệu tịnh. Từ đó hướng tâm đảnh lễ quy y bậc thiện hữu tình, quy y bậc đồng tử mà trời, người đều rất mong thân cận.

Thần chú tuyên ra: Hợp nhất thể đại đồng với Quán Tự Tại. Từ người phát Đại Bi Tâm đến nhất thiết các đại giác hữu tình như hoa thanh tịnh vô nhiễm lan ra khắp nơi chốn phát Đại Tự Tại Tâm, hăng hái thường tạo nên các thiện nghiệp mới có năng lực độ thoát khỏi các triền phược và vượt thẳng lên được, phải ráng sức duy trì có được tâm kiên cố dũng mãnh tự tại, lâu dần cho biến hóa dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm. Nương theo đó mà thực hiện hoằng pháp bởi vị pháp vương tự chủ của hòa bình. Tiếp tục tu hành, tiếp tục làm sạch thân và làm sạch tâm - Thanh tẩy thân, tâm. Với Tâm Đại Từ Đại Bi khi người đã thành tựu trong việc giải thoát tương ưng với vạn pháp, thành tựu trong đức hạnh, thành tựu trong diệu nghĩa vô cấu, thành tựu không ai có thể sánh khi nói ra có sức thuyết phục, thành tựu không ai có thể sánh trong tất cả các ý nghĩa sâu sắc, thành tựu không ai sánh trong chuyển pháp luân, thành tựu không ai sánh trong đóa sen đỏ tượng trưng cho diệu tịnh nghiệp, thành tựu trong việc trở thành Đức Thế Tôn, thành tựu trong đem uy đức của mình tạo ra tín nhiệm cho mọi người. Thành kính đảnh lễ ngôi Tam Bảo, thành kính đảnh lễ Đức Quán Tự Tại, Đức Quán Thế Âm. Tuyên chú: Hiệp nhất các thành tựu viên mãn, đạt được sự viên mãn thành tựu đó qua trì tụng lời chơn ngôn này”.

Rõ ràng toàn bài chú toàn là những việc cần phải hành trì để trở thành Đức Thế Tôn, bằng cách: Hăng hái tạo các thiện nghiệp, thanh tẩy thân, tâm, hiệp nhất với Ngài Quán Tự Tại, với tâm Đại Từ, Đại Bi để đạt được thành tựu trong giải thoát vô nhiễm, trở thành Đức Thế Tôn.

Phải chi những vị có trách nhiệm phổ biến Đạo Phật trước kia đã chịu khó dịch hết nguyên văn bài Chú Đại Bi này, thì biết bao nhiêu thế hệ qua đã không mang ra mà tụng, mà đọc để được hộ trì, mà hiểu được rằng: Đó là những lời nhắc nhở mà chúng ta nên tâm niệm, đọc đi đọc lại hàng ngày cho tới lúc thấm nhuần những hướng dẫn trong đó, rồi mang ra thực hành.

Xin trích một phần trong lời của dịch giả Huỳnh Bá Hinh: “Người xưa có nói, làm thầy thuốc phạm sai lầm thì giết một mạng người, làm chính trị sai lầm giết một dân tộc, nhưng làm văn hóa sai lầm thì giết cả một thế hệ.

Trong những bài Kinh tiếng Phạn được phiên âm sang tiếng Hán rồi lại phiên âm lần thứ nhì qua tiếng Hán-Việt tối nghĩa trên, đây không những là giết một thế hệ mà trên ngàn năm qua đã giết cả một nền đạo học tâm linh của biết bao thế hệ người Việt. Tệ hại nhất là hàng Tăng chúng với kỹ thuật hiện đại ngày nay lại không tìm hiểu nghiên cứu để phục hồi lại ý tưởng thâm diệu ban đầu của Kinh tạng, chẳng những vậy, y cứ trên hàng cư sĩ không hiểu rõ đạo, các thầy giảng dạy tùy hứng tùy tâm sở tri kiến của các thầy đến với người nghe rõ ràng là đem hạ kinh điển chư Phật xuống ngang hàng với kiến thức không thể nghĩ bàn của bản thân mình.

Phật pháp thậm thâm vi diệu cứ như thế được một số tăng chúng vô minh lợi dụng”.

Theo tôi, nếu nghiên cứu cho kỹ thì sẽ thấy Phật Pháp thật ra không có quá thậm thâm vi diệu, trái lại, mà hết sức thực tế, vì dùng Nhân Quả để giáo dục con người. Mục đích chỉ để giáo hóa con người CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để cuộc sống hiện đời và những kiếp về sau đều được an vui, hạnh phúc. Chỉ có điều Đạo Phật đã dùng quá nhiều phương tiện, cho nên dễ gây ra hiểu lầm, nhất là với những người không chịu tìm hiểu cho kỹ, cứ “vừa mới nghe đã vội tin nhận, suy gẫm để chứng lấy” (trích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa).

Thật vậy, đa phần người Phật Tử, kể cả nhiều Cao Tăng, dù cũng nói rằng Đạo Phật là Đạo Giải Thoát, nhưng khi thực hành thì đều cho rằng Phật là thần linh, luôn đặt trọn niềm tin vào sự cứu độ của Phật, để rồi làm gì cũng hướng về Phật, nghĩ đến Phật, cầu xin Phật, tôn sùng, phụng sự cho Phật, mà không biết rằng từ PHẬT chỉ để nói về tình trạng giải thoát mà Đức Thích Ca và Chư Vị Giác Ngộ quá khứ đã đạt được, và tất cả mọi người, hiện tại, tương lai, ai làm giống như thế cũng đều có thể đạt được. Chính vì vậy mà Đạo Phật gọi là có TAM THẾ PHẬT, không phải Tam Thế Phật là Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc như nhiều người đã hiểu sai.

Do hiểu rằng Phật là thần linh, cho nên nhiều người tu dù hành trì bao nhiêu hạnh cũng xem như để “kể công với Phật”, không phải là để bản thân mình cũng được Giải Thoát hay THÀNH PHẬT.

Trong bài chú này, ta thấy viết lại hành trình để thành ĐỨC THẾ TÔN, là “Cứu độ chúng sanh (Phóng ra ánh sáng đại quang minh khiến cho hết thảy chúng sanh nhất thiết được vô ưu tỷ bỉ, vô tham và trong sạch diệu tịnh). Để làm được điều đó thì phải: Phát Đại Tự Tại Tâm, hăng hái thường tạo nên các thiện nghiệp mới có năng lực độ thoát khỏi các triền phược và vượt thẳng lên được. Phải ráng sức duy trì cho có được tâm kiên cố dũng mãnh tự tại lâu dần cho biến hóa dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm.

Sự kiên trì này phải được tiếp tục nuôi dưỡng: Tiếp tục tu hành, tiếp tục làm sạch thân và làm sạch tâm - thanh tẩy thân, tâm. Người hành trì như thế sẽ thành tựu trong việc giải thoát với các pháp, thành tựu trong đức hạnh, thành tựu trong chuyển pháp luân, trong đóa Sen Đỏ tượng trưng cho tịnh nghiệp, thành tựu trong việc trở thành Đức Thế Tôn.

Qua bản dịch CHÚ ĐẠI BI được làm rõ, dù chỉ có 36 câu, nhưng những gì được viết trong đó là tóm tắt những gì cần hành trì, là: Mọi người cần tự tinh tấn thanh lọc Thân, Tâm, để Sen Đỏ được nở, được trở thành Đức Thế Tôn. Tôi nghĩ, có lẽ không chỉ Bài Chú Đại Bi này, mà có thể còn rất nhiều tài liệu khác, do người trước không dịch hết nghĩa tiếng Phạn, nên người sau không hiểu được những ý nghĩa chân chính, do đó mà trở thành “xa kín nhiệm sâu, linh thiêng, huyền bí”. Mà đã xa kín nhiệm sâu, không thể hiểu đó là gì, thì làm sao Hành để đạt tới?

Đạo Phật đã có mặt ở trần gian gần 3.000 năm rồi. Lẽ ra với thời gian dài như thế thì mọi giáo điều, mọi lời Phật dạy, đã được những người có trách nhiệm nghiên cứu cho thật kỹ rồi mới truyền bá cho bá tánh để phổ biến cho mọi người, mọi giới. Không phải cứ “xưa bày, nay làm”, cứ thế mà thế hệ trước truyền cho thế hệ sau và tiếp nối, không cần quay lại nguồn gốc cho phù hợp với một Đạo Phật do Đức Thích Ca thuyết giảng. Vì đã qua gần 3.000 năm, qua biết bao nhiêu thế hệ, mọi thứ đều bị biến dịch bởi không gian, thời gian, những nhà tu hành tùy tiện chế biến theo hiểu biết của mình nên trở thành sai lạc với một ĐẠO GIẢI THOÁT mà tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh, vừa có thể tu sửa bản thân, vừa trực tiếp đóng góp cho xã hội, không chỉ gò bó trong khuôn viên Chùa, làm phí phạm biết bao nhiêu tài năng, sức trẻ, vì cho rằng muốn đi tu là phải bỏ hết việc đời, phải Xuất Gia, phải đầy đủ hình tướng mới có thể tu hành thành công!

Đọc hết giáo pháp của Đạo Phật ta sẽ thấy: Tất cả những Quả vị, những cõi nọ, cõi kia chỉ là những phương tiện dụ người tu thôi đeo bám trần cảnh để khỏi Khổ, vì mục đích tu hành của Đạo Phật thật ra chỉ là để Thoát Khổ. Đạo Phật được gọi là ĐẠO ĐỘ KHỔ. Tu hành theo Đạo Phật mục đích là để được Thoát Khổ, không phải để thành Thánh, thành Phật theo nghĩa là thành một vị Thần Linh! Và cái Thoát Khổ đó phải được diễn ra ngay tại cảnh Khổ. Không phải xây tường rào che chắn hay né tránh các pháp.

Đối chiếu với cuộc đời ta sẽ thấy: Cũng giống như những người vì cuộc sống thường phải đi lại trên sông nước nên cần phải học bơi để không bị nước nhấn chìm. Học bơi là để tiếp tục đi trên sông nước. Đâu phải học bơi rồi dọn lên bờ ở để khỏi bị nước xâm phạm? Đạo Phật đâu có dạy người tu học Pháp để rồi né tránh các Pháp, không cho nó chạm đến mình? Nếu né tránh thì sao gọi là Thoát Pháp? Việc Độ KHỔ cũng thế. Đạo Phật chỉ cho chúng ta biết rằng mỗi người đều có KHẢ NĂNG THOÁT KHỔ, đó là cái PHẬT TÁNH. Chỉ cần mỗi người ý thức được điều đó, rồi theo hướng dẫn của Đạo Phật để tìm gặp và khai thác khả năng đó nơi mình để tự mình Giải Thoát gọi là Thành Phật, đâu có phải để cầu mong Phật của Đức Thích Ca cứu độ hay giải thoát giùm cho ta?

Cũng do những người đi trước đã hiểu sai rồi truyền bá lại, làm cho Đạo Phật bị hạn hẹp, biến người tu Phật lại trở thành những người vô trách nhiệm với cuộc đời, đứng bên lề cuộc đời, vô cảm với đời, không thực hiện đúng như mong mỏi của đấng sáng lập. Thật vậy, phải chăng Đạo Phật dạy người tu xong phần mình thì phải đền đáp TỨ ÂN? Như vậy, nếu ta chỉ đền ÂN PHẬT bằng cách bỏ cha mẹ, vợ chồng, con cái, bỏ hết mọi trách nhiệm với xã hội để vô chùa phụng sự cho Phật, vậy thì Ba Ân kia chúng ta làm sao báo đáp? Như vậy ta sẽ trả lời thế nào khi đối chiếu với lời Phật dặn dò? Cho nên, theo tôi, nếu thật sự chúng ta đã quyết tâm chọn Đạo Phật để theo. Sẵn sàng hy sinh cuộc đời để phụng sự cho Phật thì tốt nhất là chúng ta nên học cho hết Giáo Pháp của Đức Thích Ca, tìm hiểu cho thật kỹ đâu là NGỮ, đâu mới thật sự là NGHĨA, để trả lại cho Đạo Phật những gì thuộc về Đạo Phật. Gạt bỏ đi những nghi thức cúng tế rườm rà, Cầu An, Cầu Siêu bị lai căng bởi các Thần Giáo khác, vì chính Đức Thích Ca cũng chỉ Tự Độ cho bản thân Ngài. Con một của Ngài còn phải đi tu, sao ta lại nghĩ Ngài sẽ Độ cho mình? Nên thực tế nhìn ra thế giới, ngay chính tại Népal là quê hương của Phật mà bệnh tật, đói, nghèo, tội ác vẫn triền miên diễn ra. Năm vừa qua còn mấy trận động đất sụp đổ bao nhiêu Tháp Cổ, giết chết gần 9.000 con người! Chẳng lẽ chưa đủ cảnh tỉnh ta? Nếu Phật đã độ được hẳn Ngài đã ra tay, đâu đợi mọi người cầu xin mỏi mòn? Ba ngàn năm rồi chớ đâu phải một vài năm mà cho rằng Phật chưa nghe thấy? Vậy mà vẫn còn những người cứ hô hào, vận động cất Chùa cho thật hoành tráng để cạnh tranh với các nước trong khu vực. Ngày càng dùng chất liệu cho thật quý, tạc cho thật to, xây những tượng vĩ đại để hao phí bao nhiêu tiền bạc của bá tánh mà lẽ ra để giúp cho người nghèo thoát Khổ hay giúp cho đất nước vượt qua khó khăn, đi đến phồn thịnh hơn một cách thực tế, thì lại kêu gọi mọi người cứ cầu xin rồi ngồi chờ Phật cứu trong khi Ngài hoàn toàn không thể làm được?

Chính vì vậy, tôi nghĩ, trước hết là những vị có nhiệm vụ hướng dẫn các Phật Tử cần rà soát lại cái hiểu về Đạo Phật của mình coi đúng Chánh Pháp hay chưa? Trong khi Giáo Pháp của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa lúc nào cũng nói Đạo Phật là Tự Độ mà Chùa nào cũng cứ sớm tối chuông mõ, hương khói để cầu xin mà không thấy là đang đi ngược với lời Phật dạy: “Kẻ nào ca tụng ta, tán thán ta mà không hành theo lời ta chỉ dạy, kẻ đó đang phỉ báng nặng nề ta”. Theo tôi, đến thời này, mọi thứ đã được các vị giác ngộ lần lượt khai sáng thì chúng ta cũng đừng nên tiếp tục tự huyễn hoặc mình để thật sự quay về với Chánh Pháp. Thay vì nghĩ rằng đi tu là để phụng sự cho Phật, thì ta nên thực hành theo đúng Chánh Pháp bằng cách để Thành Phật, thực hiện lời Thọ Ký: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” như mong mỏi của Phật theo lời Kệ trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA:

Xá Lợi Phất nên biết.

Ta muốn tất cả chúng.

Bằng như ta không khác”.

Bằng như ta” tức là Thành Phật hay thành Đức Thế Tôn bằng những việc làm mà bài CHÚ ĐẠI BI đã đề cập một cách rõ ràng. Như vậy mới thật sự là Đệ Tử của Phật, bằng không thì rõ ràng ta chỉ là chỉ là những “Gã Cùng Tử” như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã chê trách, tiếp tục “mang Phật ra mà lạy Phật” như Tổ Đạt Ma đã cảnh báo.

Điều đáng buồn là nước ta Tu Sĩ gần 600.000 vị, vậy mà phải đợi một Cư Sĩ bỏ thì giờ ra đi học tiếng Phạn và dịch để nhiều người mới có thể hiểu được trọn bài Chú ĐẠI BI! Đó phải chăng là điều đau lòng cho người tu hành cũng như Phật Tử, thấy rằng bao nhiêu thế hệ qua đã bị chồng mê một cách oan uổng để truyền nhau, cứ tin rồi hàng ngày đọc tụng theo đó rồi chờ mong mỏi mòn!

Dù vậy, theo tôi, muộn còn hơn không bao giờ. Đã đến lúc người tu Phật cần mạnh dạn thực hiện những công việc mà CHÚ ĐẠI BI hướng dẫn. Đó là giai đoạn khởi đầu cho việc hiểu và đưa Đạo Phật quay về đúng với Chánh Pháp: Quay về tìm Phật ở nơi Tâm của mình. Không còn nương tựa, cầu xin Phật ngoài. Tu Phật là để Thành Phật, là phải Thành Phật, Phật như những gì mà Đức Thích Ca và chư Vị Giác Ngộ mong mỏi. Không phải để núp bóng Từ Bi của Phật! Không cứ máy móc niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà không hiểu đó là ý nghĩa của việc “hướng về ánh sáng soi suốt mười phương không ngăn ngại”. Soi suốt đó có nghĩa là trong Tâm của mình không còn tồn tại 10 điều Tà. Vì vậy, theo tôi, thay vì tin theo Tà Pháp để chính bản thân mình đi lạc mục tiêu của Đạo Phật. Hy sinh cuộc đời một cách oan uổng, lại truyền bá cái sai, nhân số người mê càng nhiều thêm lên! Theo Luật Nhân Quả thì dù do cố tình hay do hiểu lầm mà chồng mê cho người khác thì đều phải trả giá. Tích CON TRÂU của Ngài Quy Sơn trong Quy Sơn Cảnh Sách mà tất cả người vào tu đều phải học qua để thấy cái Quả của những người lợi dụng của thường trụ là không phải nhỏ. Không phải chỉ “chết là hết”. Đó là điều đáng sợ cho ai có chút hiểu biết về Nhân Quả vậy!


Tháng 10/2015



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 21.5.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004