Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



NHÂN NGÀY GIỖ TỔ,

NHỚ VỀ THỜI ĐẠI

HÙNG VƯƠNG – AN DƯƠNG VƯƠNG








Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 ÂL) - Lễ hội Đền Hùng 2016

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2016 nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương; tiếp tục tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về di sản thế giới Hát Xoan và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; xây dựng Khu di tích lịch sử Đền Hùng xứng tầm là di tích đặc biệt cấp quốc gia… Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm nay diễn ra trong 5 ngày, từ 12 đến 16-4-2016 (tức từ ngày 6 đến 10-3 âm lịch) tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng và các xã, phường vùng ven Đền Hùng. Lễ hội do tỉnh Phú Thọ chủ trì, có sự tham gia của tỉnh: Hưng Yên, Bình Thuận và Cà Mau. Phần lễ cơ bản vẫn giữ ổn định như các năm trước, gồm: Lễ dâng hương tưởng niệm các vua Hùng (TP. Việt Trì tổ chức), Lễ giỗ Đức Quốc tổ Lạc Long Quân, Lễ dâng hương tưởng niệm Tổ Mẫu Âu Cơ, Lễ rước kiệu về Đền Hùng của các xã, phường, thị trấn vùng ven Khu di tích và Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

- Giỗ tổ Hùng Vương 2016 tại TP.HCM diễn ra từ ngày 15 - 17/4 (mùng 9 - 11/3 âm lịch) tại khu tưởng niệm các vua Hùng, Long Bình (Quận 9. 30 bia đá mang về từ các đảo ở Trường Sa cũng được trưng bày tại nơi này.

Triết lý nhân sinh trong huyền tích thời Hùng Vương Bài học về sức mạnh đoàn kết: Ai là con dân đất Việt đều mang trong tâm hồn mình niềm tự hào về dòng dõi Tiên Rồng, về nguồn cội thiêng liêng và cao quí. Những truyền thuyết về nguồn cội của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ truyền thuyết về Lạc Long Quân - Vị Quốc Tổ của muôn dân Đất Việt và Đệ nhất Tiên Thiên Công chúa - Quốc Mẫu Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng rồi do điều kiện sinh tồn và môi trường sống, mỗi người dẫn 50 người con đi về một phương trời để “khai thiên phá thạch”, tạo lập giang sơn.- mà người con trường là vua Hùng Vương. -UNESCO đã công nhận Hai Di sản văn hoá phi vật thể: 1/ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (6/12/2012) -2/ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Hà Nội (16/11/2010) là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng rõ diễn biến các trận đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân .- Mội Di sản văn hóa: Hát Xoan ờ Phú Thọ (24/11/2011) mà người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. -

THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG – AN DƯƠNG VƯƠNG

Được xem là thời kỳ hình thành tính cách, lối sống, truyền thống dân tộc và để lại dấu ấn không bao giờ phai trong lịch sử Việt Nam.

Những tiến bộ cuối thời tiền sử và việc sử dụng kim loại đồng thau khoảng hơn 4.000 năm cách ngày nay ở Việt Nam đã đưa cư dân cổ bước vào thời đại mới: Thời sơ sử – Thời đại kim khí. Vào thời sơ sử trên đất nước đã hình thành 3 trung tâm văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là Văn hóa Đông Sơn - Hùng Vương dựng nước Văn Lang ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; Văn hóa Sa Huỳnh ở Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ; Văn hóa Đồng Nai ở Nam Bộ.

Ba trung tâm văn hóa ở Việt Nam trong thời sơ sử nói trên đã có sự phát triển hoàn toàn độc lập và khác biệt so với các văn hóa cùng thời như Thương - Chu của Trung Quốc và Vệ Đà của Ấn Độ. Nhưng bước ngoặt lịch sử vào năm 179 tr. CôngNguyên đối với Văn Lang - Âu Lạc và sự du nhập ồ ạt của người Ấn Độ sang vùng Đông Nam Á vài thế kỷ tr.CN đã làm lụi tàn sự phát triển ấy và đưa lịch sử theo một chiều hướng khác mà hệ quả của nó còn kéo dài đến tận sau này.

Văn hóa Đông Sơn – Hùng Vương dựng nước Văn Lang

Sau hàng ngàn năm định cư, cư dân Việt cổ đã biến nơi đây thành trung tâm văn minh lúa nước phát triển liên tục từ thời đại đồ đá sang thời đại kim khí với 4 giai đoạn: Văn hóa Phùng Nguyên – Phú Thọ (sơ kỳ đồ đồng), Văn hóa Đồng Đậu – Phú Thọ (trung kỳ đồ đồng), Văn hóa Gò Mun - Phú Thọ (hậu kỳ đồ đồng) với niên đại hơn 4.000 – 2.500 năm CN và Văn hóa Đông Sơn (sơ kỳ đồ sắt khoảng 2.500 năm CN), trong đó văn hóa Đông Sơn (Thanh Hóa) phát hiện từ năm 1924 CN là tiêu biểu nhất.

Sự phong phú đa dạng của các vật dụng chứng tỏ cư dân Đông Sơn có một cuộc sống tương đối tiến bộ với nhiều loại nghề: luyện kim đúc đồng, rèn sắt, chế tác đá, chế tạo đồ gốm, thuỷ tinh, nghề mộc và sơn, kiến trúc, đóng thuyền, dệt vải, đan lát… phục vụ cho các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, mặc, ở, đi lại.

Trên lĩnh vực tinh thần, người Việt cổ đã sáng tạo và thưởng thức các loại hình nghệ thuật: âm nhạc, múa hát. Họ cũng đã có tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thủy, hình thành các tập tục nhuộm răng, ăn trầu, vẽ mình và các nghi lễ của vòng đời người: cưới xin, tang ma, trong đó việc chôn cất thi hài với nhiều đồ tùy táng quý giá trong những chiếc quan tài bằng gỗ có hình thuyền là táng thức khá độc đáo.

Các loại hình vũ khí phong phú được tìm thấy đồng thời thể hiện qua các hình khắc trên hiện vật… chứng tỏ xã hội Đông Sơn đã có một binh đội vũ trang và như vậy có thể đã có nhà nước cai quản cư dân trong đơn vị xã hội cơ bản là làng xã với lũy tre xanh truyền thống. -  Vũ khí thuộc văn hóa Đông Sơn: Gồm các loại như: giáo, lao, mũi tên, kiếm, dao găm, rìu chiến, mảnh giáp che ngực…

Dấu tích khảo cổ có sự trùng khớp tuyệt đối với huyền sử đời Hùng cho phép các nhà sử học khẳng định rằng đây chính là thời dựng nước của người Việt dài hàng ngàn năm với niên đại khỏang hơn 4.000 năm CN. Trong thời kỳ này hiệu nước là Văn Lang, kinh đô ở Phong Châu (Phú Thọ ngày nay), người đứng đầu là các vua Hùng, liên tục truyền qua nhiều đời và đã đánh bại nhiều cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc, bảo vệ được độc lập, tiêu biểu là cuộc kháng chiến chống quân Tần năm 218 tr. CN của liên minh hai bộ lạc Tây Âu và Lạc Việt. Cuối thời kỳ, khỏang năm 208 tr. CN, một thủ lĩnh Tây Âu là Thục Phán thay thế vua Hùng, xưng hiệu An Dương Vương, xây thành Cổ Loa, lập ra nước Âu Lạc.

Thời đại Hùng Vương – An Dương Vương được xem là thời kỳ hình thành tính cách, lối sống, truyền thống dân tộc và để lại dấu ấn không bao giờ phai trong lịch sử Việt Nam.

THỜI XƯA: An Dương Vương với Nỏ thần Kim Quy lẫy lừng khiến Quân Tàu khiếp sợ

Rùa thần Kim Quy hay Rùa vàng, còn gọi là Thanh Giang sứ giả, theo truyền thuyết đây là sinh vật thần thánh đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cải tiến nỏ thần.

Truyền thuyết

An Dương Vương xây thành Cổ Loa mấy lần không được. Thành xây xong thì chỉ một thời gian ngắn bị đổ. Sau nhiều lần xây ADV quyết định lập đàn tế lễ bên bờ sông. Một vị thần hiện cho biết sứ giả Thanh Giang sẽ đến giúp. Một thời gian sau một con rùa nổi lên xưng là sứ Thanh Giang. Rùa giúp vua trị yêu quái. Sau đó, thành chỉ xây nửa tháng là xong.

Sứ Thanh Giang ở với ADV 3 năm. Khi đi còn tháo móng trao làm lẫy nỏ. Lẫy nỏ được lắp vào tạo thành Nỏ Thần.

Bí mật về Nỏ thần Liên Châu

Để tạo nên sức thần của nỏ Liên Châu, tướng quân Cao Lỗ đã dùng kỹ thuật chế ra lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn, một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên, khiến quân địch khiếp sợ.

Sáng 16/1/2013, Bộ VH-TT- DL và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước". PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam giới thiệu với hội nghị tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương".

PGS cho biết, theo sử cũ, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà chiếm cứ ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận lập nước Nam Việt. Vào năm Tân Mão (210 Tr.CN), khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà phát binh xâm lược Âu Lạc. Tướng Cao Lỗ là người tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Âu Lạc. Ông bố trí quân đội, trong đó có đội quân cung nỏ lợi hại ở những nơi hiểm yếu bảo vệ kinh thành Cổ Loa. Khai thác điểm yếu của giặc, quân dân Âu Lạc đã chủ động tiến công trên vùng đồi Tiên Du, khiến quân Triệu Đà khốn đốn.

Cao Lỗ huấn luyện một vạn quân lính, lại làm được nỏ liễu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên. Thứ vũ khí thần diệu này được sách Lĩnh Nam Chích quái ghi: Sau khi giúp An Dương Vương xây Loa thành, rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói "Nhờ ơn thần, thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?". Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt của mình đưa cho nhà vua và nói "Đem vật này làm lẫy Nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa". Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy. Những chiếc lẫy nỏ Làng Vạc gồm bốn bộ phận đúc rời được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ đã được phát hiện.

"Điều quan trọng nhất để tạo nên sức thần của nỏ Liên Châu là Cao Lỗ đã biết kỹ thuật chế ra những chiếc lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn để một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên có sức xuyên tốt, vừa giết giặc vừa làm chúng khiếp sợ, đội ngũ rối loạn, tan rã. Đó là điều kỳ diệu bí mật của thứ binh khí thần diệu này. Cao Lỗ là danh tướng đã giúp vua Thục Phán ADV dựng nên nhà nước Âu Lạc, hiến kế dời đô xuống đồng bằng và giúp vua xây dựng thành Cổ Loa, chế Nỏ liên châu một lần bắn ra nhiều mũi tên. Đây được xem là nỏ thần, thứ vũ khí thần dũng, vô địch để giữ nước với lời nói được truyền tụng "giữ được Nỏ thần sẽ giữ được thiên hạ, mất Nỏ thần sẽ mất cả thiên hạ".

Mỵ Châu - Trọng Thủy (Truyện Nỏ Thần)

An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn. Mỗi phát bắn ra, tên bay rào rào, quân Nam-việt chết như rạ. Nghe nói vua ADV có cô con gái chưa chồng, Triệu Đà mượn cớ giảng hòa, cho sứ giả sang cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy, ADV vui lòng nhận lời. Cuộc hôn nhân không mấy chốc đã thành. Theo phong tục, chàng rể phải sang ở nhà bố vợ một thời gian, gọi là ở gửi rể. Lấy được Mỵ Châu rồi, Trọng Thủy lân la hỏi vợ về nội tình Âu-lạc như lời bố mình dặn dò trước lúc đi làm rể. Trong cơn say đắm, Mỵ Châu không tiếc gì cả. Nàng còn giấu cha mình dẫn chồng đến xem trộm nỏ thần ở một ngôi đền cấm cạnh cung vua. Nhân vợ không để ý, Trọng Thủy bèn lấy trộm nỏ thần thật mà đánh tráo vào một lẫy nỏ giả. Sau đó mấy hôm, Trọng Thủy xin phép được về thăm cha mẹ.

Lại nói chuyện Triệu Đà vừa nắm được lẫy nỏ thần vào tay, lập tức hạ lệnh kéo quân xâm lăng Âu-lạc. Cho đến khi quân địch đã đến sát chân thành, vua mới sai đem nỏ thần ra bắn, thì ôi thôi lẫy nỏ đã bị đánh tráo, không còn mầu nhiệm như trước nữa.

Thấy quân địch ào ào xông tới vây thành như kiến cỏ, vua ADV vội vã nhảy lên mình ngựa, bảo Mỵ Châu ngồi sau lưng, rồi nhân tối trời thoát ra khỏi thành cho phi một mạch về hướng Nam.

Trong khi quân Nam-việt chưa biết vua ADV chạy về hướng nào để mà đuổi thì Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ, bèn thúc ngựa đuổi theo sát nút. Bỗng nhiên từ biển cả, thần Kim Quy hiện kên sừng sững khỏi mặt nước, nói to: - Người ở sau lưng nhà vua chính là giặc đó!

Vua ADV quay lại nhìn không thấy ai chỉ thấy Mỵ Châu, liền hiểu ra nông nỗi. Cơn giận bốc lên dữ dội, vua bèn tuốt kiếm chém chết con gái yêu. Đoạn vua tìm lại thần Kim Quy thì thấy thần đang rẽ nước cho mình đi xuống biển cả.

Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đến núi Mô-dạ thì chỉ còn thấy xác Mỵ Châu. Vừa thương vợ, vừa hối hận về việc mình làm, Trọng Thủy bèn ôm xác vợ than khóc hồi lâu, rồi cũng nhảy xuống một cái giếng tự tử. Người ta nói máu Mỵ Châu chảy xuống nước, những con trai con hến ăn vào đều hóa thành ngọc. Ai bắt được ngọc ấy đem đến rửa ở giếng Trọng Thủy trầm mình thì sắc ngọc tự nhiên rực lên.

THỜI NAY: “Nỏ thần chớ để sa tay giặc/ Mất cả đất liền, cả biển sâu”

Hà Nội: Sau khi đọc hai câu thơ đó trước hội trường Quốc hội sáng 1/4/2016 (Phiên họp chót QH Khóa 13 -Dân chưa bỏ phiếu bầu nên QH Khóa 14 chưa có đại biểu nào -22/5/2016 mới bầu - Vậy mà Quốc hội Khóa 14 đã có sẵn Chủ tịch Quốc hội. Dân chủ đến thế là cùng! Chị Ngân mới thề “tuyệt đối trung thành với Hiến pháp”, vậy thì rõ ràng Hiến pháp phải có chỗ hiến định như rứa nhưng răng mà đọc Hiến pháp tới mờ mắt vẫn chưa tìm thấy chỗ nào ghi như vậy hè?).

Theo ông Trương Trọng Nghĩa, đất nước chúng ta đang phải đối diện với cả ngoại xâm và nội xâm. “Tức là chúng ta đang bị xâm phạm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm bằng sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Việc xây dựng và phát triển đất nước đang bị đe dọa và thách thức nghiêm trọng. Bây giờ chúng ta phải làm gì?”- ông Nghĩa đặt vấn đề và đưa ra hàng loạt giải pháp căn cơ, mạnh mẽ.

Trước hết, ông Nghĩa đồng ý với nhận định được nêu trong báo cáo của Chính phủ, đó là phải đột phá trong đổi mới tư duy, tư duy phát triển, nhất quán và đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, lấy lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của người dân làm mục tiêu cao nhất.

“Tôi muốn nhấn mạnh vào hai cụm từ “quốc gia dân tộc” và “người dân”. Tôi nhận thức rằng, hàng ngàn năm qua ông cha ta giữ vững được độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ chính là nhờ vào bài học xuyên suốt là dựa vào dân, dựa vào khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó tôi xin bổ sung vào quan điểm phát triển, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, động viên lòng yêu nước của đồng bào, bảo vệ độc lập chủ quyền trong sự nghiệp xây dựng đất nước”- ông nói.

Ông Nghĩa kỳ vọng phải làm sao cho đất nước là nơi đáng sống, người dân và người nước ngoài muốn đến, muốn ở lại chứ không phải muốn ra đi. “Năm 1946 khi cụ Hồ sang Pháp dự hội nghị, nhiều trí thức thành đạt đã từ bỏ vinh hoa phú quý đi theo cụ về nước, về chiến khu kháng chiến, nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài đã sẵn sàng ủng hộ kháng chiến chống Mỹ cho dù phải trả giá đắt về tiền đồ, cuộc sống, thậm chí tính mạng”- ông Nghĩa nêu lại câu chuyện lịch sử.

Rồi chính ông đau đáu trước Quốc hội về thực tế hiện nay có không ít trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi. Một bộ phận cán bộ công chức về hưu hay đương chức cũng tìm cách cho con, cháu mình được ra nước ngoài.

Trong phát triển kinh tế đất nước, vị luật sư đến từ TP.HCM cho rằng, phải động viên được 90 triệu đồng bào thắt lưng buộc bụng, cần cù siêng năng, thanh niên chăm học, chăm làm, bớt nhậu nhẹt, bớt tiêu xài phung phí. Người dân ủng hộ doanh nghiệp Việt Nam, ưu tiên dùng hàng Việt Nam cho dù chất lượng chưa bằng hàng ngoại - như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới.

Đồng thời phải tăng cường mối đại đoàn kết 54 dân tộc, đoàn kết vùng miền, đoàn kết đồng bào trong nước - ngoài nước, hàn gắn vết thương quá khứ và không khoét thêm vết thương mới.

“Lấy lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của người dân làm mục tiêu cao nhất nghĩa là phải xác định cho đúng giữa ta và bạn - thù. Bạn là những ai ủng hộ nước Việt Nam độc lập chủ quyền, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Còn thù là những thế lực thù địch cản trở đổi mới, cản trở phát triển, xâm hại lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân, làm cho nước ta suy yếu, lệ thuộc nước ngoài, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, phá hoại an toàn và an ninh đất nước. Ngoài những thế lực thù địch ấy thì còn lại là ta và bạn của ta, cho dù có sự khác biệt về phương pháp, quan điểm và nhận thức”- ông Nghĩa bày tỏ.

Nhắc lại sự kiện lịch sử gắn liền với cái tên Diên Hồng - tên của Hội trường Quốc hội hiện nay (Sài Gòn trước năm 1975 cũng có 1 Hội trường Diên Hồng), ông Trương Trọng Nghĩa khẳng định điều đó đã minh chứng cho một chân lý: Hàng ngàn năm qua dân tộc ta đã luôn phải chống lại những kẻ ngoại xâm, đông và mạnh hơn mình nhưng cuối cùng luôn luôn thắng lợi bởi luôn nuôi dưỡng được lòng yêu nước của toàn dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc.

LỜI KẾT

“Nỏ thần chớ để sa tay giặc/ Mất cả đất liền, cả biển sâu” (câu thơ gốc trong bài thơ “Tâm sự” được nhà thơ Tố Hữu sáng tác năm 1967 là “Nỏ thần vô ý trao tay giặc/ Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”). Cuối bài phát biểu, ĐB QH Trương Trọng Nghĩa xin được nhắc lại câu thơ trên của Tố Hữu nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình của đất nước hiện nay.

“Nỏ thần của chúng ta chính là lòng yêu nước của hơn 90 triệu đồng bào hợp thành khối đại đoàn kết dân tộc, nhờ nó mà đất nước, dân tộc này tồn tại hơn 4.000 năm qua. Nhờ nó mà dân tộc Việt Nam sẽ giữ vững được độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Bi kịch một dòng sông huyền thoại: sách “Đạo quân Trung Quốc thầm lặng” 

Những ngày này ‘ma trận nguồn nước’ thâm hiểm vô đạo mà Trung Quốc mấy chục năm nay khi âm thầm khi náo nhiệt bày bố trên sông Mêkông đã chính thức xuất chiêu. Trong số các nạn nhân vùng hạ lưu Mêkông, Việt Nam hứng chịu tổn hại lâu dài và khốc liệt nhất. Hàng vạn bài báo và hàng trăm đầu sách từ khắp thế giới đã cảnh báo thảm họa này, trong đó trường thiên phóng sự 300 trang khổ lớn Đạo quân Trung Quốc thầm lặng của hai nhà báo Tây Ban Nha Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araújo (TS Nguyễn Đình Huỳnh dịch từ bản tiếng Anh, China’s Silent Army­; bản tiếng Việt do nhà xuất bản Hội Nhà văn, tháng 3, 2015) là bức tranh sinh động đầy sức thuyết phục từ hiện trường, là tiếng nói lương tri và khách quan trước bi kịch một dòng sông huyền thoại.

THƠ: Vịnh Mỵ Châu - Tam nguyên Vũ Phạm Hàm

    Lân bảng phi thân tế bất sàn/ Quân vương dung dị ngộ hồng nhan
         Tồn vong mịnh hệ Linh quang Nỗ/ Sinh tử hồn y Mộ Dạ sơn
         Nam hải yên đào châu tích lệ/ Bắc lâm phong vũ thạnh thành ban
         Chí kim từ vũ lân nguyên miếu/ Nguyệt xuất do văn hưởng bội hoàn.

Dịch thơ:

   Người thân thích ít, rể khôn lường/ Lầm lỡ má hồng bởi phụ vương
         Sống chết hồn nương đồi Mộ Dạ/ Mất còn mệnh hệ Nỏ Linh quang
         Bể Nam khói sóng châu hoen lệ/ Rừng Bắc phong sương đá lổ loang
         Đền miếu tới nay bên điện cũ/ Trăng lên khánh ngọc vẫn còn vang.
                 (Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch)

-Nhân ngày Giỗ Quốc Tổ, để tưởng nhớ công ơn Hùng Vương, chúng ta cùng nhau hát vang

Bài hát Hùng Vương –nhạc sĩ Thẩm Oánh

Bốn ngàn năm văn hiến Nước Nam khang cường là nhờ công đức Hùng Vương/ Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây bao thời hùng uy vẻ vang/ Đời đời nhờ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này/ Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay

Việt Nam bao sáng tươi thề cùng bền gắng cương quyết xây nhà Nam/ Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam xin đoàn kết tâm đồng/ Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương quyết thắng muôn năm/ Dòng giống khang cường.


(Tham khảo: Internet và Sách “Tam nguyên Vũ Phạm Hàm”, NXB VH-TT Hà Nội 2009)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 25.4.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004