Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







PHẦN II


Những đóng góp của văn chương Nam Bộ

vào cuộc kháng Pháp 1945 - 1950


CHƯƠNG I


VĂN CHƯƠNG NAM BỘ TỐ CÁO VÀ BUỘC TỘI

CHÁNH SÁCH CAI TRỊ CỦA NGƯỜI PHÁP Ở VIỆT NAM


Tiết 1 : Huyền thoại người Pháp ở Việt Nam.


Đang sống trên quê hương mình, bỗng một sắc dân khác đến chiếm thành, chiếm đất, tất nhiên người Việt vì tinh thần dân tộc, vì ý chí sinh tồn phải chống lại. Các phong trào chống thực dân âm ỷ trong suốt thời Pháp thuộc không ngoài những lý do đó. Chống đối bằng sự bất cộng tác1, bằng võ lực chưa đủ, người Việt Nam còn dùng văn chương kêu gọi tất cả các từng lớp dân chúng hãy đứng lên đấu tranh với bọn thực dân thống trị.


Trước đây vua Hàm Nghi đã hùng hồn hô hào trong chiếu Cần Vương:

Chỉ vì sức yếu nên ta phải chịu nhục ký hoà ước với giặc Pháp đã bao nhiêu năm và bao nhiêu lần. Với chính sách tàm thực, thoạt tiên, chúng cướp ba tỉnh Nam Kỳ, còn ba tỉnh nữa sau hai năm chúng cũng cướp nốt. Nhưng túi tham của quân cướp nước không bao giờ đầy. Thế rồi chúng dùng thiên phương bách kế, khiêu khích, gây hấn khắp Trung và Bắ Kỳ...

.... Hỡi trung thần nghĩa sĩ toàn quốc !

.....Hỡi các nghĩa dân hảo hán bốn phương!

Trước giờ tổ quốc lâm nguy, xã tắc nghiêng đổ, ai là dân, ai là thần, lẽ nào chịu khoanh tay ngồi chờ chết. Hãy mau mau cùng nhau đứng dậy, phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước 2 (1) .

Trước sự chống đối của toàn thể dân Việt, người Pháp không thể ở yên để cai trị, để bóc lột, họ phải tìm cách làm lụn bại các phong trào giải thực cũng như diệt trừ ngay trong trứng nước những yếu tố manh nha các phong trào nầy.

Đương lối thực hiện gồm ba mặt:

1) Một mặt đưa ra các chiêu bài, các huyền thoại để ru ngủ dân Việt đồng thời làm võ khí tinh thần cho những người Pháp chưa thấm nhuần tư tưởng thực dân đẽ dàng hành động. Chiêu bài thường dựa trên những ngôn từ đẹp đẽ như: khai hoá văn minh, bảo vệ dân tộc nhược tiểu, hành động vì nghĩa vụ người da trắng...

2) Một mặt thẳng tay đàn áp, giết hại người ái quốc, cản trở việc phát triển kiến thức của dân chúng, gây mâu thuẫn nội bộ để phá hoại tình đoàn kết...

3) Hỗ trợ cho hai phương sách trên, họ đeo đuổi đường lối cai trị gián tiếp: những cơ cấu cũ của Việt Nam như xã thôn tự trị, trung ương tập quyền... vẫn được duy trì để tạo một cảm tưởng độc lập, chưa mất chủ quyền... trong lòng người dân. Tuy nhiên, chúng khôn khéo hành động thế nào cho những cơ cấu này lần lần băng hoại, hư hỏng và quyền hành càng ngày càng tập trung vào tay chánh phủ bảo hộ.


A.- HUYỀN THOẠI ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ PHỤC VỤ CÔNG CUỘC ĐÔ HỘ.


a/. Huyền thoại khai hoá:

Ngại rằng không giải thích được sự có mặt của người Pháp trên đất nước nầy, năm 1886 (ngày 2/4) toàn quyền Paul Bert khi sang Việt Nam nhậm chức đã tuyên cáo bằng một bản hiệu triệu nhấn mạnh đến vai trò của người Pháp trong việc thăng tiến các phương diện canh nông, kỹ nghệ, kinh tế, trí thức cho dân Việt:

Từ lâu ở nước nhà, tôi cố tìm hiểu, binh vực quyền lợi của người dân nước An Nam rất mực cần cù và khôn khéo này, tôi đã kêu gọi nhân dân Pháp hãy kết dây thân ái với dân tộc An Nam.


Người Pháp cũng viện đến lý do tôn giáo, với họ việc đô hộ Việt Nam chỉ vì muốn giúp cho dân Việt có dịp tiếp xúc với nền văn minh Thiên Chúa Giáo

Bắt đầu từ đó nếu mà lãnh thổ của người sau này trở thành vua Gia Long đã lần lượt rơi vào sự đô hộ hoặc bảo hộ của nước Pháp trong nửa thế kỷ sau chỉ vì vua kế tiếp đã thất hứa. Chắc chắn đó không phải là điều vị Tổng Giám Mục với tình thương sâu đậm đối với An Nam đã tiên đoán. Ước mơ của ông là đem lại cho họ một sự liên kết nhờ đó tiếp xúc với nền văn minh Thiên Chúa Giáo thuần tuý nhất, lần lần họ sẽ đồng hoá với nền văn minh ấy mà vẫn làm chủ đất nước của mình3.

Tôi đã suy xét cẩn thận nguyên nhân của những sự chia rẽ đáng tiếc ấy, tôi muốn chấm dứt sự kiện đó bởi vì hai dân tộc chúng ta không phải sanh ra để sát hại lẫn nhau, trái lại chúng ta nên tìm hiểu và xây dựng cho nhau. Cũng như dân Trung Hoa ngày xưa, bằng nền văn minh của họ, bằng những nhà lập pháp của họ đã giúp cho xã hội các ông tiến bộ, dân Pháp ngày nay khi đến nước các ông sẽ làm cho tình trạng canh nông, kỹ nghệ và kinh tế phát triển và còn nâng cao trình độ tri thức của các ông bằng sự học vấn4.

Trong chiêu bài khai hoá, mở mang nước Việt, người Pháp thường lớn tiếng kể công về việc phát triển đường sá, cầu cống, phương tiện chuyên chở... Người Pháp cũng đã thực hiện nhiều việc trong lãnh vực chuyển vận cũng như trong lãnh vực sản xuất nông nghiệp và hầm mỏ, Nam Kỳ, đặc biệt nhờ đó mà trở thành một bồ lúa5.

Hệ thống đường thuộc địa mở rộng, đường thuỷ được sửa sang lại, đường hoả xa được thiết lập thêm 6...

Diện tích trồng lúa năm 1875 chỉ có 3.640.000 mẫu

năm 1937 tăng lên 5.640.000 mẫu.

Số lúa sản xuất năm 1875 chỉ có 840.000 tấn

năm 1937 tăng lên 6.300.000 tấn7.

Tóm lại, theo họ, tất cả mọi phương diện, sự tiến bộ ở Việt Nam có được là nhờ công trình của người Pháp.

Công trình của người Pháp ở Đông Dương vẫn còn bao la, sâu rộng, phong phú và đa diện...Ai có thể chối cãi rằng Đông Dương không có thụ hưởng những cố gắng của chúng ta? Chỉ sau mươi năm trước đây Đông Dương là cái quái gì?8.

Tóm lại, người Pháp cố biện minh cho sự có mặt của mình ở Việt Nam bằng cách nói rằng họ đến đây để mở mang văn minh, phát triển cho dân tộc nầy.

Họ viện dẫn lý do khác: đến Việt Nam để bảo vệ, tương trợ dân tộc Việt.


b/. Huyền thoại bảo vệ, tương trợ:

Trong quyển sách gối đầu của những người theo chủ nghĩa thực dân9, Toàn Quyền Albert Sarraut đã tiếp theo câu nói của Napholéon đệ tam với phái bộ Phan Thanh Giản là bảo vệ kẻ yếu10 để nói thêm rằng chế độ thực dân đem lại hoà bình an ninh cho các quốc gia bị đô hộ11.

Trước khi người chánh quốc đến, nước thuộc địa luôn luôn sống trong cảnh loạn lạc; tàn sát, giết hại lẫn nhau giữa những người bản xứ. Nhờ chính quốc, các nước này tìm lại được sự yên ổn, bình trị.

Nhờ tinh thần hiệp sĩ, người dân chính quốc thực hiên mục tiêu tương trợ của kẻ mạnh đối với người yếu, của một quốc gia được thiên phú văn minh đối với các quốc gia không được may mắn đó, để thực hiện lại việc phân phối tài sản vốn đã phân phối không hợp lý trên mặt địa cầu12.

Nhiều khi tên trùm thực dân nầy nói như một nhà tu sanh ra và hành động vì người khác : Người Pháp có tâm hồn hiệp sĩ Don Quichotte, họ muốn sửa lại những sai lầm, bảo vệ kẻ yếu và bị đàn áp. Hầu hết công cuộc đô hộ của họ đều không có nguồn gốc nào khác13.

Một đoạn khác, ông nhấn mạnh đến công thức của đô hộ: đô hộ là sản phẩm của sự tương trợ nhân loại. Vì lòng nhân đạo không nỡ bỏ rơi những dân dộc bị chìm đắm trong cảnh kém mở mang: mục đích của cuộc này là đem họ vào ánh sáng của nền văn minh, sửa sang bồi đắp những bất công trong vũ trụ, để xây dựng giữa người và người trong một thế giới thoải mái để sống trong một tình trạng tiến bộ tinh thần và vật chất toàn diện (6)14.

Chiêu bài vừa kể được Albert Sarraut nhắc đi, nhắc lại với vẻ rất thành thật, để biện hộ cho dân tộc Pháp, cho một công cuộc người khai thác người. Ông giấu thực chất đi và chỉ nhắc đến những chữ, những tinh thần mơ hồ. Có thể viên Toàn Quyền này đã thấu triệt hơn ai hết sự tha hoá, vong thân của ngôn ngữ và ông đã thực hiện kiến thức này đến cùng cực:

Người Pháp rất vị tha. Tinh thần của họ có khí vị đại đồng; lòng nhân đạo của họ, ý thức về cái mỹ, điều thiện, tinh thần bình đẳng của họ làm nẩy sinh những quan niệm vị tha vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia để bao trùm cả nhân loại với một giấc mơ công bằng, tương trợ, hữu nghị. Óc tò mò trí thức khiến họ ham muốn hiểu biết vũ trụ đi kèm với ý chí quyết định đem đến sự tốt lành cho thế giới.

Họ đến gần những chủng tộc khác để giúp đỡ gây niềm vui thích và để được mến yêu. Dù là con chiên hay người ngoại đạo, dù là dân của Hoàng Gia hay là của nền Cộng Hoà, người Pháp, đều có khuynh hướng truyền bá tư tưởng và đạo giáo. Họ tự cho có bổn phận phải chinh phục những con tim bằng cách thấm nhuần với ý thức về

một đại gia đình nhân loại. Họ cảm thấy cần thiết phải bố thí và bố thí chính bản thân, cần đem đến khắp nơi những luồng ánh sáng, những nẻo vô minh những giống nòi kém may mắn đang vấp ngã một cách đau đớn15.



B.- NGỤY BIỆN ĐỂ CHE GIẤU HUYỀN THOẠI.


Vì huyền thoại khó che mắt được dân tộc Việt, người Pháp đưa thêm một võ khí mới khác để bảo vệ sự có mặt của mình: nguỵ biện. Nguỵ biện có lợi ở chỗ che đậy huyền thoại và làm cho người Việt Nam lạc hướng đấu tranh, làm cho người Pháp có một điểm tựa để biện minh cho sự dã man của mình.

Chẳng hạn lời nguỵ biện về thiên mệnh do quân Pháp thường tuyên bố với dân ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Mỹ Tho ngày 7-2-1863 : Do thiên mệnh nhà Nguyễn để thay thế nhà Lê. Ngày nay, trong những tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Mỹ Tho của miền Nam Kỳ, triều đại nhà Nguyễn được thay thế bằng triều đại của Hoàng đế Napoléon. Khi một dòng họ thay thế một dòng họ khác để cai trị nhân dân theo mệnh trời, thì nhân dân không nên sợ sệt mà phải nhận xét xem tân trào là bạn hay thù của nhân dân16.

Thật ra không có mệnh trời nào hết. Nhà Lê mất nghiệp vì đê hèn, vì để bọn họ Trịnh chuyên quyền và xa lìa quần chúng. Nhà Nguyễn cũng không phải lên ngôi theo mệnh trời mà do vua Quang Trung mất quá sớm, Quang Toản còn nhỏ...

Nguỵ biện còn trầm trọng hơn khi người Pháp sánh dòng họ Napoléon với dòng họ Nguyễn trong khi Napoléon thuộc một chủng tộc khác.

Trong những năm chiến tranh Pháp Việt bùng nổ, nguỵ biện xuất hiên càng nhiều. Đại tướng Sabattier chẳng hạn, cho rằng người Pháp không ích kỷ, họ hy sinh trong việc trở lại Việt Nam: Nếu chúng ta chỉ những điều lợi trước mắt, từ năm 1946 chúng ta đã bỏ rơi Đông Dương rồi, như vậy chúng ta sẽ trả giá ít đắt hơn. Những kẻ trước đây thường kết tội chúng ta ích kỷ, ngày nay đã để ý đến lòng quảng đại của chúng ta bởi vì họ thấy được những hy sinh lớn lao mà chúng ta chấp nhận do chúng ta giữ lời hứa bảo vệ những dân tộc Đông Dương...17 .

Nguỵ biện nầy sanh ra từ rất nhiều điều xác định của ông.

- Đông Dương năm 1946 ở vào số phận khốn khổ.

- Người công kích chánh sách trở lại của Pháp về sau đã chấp nhận sự trở lại đó và đã giúp đỡ.

- Trở lại Đông Dương vì lời hứa bảo vệ...


Thật ra không hẳn năm 1946, không có người Pháp , Đông Dương lâm vào trạng huống thống khổ, cũng như người Đông Dương không cần Pháp thực hiện lời hứa bảo vệ bằng võ lực đối với người Đông Dương. Việc thay đổi thái độ của người Mỹ không

chứng minh được lòng quảng đại của người Pháp mà chỉ chứng tỏ được sự thay đổi lập trường của Mỹ trong vấn đề Đông Dương. Sự thay đổi này có thể vì chiến lược, chiến thuật...

Chúng ta có thể thấy nhiều nguỵ biện khác như cần thiết phải bảo vệ các dân tộc sống cạnh hay sống trong lòng lãnh thổ Việt Nam:

Ta không nên quên rằng xứ An Nam này không phải là tất cả Đông Dương, mà bên cạnh những người dân An Nam còn có những sắc chủng khác, những dân tộc khác mà chúng ta đã hứa bảo vệ. Chúng ta phải bỏ rơi họ sao? 18.

Trước đó, khi người Pháp vừa đặt nền móng đô hộ, bọn phục vụ cho quyền lợi người Pháp cũng dùng nguỵ biện để tự biện hộ cho mình như nguỵ biện cần thiết cho sự mở mang nước Việt Nam được cường thạnh:

Ngày nay, không có phân biệt người nào là vị nước Pháp, người nào là phản đối nước Pháp, chỉ nên phân biệt người nào là ái quốc, người nào không ái quốc mà thôi. Ai đã ái quốc,tức vị nước Pháp, ai phản đối nước Pháp tất là người không ái quốc vì làm ngăn trở cái công nước Pháp kinh doanh cho giống nòi An Nam được cường mạnh 19.

Như người Pháp đánh lấy Việt Nam lỗi tại người Việt Nam:

Cái sự lỗi ấy, có phải ở quân tướng mình mà thôi đâu, tưởng rằng những sĩ phu nước ta, cũng không chối được cái lỗi ấy vậy...Thế mới biết cái lỗi ấy bởi tại nước mình, dẫu rằng nước Lang Sa không lấy mình, thời nước khác cũng lấy mà thôi, không nên trách tại ai vậy 20.

Lý luận của Hoàng Cao Khải nguỵ biện ở chỗ đã cố tình không nói đến ý định xâm lăng các xứ kém mở mang của Pháp lúc đó mà chỉ nhấn mạnh đến tinh thần thủ cựu của triều đình và nho sĩ Việt Nam.

Việt Nam bị mất nước vì chưa tỉnh mộng thi phú, chưa nhìn ra khỏi nước Tàu đã đành, nhưng cũng chính vì người Pháp quyết tâm đánh lấy Việt Nam.

Tóm lại, người Pháp và bọn phục vụ cho quyền lợi của Pháp che giấu thực tâm của họ bằng những chiêu bài: bảo vệ, tương trợ, khai hoá, những chiêu bài nầy chỉ có tính cách nguỵ biện với mục đích phục vụ cho quyền lợi của dân tộc Pháp.

Dĩ nhiên, giữa chiêu bài và thực tế cũng có vài một điểm liên hệ; chẳng hạn:

Chiêu bài : Khai hoá văn minh.

Thực tế: Mở mang đường sá, cầu kỳ, trường học.

Nhưng ta phải nhìn đến thâm sâu của vấn đề để khỏi bị huyễn hoặc. Nói cách khác, ở Việt Nam những người Pháp có thực hiện một vài công trình nhưng không vì thế mà ta phải nhớ ơn họ. Công trình được thực hiện do ba yếu tố: văn minh, sức lao tác và ý hướng xây dựng công trình đó.

Văn minh ở đây chỉ ý kiến, hoạ đồ, cách trình bày. Nếu không có người Pháp, dân

tộc Việt Nam vẫn đủ khả năng để học hỏi các cách xây dựng bởi vì cái văn hoá ngày nay không thuộc riêng một nước nào. Nó có sức bành trướng bên trong 21(1). Sức bành trướng đó là tính cách truyền thống của văn hoá, là sự giao liên dễ dàng của thế giới cận đại.

Sức lao tác và tài nguyên để tạo dựng công trình thuộc về của riêng người Việt Nam, biết bao người Việt Nam đã chết, đã khổ sở vì sự xây dựng cầu kỳ, đường sá mà người Pháp nhận vơ làm công trình của họ.

Chẳng hạn việc thiết lập con đường thuộc địa số 13. Công trình này do Toàn Quyền Réné Robin vẽ chương trình, thiết lập kế hoạch, nhưng xây đắp lại do tay người mình... Bao nhiêu vạn người đã tưới mồ hôi và nước mắt lên quãng đường ấy...Một số đông tù nhân chánh trị đã gục trên quãng đường ấy, thây phơi giữa thác gành (2)22, phần đông dân phu...không chịu nổi sự thay đổi đột ngột của thời tiết, ngã ra nằm liệt giường (3)23.

Chỉ riêng một công trình nhỏ nhoi thôi, yếu tố Việt Nam trong việc thực hiện cũng nổi bật: đó là nhân công và nhân công gánh chịu bao khổ nhọc để thực hiện: Sáu ngàn phu Việt Nam cong lưng khuân đá đắp đường trên quãng rừng dài 247 cây số trong một đoạn thời gian dài mưa nắng. Nước không đủ uống, thuốc không đủ dùng. Nhiều người mòn sức vì lam sơn, chướng khí.

Qua mùa mưa, nước trút xuống vuốt mặt không kịp. Vắt bò ngổn ngang khắp rừng bám đầy trên mình bọn phu mộ khốn khổ và hút máu họ cho đến khi no bằng chiếc đũa con mới chịu nhả ra. Ban đêm tiếng muỗi kêu nghe ghê rợn hơn tiếng thác đổ. Bịnh rét rừng thành một thứ bịnh kinh niên bất trị 24.

Tóm lại những gì người Pháp thực hiện ở Việt Nam là công trình chung của văn minh Tây phương và mồ hôi của người Việt 25.

Nhưng yếu tố quan trọng vẫn là ý hướng. Người Pháp thực hiện những công trình ở Việt Nam vì quyền lợi của người bản xứ hay quyền lợi của người chính quốc?

Câu trả lời thật dễ dàng: thực chất của cuộc đô hộ nằm trong tư lợi nên bất cứ phiên diện nào mặc dầu có bề ngoài xấu hay đẹp đều được thực hiện vì quyền lợi của người Pháp. Có thể người Việt Nam cũng lợi phần nào. Nhưng điều ấy ở ngoài ý hướng của người Pháp.

Một tác giả Pháp, ông Pierre de Fondettes, đã xác nhận ý hướng vụ lợi của người Pháp khi thực hiện những cuộc mở mang ở Việt Nam: Người Pháp xây dựng đường sá, cầu kỳ, thiết lập đường hoả xa...vẫn là với ý hướng phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chiến lược của họ. Thành phố ở Việt Nam nhờ đó trở nên đẹp đẽ hơn, nhưng người hưởng những tiện nghi này là người Pháp và bọn tùy dịch của họ, trong khi thành phố làng mạc khác của người Việt Nam vẫn không có gì thay đổi 26.

Ý hướng này phổ quát bao trùm tất cả công trình của người Pháp ở Việt Nam từ văn hoá đến chánh trị, cải tiến xã hội 27.

Ta có thể thấy ngay điều này bằng cách xem lại những tài tiệu mật của Pháp. Chẳng hạn mục đích lập tờ báo. Nhìn sự kiện mở mang báo chí, ta tưởng người Pháp vì người Việt Nam nhưng thực ra chúng phục vụ cho đường lối chánh trị của chúng.

Về trường hợp xuất bản tờ Nam Phong chẳng hạn, báo cáo của Thống sứ Bắc Kỳ lên Toàn Quyền Đông Dương vào năm 1916 có đoạn: Phải tổ chức gấp một cuộc tuyên truyền có phương pháp nhằm thấm sâu vào tất cả mọi tầng lớp trong xã hội bản xứ. Mục tiêu ấy chỉ có thể đạt được bằng cách sáng lập ra những tờ báo quốc ngữ có lãnh đạo tốt và có kiểm soát cẩn thận. Tuy nhiên người ta không thể nghĩ rằng Chánh Phủ sẽ đứng ra thành lập, sẽ trực tiếp quản lý vì lẽ một cái nhãn hiệu có tính chất nhà nước quá sẽ làm cho dư luận nghi ngờ những tờ báo ấy... do đó chúng ta phải nhờ đến một tổ chức làm bình phong cho nhà nước mà nhà nước bảo đảm tổ chức ấy sẽ tha hồ hoạt động không gặp khó khăn gì 28.

Tóm lại ta có giản đồ sau:

* Bề mặt của sự kiện:

Sự kiện: Mở mang văn hoá Xuất bản tờ Nam Phong

* Mặt trái của sự kiện:

Mục tiêu chánh trị có lợi cho Pháp.

Những sự cải tiến xã hội cũng vậy, người Pháp thực hiện với dụng ý chánh trị rõ rệt. Thông cáo mật của Thống Sứ Bắc Kỳ gởi cho Công Sứ các Tỉnh có đoạn:

Liệu chúng ta có thể tin tưởng được rằng dân tộc mà chúng ta bảo hộ không biết một tí gì về các biến cố đã xảy ra ngoài cổng ngõ nước họ mà cam lòng giữ một thái độ thờ ơ với phong trào vận động Duy Tân đang làm thức tỉnh Viễn Đông, đã cải tạo nước Nhật Bản và ngày nay đang đảo lộn nước cổ Trung Hoa? Nếu nước Trung Hoa tổ phụ đáng kính của các dân tộc trên thế giới, đã không giữ được thái độ bất động nữa, đã cảm thấy sự cần thiết phải thức dậy, phải sống và phải hoạt động thì liệu quốc gia An Nam, một quốc gia từ trước đến nay vẫn là đệ tử và là chư hầu của Trung Hoa giữ sao khỏi xúc động trước cảnh tượng đó..Ta không thể nào phủ nhận được rằng chính người An Nam đang muốn sửa đổi tình trạng xã hội nước họ và cải tiến chế độ pháp lý của họ.

Đã không thể ngăn giữ được phong trào cải cách đó, ta chỉ còn một biện pháp là giành lấy địa vị lãnh đạo phong trào cải cách nầy. Vả lại cuộc vận động cải cách nói đây rất phù hợp với quyền lợi của chúng ta 29 .

Những điều trích dẫn trên thuộc về năm 1913, gần đây hơn, khi có mặt người Nhật ở Đông Dương, sự kiện vẫn tương tợ, người Pháp có những hành động có vẻ vì người Việt Nam như thâu dụng thêm công chức Việt, mở trường, khai thác các ngành kỹ nghệ; nhưng thật ra chỉ vì quyền lợi của chánh phủ Pháp, vì sự tuyên truyền chống Nhật.

Ông Chester A. Bain, trong một quyển sách biên khảo đã viết: Vì ảnh hưởng của chế độ phát xít, chánh quyền đô hộ Pháp trở nên chuyên chế và khắt khe thêm...Tuy nhiên, một sự kiện trái ngược đã xảy ra thời này, đó là chủ nghĩa Quốc gia Việt Nam được Pháp nâng đỡ để cạnh tranh với chánh sách tuyên truyền Đại Đông Á của Nhật. Để đối phó với chánh sách của Nhật, Toàn Quyền Decoux cho tăng gấp đôi số viên chức người Việt, định mức lương cao hơn, hứa hẹn về nền tự trị tương lai của xứ này, mở thêm trường làng và tăng gấp đôi sĩ số. Phong trào thanh niên thể thao được phát động đào luyện sáng kiến, kỷ luật mà trước kia người Pháp cấm đoán 30.

Cũng như trường hợp xuất bản tờ báo Nam Phong ta có giản đồ:


* Bề mặt của sự kiện:

Sự kiện: Những cải cách có lợi cho Việt Nam.

Các phong trào cải cách

* Mặt trái của sự kiện:

Quyền lợi của Pháp và trường hợp bất khả kháng.


Thực chất của Pháp về các vấn đề văn hoá, lời tố cáo của Trần Đức Thảo sau đây phơi bày sự thực nhất. Ông viết: Cái văn hoá ngày nay không thuộc quyền một nước nào. Nó có sức mạnh bành trướng bên trong, cuộc thực dân chỉ có trấn áp sức ấy và xoay chiều để lợi dụng về quyền lợi ích kỷ mà thôi 31.

Nhưng cải tiến khác cũng ở vào trường hợp tương tợ: được thực hiện nếu có lợi cho Pháp, nếu có hại, họ sẽ tìm hết cách ngăn cản. Việc tổ chức các cơ quan dân biểu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ trước đây đã bị những viên chức cao cấp của Pháp ở Việt Nam cực lực phản đối, tờ phản đối gởi Toàn Quyền Đông Dương đưa ra những lý lẽ hết sức vụ lợi: Xứ thuộc quyền bảo hộ của chúng ta đã bị đặt dưới một chế độ quân chủ chuyên chế từ mấy thế kỷ nay rồi. Tuy cách tổ chức hương thôn đã dành cho dân chúng một vài phần tự trị và một đời sống riêng biệt nhưng quyền của chánh phủ trung ương hãy còn rộng rãi lắm, hầu như vô giới hạn, vì chính phủ tập trung tất cả quyền hành chánh. Như vậy, việc thiết lập các cơ quan dân biểu có tính cách tham nghị đã xâm phạm rõ rệt vào chính thể chuyên chế này mà vì quyền lợi riêng của nước ta, chúng ta có bổn phận phải duy trì triệt để. Chính vì lý do đó mà tôi dám chủ trương rằng việc thành lập các cơ quan dân biểu nói trên là một hành vi không thích ứng về phương diện chánh trị một chút nào cả 32.


Tiết 2 : Văn chương Nam Bộ tố cáo và buộc tội chánh sách cai trị của người Pháp ở Việt Nam.


Thật ra các chiêu bài của người Pháp chỉ có tính cách giả trá, mục đích để che đậy thực tâm của họ trong việc cai trị.

Các nhà văn Nam Bộ cùng nhau tố cáo người Pháp trên ba phương diện:

- Thực chất chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam.

- Phương thức áp dụng để duy trì chánh sách đó.

- Hậu quả của chánh sách cai trị.

Trước khi đi vào từng vấn đề, thiết tưởng chúng ta nên nhìn một cách tổng quát nhóm nhà văn nào đã hướng ngòi bút mình về đề tài nào.


* Nhà văn vạch trần chánh sách cai trị của người Pháp.


Nhóm này tấn công ba mặt:

1)- Lý Văn Sâm với vở kịch Nham hiểm 33.

- Tuấn Anh với bài Văn tế thực dân 34.

- Phan Hữu với quyển Việt Nam, một nền kinh tế tương lai 35.

- Tác giả bài Dưới chế độ thực dân, vì mãi lo làm lợi cho công nho người ta đã vô tình đầu độc dân Việt Nam 36.

- Thiếu Sơn với quyển Giữa hai cuộc cách mạng 37

tố cáo về phương diện kinh tế, giúp người đọc nhận chân được việc người Pháp lợi dụng luật pháp để bóc lột giới tiêu thụ Việt Nam cũng như ngăn chặn việc phát triển kỹ nghệ của nước ta.


2) - Dương Tử Giang với truyện dài Tranh đấu 38.

- Nguỵ Văn Thông với bài phóng sự Dân cu li 39.

- Sơn Khanh với tác phẩm Giai cấp 40.

- Hoài Tân với truyện dài Về thành 41.

tố cáo người Pháp đã có thái độ trịch thượng, kẻ cả, coi dân Việt Nam thuộc từng lớp hèn kém không thể bình đẳng với họ.


3) - Trần Đức Thảo với quyển Vấn đề Đông Dương 42.

- Ninh Huy với bài Chế độ thực dân phải chấm dứt 43.

- Phan Hữu với quyển Việt Nam, một nền kinh tế tương lai 44.

- Sơn Khanh với truyện dài Nước độc 45.

tố cáo sự vô nhân của người Pháp, họ không coi con người Việt Nam như con người, họ có những hành vi bất nhân như khủng bố, đánh đập, khai thác sức lao động quá mức...


* Nhà văn tố cáo những phương sách do người Pháp áp dụng để duy trì chánh sách bóc lột và vô nhân.


Nhóm này tấn công trên ba chiều hướng:

1) - Sơn Khanh với tác phẩm Loạn 46.

- Phi Vân với những truyện dài Tình quê và Dân quê 47.

- Bùi Nam Tử với quyển Trốn tù 48.

- Dương Tử Giang với tác phẩm Tranh đấu .

mô tả thật tỉ mỉ và sống động những sinh hoạt ở đồng quê với những viên chức làng xã ác độc, tham lam, dốt nát, do người Pháp đặt ra để cai trị các thôn xóm với mục đích tạo cho người Việt Nam cảm tưởng người Việt vẫn cai trị nước Việt và do đó quên đi thực tế bị trị của dân tộc.


2) - Vũ Anh Khanh với tập truyện ngắn Bên kia sông49 và truyện dài Cây ná trắc50.

- Hồ Hữu Tường với tác phẩm Chị Tập 51.

- Trần Đức Thảo với quyển Vấn đề Đông Dương .

cùng nhau tố cáo người Pháp ngăn chặn việc học vấn của dân ta như: không mở trường Cao đẳng, Đại học đúng nghĩa, cấm đoán mở các tư thục...


3) - Ngọc Dương với quyển Con đường Nam tiến của dân tộc Việt Nam 52.

- Thiết Can với truyện ngắn Trái lựu đạn không kịp nổ 53.

- Lý Văn Sâm với kịch bản Nham hiểm .

vạch trần chánh sách vô nhân đạo của người Pháp trong việc chia rẽ tình đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng như đã dùng những cách thế dã man, bỉ ổi để giết hại những người tài hầu diệt đi trong trứng nước những cuộc cách mạng có thể có sau này.


* Nhà văn buộc tội chế độ thực dân :


Nhóm nầy kết án hậu quả của chánh sách thực dân Việt Nam trên ba mặt :

1) - Thiết Can với truyện ngắn Máu không rửa máu (5) .

- Vũ Anh Khanh với truyện dài Bạc Xỉu Lìn và các tập truyện Sông Máu, Đầm ô rô 54.

- Phi Vân với truyện dài Dân quê

- Vũ Xuân Tự với thiên phóng sự Tấn công tài xỉu55.

ghi lại một xã hội đầy dẫy những tệ đoan như cờ bạc, đĩ điếm, cướp giật, sát nhân, một xã hội hư hỏng, tàn tệ, hậu quả của công cuộc thực dân.

2) - Thẩm Thệ Hà với truyện dài Người yêu nước 56.

- Sơn Khanh với hai tác phẩm Loạn và Tàn binh 57.

- Lý Văn Sâm với truyện ngắn Nắng bên kia làng 58.

- Vân Lâu với truyện dài Những kẻ hy sinh 59.

- Vũ Anh Khanh với truyện dài Nửa bồ xương khô.

đã vạch ra những thế hệ dân Việt Nam dốt nát, ngu muội, tầm thường, với đầy đủ những tính nết hèn kém tạo nên do chánh sách cai trị của người Pháp.

3) - Sơn Khanh với tác phẩm Giai cấp

- Dương Tử Giang với truyện dài Tranh đấu

mô tả những sự cách biệt giữa hạng người giàu có, địa vị và hạng nghèo khổ, thấp kém, sự cách biệt này sanh ra vì chế độ bất công, cuối cùng hạng nghèo khổ phải gánh chịu những tủi nhục, đắng cay.


***


1 Theo Grammont - Onze mois de sous prélecture en Basse-Cochinchine - Paris-Challamel Ainé, 1863, trang 373 cho biết khi người Pháp mới chiếm Nam Kỳ, tình trạng sau đây đã xảy ra: < br> - Hầu hết các viên chức, quan lại cũ, các dân bản xứ, chức dịch, nho sĩ đều lẫn tránh.
- Tổ chức xã thôn hoàn toàn tan rã.
- Tất cả các sổ sách, các giấy phép lưu hành thuyền bè lưu trú đều bị thất lạc.
- Ruộng đất bị bỏ hoang.
Trích dẫn bởi Phạm Cao Dương - Kỷ niệm 100.. - Trình bày- Saigon 1967, trang 77.
2 Chiếu Cần Vương của Hàm Nghi ban hành ngày 11-8 năm Hàm Nghi thứ nhất. Tài liệu của Đông Tùng - Bút chiến đấu - Hội Khổng Học Việt Nam xuất bản - Saigon, 1957, trang 12-13.
3 Theo H. Marc và P. Cony, Sdd, trang 32.
4 Trích theo H. Marc và P. Cony - Indochine- Française - Editions France -Asie - Paris, 1946, trang 121.
5 J. Senton và Ch. O. Corbonelle - Delagrave - Paris, 1963, trang 519.
6 H. Marc và P. Cony, Sdd, trang 152.
7 H. Marc và P. Cony, Sdd, trang 190.
8 H. Marc và P. Cony, Sdd trang 205.
9 Grandeur et servitude coloniales - Sagittaire - Paris - 1931.
10 La France est bienveillante pour toutes les nations et protectrice des faibles .
(Trích lại của Nguyễn Bảo Hoá - Nam Bộ chiến sử - Lửa Sống - Saigon, trang 146.)
11 Albert Sarraut, Sdd, trang 124.
12 Albert Sarraut, Sdd, trang 106, 111.
13 Albert Sarraut, Sdd, trang 80.
14 Albert Sarraut, Sdd, trang 108.
15 Albert Sarraut, Sdd, trang 79.
16 G. Tabouret - La Geste Française en Indochine - Adrien Maisonneuse - Paris - 1956 -tome II, trang 482. (Trích lại của Lý Chánh Trung, Sdd, trang 230.)
17 Général Sabattier - Le destin de l'Indochine - Plon - Paris, 1952, trang 379, 380.
18 H. Marc và P. Cony, Sdd trang 205.
19 Phạm Quỳnh - Nam Phong số 6, trích dẫn bởi Nguyễn Văn Trung - Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam - Nam Sơn, Saigon, 1963, trang 141. < br> 20 Hoàng Cao Khải - Gương sử Nam - Nhà in Dufour và Nguyễn Văn Vĩnh - Hà Nội - 1912, trích bởi Dương Quảng Hàm - Văn học Việt Nam - Bộ Giáo dục xuất bản, 1968, trang 173.
21 Trần Đức Thảo - Vấn đề Đông Dương - Văn hoá tùng thư xuất bản- Saigon 1947, trang 12.
22 Lý Văn Sâm - Sau dãy Trường Sơn - Nam Việt - Saigon,1949, trang 17.
23 Lý Văn Sâm - Sau dãy Trường Sơn - Nam Việt - Saigon,1949, trang 56.
24 Lý Văn Sâm - Sau dãy Trường Sơn - Nam Việt - Saigon,1949, trang 24.
25 Lý Văn Sâm - Sau dãy Trường Sơn - Nam Việt - Saigon,1949, trang 25.
26 Pierre de Fondettes - Solutions pour l'Indochine - Juiliard - Paris- 1952, trang 27.
Có thể xem thêm Nguyễn Cao Hách - Luật học kinh tế tạp chí sô 1 và 2 năm 1959. Trường Luật Saigon xuất bản - Bài Chánh sách mậu dịch trong vùng kinh tế hậu chiến.
27 Về ý hướng văn hoá và xã hội xin xem Nguyễn Văn Trung - Chủ nghĩa thực dân... Sdd.
28 Tài liệu ghi chú của ông Nguyễn Văn Mân, Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trích lại của Nguyễn Đình Chú bài Thực chất cuộc tranh đấu của Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều trong tập vụ án truyện Kiều 1921. Tài liệu học tập của Ban Việt Viện Đại học Đà Lạt 1969.
29 Circulaire confidentielle No 9C en date du 17-4-1913 de M. Destenay, Résident Supérieur au Tonkin, adressée aux Chefs de province et commandants de territoires. Archives Centrales de l'Indochine - Résident Supérieur au Tonkin. No 55.527. (Trích dịch bởi Vũ Quốc Thông, tạp chí Nghiên Cứu Hành Chánh - Học Viện Quốc Gia Hành Chánh xuất bản - Saigon - số 5 và 6 năm 1963).
30 Chester A. Bain - Việt Nam, The Roots of Conflict - Trích dẫn bởi Phạm Phúc Thái - Cuộc đảo chánh của Nhật ở Đông Dương - Tiểu luân Cao học - Đại Học Văn khoa Saigon - 1968, trang 133. < br> 31 Trần Đức Thảo - Sdd, trang 12.
32 (1) Rapport No 36 en date du 5 Février 1889, du Résident Général de France au Tonkin et en An Nam au Gouvernement Général de l'Indochine. < br> Archives Centrales de l'Indochine - Fonds du Gouvernement Général-E3-9259 - Trích lại của Vũ Quốc Thông, tạp chí Nghiên Cứu Hành Chánh - Học Viện Quốc Gia Hành Chánh xuất bản - Saigon, số 5 và 6 năm 1963.
33 Trong tập kịch Người đi không về - Nam Việt - Saigon, 1949. < br> 34 Việt Bút số 1, ngày 8-2-1949.
35 Nhà xuất bản Ngày Nay - Saigon - 1947.
36 Việt Bút số 1, ngày 8-2-1949.
37 Tác giả xuất bản - Mạch Sống phát hành - Saigon -1947.
38 Nam Việt - Saigon - 1949.
39 Thế giới, số 3 ngày 11-11-1949.
40 Sống Chung - Saigon - 1949.
41 Tân Việt - Saigon - 1949.
42 Văn Hoá tùng thư - Saigon - 1949.
43 Việt Bút, số 19 ngày 18-8-1948.
44 Sống Chung - Saigon - 1949. oàng Cao Khải - Gương nước Nam - Nhà in DuòurHoangf
45 Tân Việt - Saigon - 1949. oàng Cao Khải - Gương nước Nam - Nhà in DuòurHoangf
46 Sống Chung- Saigon - 1949. oàng Cao Khải - Gương nước Nam - Nhà in DuòurHoangf
47 Tân Việt - Saigon - 1949. oàng Cao Khải - Gương nước Nam - Nhà in DuòurHoangf
48 Bảo Tồn - Saigon - 1950
49 Tân Việt Nam - Saigon - 1949.
50 Tân Việt - Saigon - 1949.
51 Sống Chung - Saigon - 1949.
52 Ngày Nay - Saigon - 1950.
53 Trong tập truyện Trái lựu đạn không kịp nổ. Nam Việt - Saigon - 1949.
54 Đều do nhà xuất bản Tiếng Chuông - Saigon - 1949.
55 Nam Việt - Saigon - 1949.
56 Tân Việt Nam - Saigon - ấn bản lần I và II đều năm 1949.
57 Đều do nhà xuất bản Sống Chung - Saigon - 1949.
58 Trong tập truyện ngắn Nắng bên kia làng - Sống Chung - Saigon – 1949.
59 Việt Cường - Nha Trang - 1949.



... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 20.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004