Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh vẽ Kiều của nữ họa sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)




PHIÊN TOÀ

THỪA THIÊN HÀNH ĐẠO TẠI LÂM TRI

DƯỚI GÓC NHÌN CỦA LÝ THUYẾT HỘI THOẠI






T rong Truyện Kiều có 106 lần thoại (73+33) với 1.393 dòng thơ (1.181+212) gồm 73 cuộc thoại với 1.181 dòng thơ và 33 lần độc thoại nội tâm với 212 dòng. Trong bài trước, chúng tôi đã xem xét đến một cuộc song thoại và một cuộc tam thoại, nay xét đến cuộc đa thoại dài nhất trong Truyện Kiều, trích từ quyển Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều (NXB Thanh niên – 2013).

Trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của Thuý Kiều có một sự kiện quan trọng mà nàng không thể nào quên, đó là phiên toà Lâm Tri, nơi mà nàng có thể thừa thiên hành đạo, đền ơn trả oán cho những bất công đau khổ mà nàng phải chịu đựng trong mười mấy năm trời. Sự việc xảy ra chỉ trong một ngày được Nguyễn Du miêu tả trong 118 dòng thơ (từ câu 2311 đến câu 2418).

Trước hết là cuộc song thoại giữa Từ Hải và Kiều.

Song thoại là cuộc thoại chỉ gồm có hai bên A và B. Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe.

2289. Trong quân có lúc vui vầy,

Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:

2291. – “Khi Vô Tích, khi Lâm Tri,

Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.

2293. “Tấm thân rày đã nhẹ nhàng.

Chút còn ân oán đôi đường chưa xong”.

Đoạn này Bản Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều tuy sau chữ sự ngày hàn vi có hai dấu chấm, nhưng không có dấu ngoặc kép ở 4 câu tiếp theo nên ta có thể hiểu là lời thuật lại của Nguyễn Du. Tuy nhiên, ta cũng có thể coi 4 câu ấy chính là lời kể của Thuý Kiều và coi đây là lời tâm sự của nàng dẫn đến phiên toà Lâm Tri.

Sau khi nghe Kiều kể lại những ngày hàn vi hoặc trực tiếp hoặc qua lời thuật trên đây của Nguyễn Du, Từ Hải nổi giận đùng đùng, nghiêm quân tuyển tướng và chuẩn bị cho cuộc báo ân báo oán.

Trong bài này, chữ số trong ngoặc là số câu thơ đã dùng trong cả cuộc thoại.

1. Phiên toà bắt đầu, Từ Hải mở thoại (A) cho phép Kiều tự mình xử quyết:

2319. Từ rằng: - “Ân oán hai bên,

Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh”. (2)

2. Kiều vâng mệnh và xin được báo ơn trước rồi mới trả thù sau bằng ba dòng thơ B (AB):

2321. Nàng rằng: - “Muôn cậy uy linh,

Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.

2323. “Báo ân rồi sẽ trả thù”. (5)

3. Cuộc song thoại này diễn tiến bình thường theo đúng nguyên lý điều hành luân phiên lượt lời: mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời, sau A là B. Cả hai đều hướng đến đúng mục đích của cuộc thoại, Từ Hải nói hai dòng thơ nhưng Kiều nói những ba dòng, nàng muốn báo ơn trước đã. Và kết thúc cuộc thoại là lượt lời của Từ chỉ bằng một câu:

Từ rằng: - “Việc ấy phó cho mặc nàng”. (6)

A,B rồi lại đến A (ABA). Và đến đây bắt đầu cuộc báo ân báo oán.

(Không nên đưa mấy câu Kiều tâm sự ở trên vào cuộc thoại này).

Trong một môi trường trang nghiêm với gươm lớn giáo dài, Thuý Kiều là chủ toạ của phiên toà. Trước hết nàng Cho gươm mời đến Thúc lang, thì con người chàng trông thật là thảm hại Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run. Nàng mở đầu cuộc xử án cũng coi là mở thoại bằng việc nói với Thúc Sinh.

4. Cuộc xử án này là tiếp theo cuộc thoại ở trên, do Kiều (B) khởi đầu:

2327. Nàng rằng: - “Nghĩa trọng nghìn non,

Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?

2329. “Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Kiều mang ơn Thúc Sinh vì trước khi được làm phu nhân của Từ Hải, nàng đã trải qua biết bao lưu ly oan khổ thanh lâu hai lượt thanh y hai lần với biết bao nhục nhã ê chề. Thúc Sinh đã đưa được nàng ra khỏi chốn bùn nhơ, khỏi lầu xanh của Tú Bà và cho nàng một danh phận dù là danh phận của một người vợ lẽ. Cuộc sống của nàng có được hơn hai năm hạnh phúc với cảnh Huệ lan sực nức một nhàTừng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. Tuy nhiên sau đó bão tố đã nổ ra và ở đấy không chỉ nàng phải chịu cảnh thanh y hai lần mà còn phải chịu những trận đòn ghen khủng khiếp nhất. Nhưng nàng vẫn biết ơn con người si tình mà theo một nghĩa nào đó đã yêu nàng hết mực và tỏ lòng biết ơn chàng đã một thời vui vẻ mặn nồng bằng những lời đầy tình nghĩa dù không khỏi có phần nhẹ nhàng trách móc: Tại ai?

Bốn câu thơ trên là hai câu hỏi, ít có sự ngắt nhịp nên nghe êm đềm phù hợp với lời nói dịu dàng, đã một phần nào thể hiện được chân tình của Kiều. Tuy có công khi cứu vớt nàng ra khỏi lầu xanh Tú Bà và có thương xót nàng trong lúc bị Hoạn Thư đánh ghen, nhưng từ trong bản chất, Thúc Sinh là kẻ đớn hèn, không dám xả thân vì người yêu nên cuối cùng bỏ cuộc nửa vời. Kiều là người thông minh, nhạy cảm, nên hiểu được thực chất tình cảm ở chàng, và vì vậy tuy đền ơn Thúc Sinh, nhưng trong lời lẽ của Kiều vẫn có phần chút gì gượng gạo dù thể hiện bằng những từ Hán Việt trang trọng và hoa mỹ mang phong cách ngôn ngữ ước lệ, khuôn sáo: nghĩa trọng nghìn non, chữ tòng, cố nhân và điển tích Sâm Thương.

2331. “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,

Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là.

Kiều không chỉ cảm ơn Thúc Sinh, 4 câu nhắc lại tình xưa nghĩa cũ, 2 câu nói đến những tặng vật để báo ơn. Và sau đó là 4 câu đe doạ người vợ của chàng:

2333. “Vợ chàng quỷ quái tinh ma,

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

2335. “Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”. (16)

Chỗ này Thuý Kiều (Vẫn là B) cũng vi phạm nguyên lý hội thoại: nói với Thúc Sinh nhưng kéo dài thêm 4 câu nhận xét và đưa ra những lời đe doạ Hoạn Thư. Có lẽ do nàng quá “bức xúc” lại là chủ toạ phiên toà nên nàng được quyền quyết định mọi diễn tiến của cuộc thoại.

Lời mở đầu phần xét xử của Kiều (B) dài tới 10 dòng thơ trên đây bắt đầu cho một cuộc đa thoại với rất nhiều nhân vật nhưng chỉ có 3 người tham thoại: Thuý Kiều, Hoạn Thư và Giác Duyên B-C-D.

5. Lẽ ra sau B là đến C hay D… nhưng trong cuộc thoại này, Kiều đóng vai chủ động, chủ toạ một phiên toà nên nàng có quyền quyết định cuộc giao tiếp, nói với ai trước và nói về cái gì (đề tài giao tiếp). Nàng bắt đầu nói ơn nghĩa với Thúc Sinh nhưng như ta thấy, chàng vẫn im hơi lặng tiếng, không biết nói gì và không biết nói sao. Thúc vốn là một con người nhút nhát nay trước cảnh gươm lớn giáo dài lại càng tỏ ra bạc nhược không nói được một lời cảm ơn, và bộ mặt mới thật là thảm hại - Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm. Chàng vốn tính quen thói bốc trời nhưng luôn luôn tỏ ra ngại đụng chạm, đã từng có cách Nghĩ đà bưng kín miệng bình - Nào ai có khảo mà mình lại xưng khi về gặp Hoạn Thư.

Tiếp theo, Kiều cùng một lúc nói với mụ quản gia và Giác Duyên lượt lời thứ hai B (BB) với 5 dòng thơ:

2343. Dắt tay mở mặt cho nhìn:

- “Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi.

2345. “Nhớ khi lỡ bước sẩy vời,

Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.

2347. “Nghìn vàng, gọi chút lễ thường,

Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân”. (21)

Dòng thơ đầu như nàng tự giới thiệu với cả hai người, tiếp theo là mỗi vị hai câu mụ quản gia và Giác Duyên, rất chính xác mà ta nhận ra được do tên của nàng lúc trước Hoa Nô và Trạc Tuyền (Cũng như trong lỡ bước sẩy vờimà lòng Phiếu mẫu). Quả là viết văn xuôi trình bày có thứ tự lớp lang đủ ý được như vậy cũng đã khó mà Nguyễn Du lại chỉ dùng 5 dòng thơ mới thật hay!

6. Rồi một lượt lời nữa B (BBB) chỉ có hai câu cũng nói với hai vị khi thấy:

2349. Hai người trông mặt tần ngần,

Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui.

2351. Nàng rằng: - “Xin hãy rốn ngồi,

Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù”. (23)

7. Hết trả ơn rồi đến báo oán mà trước hết là Hoạn Thư. Vẫn là Kiều nói lượt lời thứ tư B (BBBB) ra vẻ chào hỏi mà cũng là đe doạ Hoạn Thư:

2357. Thoạt trông nàng đã chào thưa:

- “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

2359. “Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

2361. “Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. (28)

Trong lượt lời này của Thuý Kiều có một câu mà cụ Đào Duy Anh cho là đặc sắc và bình luận: Chỉ một câu “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” cũng tả cả vẻ đắc chí, cả giọng mỉa mai của Thuý Kiều.

8. Trước câu chào hỏi có vẻ mỉa mai của Kiều, Hoạn Thư được phép tiếp lời C (BBBBC).

Nguyên lý lịch sự là đặc biệt quan trọng trong giao tiếp vì tính tế nhị lịch sự là một yếu tố tác động tới các hiện tượng, qui luật và cấu trúc ngôn ngữ. Nó có ảnh hưởng rất lớn tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp. Theo đó, phải giữ gìn thể diện cho người đối thoại, có phép lịch sự tích cực gồm những hành vi đề cao người khác, quan tâm tới người khác, lại có phép lịch sự tiêu cực gồm những hành vi tránh làm phương hại tới thể diện của người khác và nếu không thể tránh được thì biết làm giảm nhẹ mức độ của những hành vi phương hại đến thể diện đó. Nói chung đó là nói giảm mức độ của phát ngôn không lịch sự và nói tăng mức độ của những phát ngôn lịch sự hay làm cho người nghe tìm được cái may trong cái rủi, tìm được cái lợi trong cái tổn thất... Chính nguyên lý lịch sự đã giúp cho cuộc thoại tiến triển bình thường không bị cắt ngang, do một bên nào đó bị chạm tự ái bỏ cuộc. Hoạn Thư quan tâm đặc biệt đến nguyên lý này vì đã không làm mất lòng Kiều. Nếu nói rằng trước đây Kiều đã lấy trộm chuông vàng khánh bạc mà Hoạn không cho người đuổi theo để kể công mình nhằm xin tha thì vi phạm nguyên lý lịch sự, Hoạn Thư đã không làm thế:

2365. Rằng: - “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

2367. “Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

2369. “Lòng riêng, riêng những kính yêu,

Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.

2371. “Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”. (36)

Bằng sự phản bác đúng lý, Hoạn Thư đã nhanh chóng lập lại thế cân bằng giữa quan toà và tội phạm. Từng từ ngữ một, Hoạn Thư đều cân nhắc kỹ lưỡng: Không chỉ "đàn bà" mà còn thu nhỏ hết mức thân phận vốn mỏng manh bằng chữ "chút phận"; lại dùng chữ "người ta" là quy luật phổ biến rồi "thì cũng" (tất yếu), "thường tình" (chuyện dễ hiểu); "chưa dễ ai chiều cho ai" (Ai lâm vào cảnh ấy, kể cả cô - Thuý Kiều - cũng hành xử thế thôi!). Qua lời Hoạn Thư, đòn ghen hiểm độc xưa kia mà mụ dành cho Kiều trở thành nhẹ bỗng.

Mụ lại biết nhận tội trót lòng, biết nịnh khéo Đại vương phu nhân bằng chữ lượng bể nên đã thoát tội. Lời của Hoạn Thư thật vắn tắt mà đầy đủ, lời ít mà ý nhiều, đủ cả tình cả lý. Tám dòng thơ là tám ý mà chúng tôi đã đề cập đến trong những bài viết khác. Đúng như nhà văn Lê Văn Hoè nhận xét: “Cầu xin mà không khúm núm, khiêm tốn mà không nịnh hót, cứng cỏi mà không khiến người ta giận, cúi lậy mà không để người ta khinh. Thái độ bình tĩnh mà chững chạc, nói năng lễ độ mà đanh thép. So với thái độ nhút nhát hoang mang của Thúc Sinh khác nhau một vực một trời. Hoạn Thư đáng trọng bao nhiêu thì Thúc Sinh đáng khinh bấy nhiêu”.

9. Trước những lời tự thú mà thật ra là tự bào chữa (Như những lý lẽ của một luật sư đại tài) của Hoạn Thư, Kiều vốn là con người có tình, có nghĩa không thể nói gì khác hơn bằng lời khen 5 câu B (BBBBCB):

2373. - “Khen cho thật đã nên rằng,

Khôn ngoan rất mực, nói năng phải lời.

2375. “Tha ra thì cũng may đời,

Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.

2377. “Đã lòng tri quá thì nên”. (41)

10. Xong việc với tên chính danh thủ phạm thì đến các tên tội khác nàng tuyên bố B (BBBBCBB):

2381. Nàng rằng: - “Lồng lộng trời cao,

Hại nhân nhân hại, sự nào tại ta!”. (43)

11. Trước phiên toà, nàng ra lệnh tiếp bằng lượt lời B (BBBBCBBB):

2387. Lệnh quân truyền xuống nội đao:

- “Thề sao thì lại cứ sao gia hình!”. (44)

12. Trước cảnh đầu rơi máu chảy, không một ai dám lên tiếng mà tất cả chỉ là im lặng. Chỉ một mình Giác Duyên nói với Kiều nhưng từ đây dẫn đến lời tiên tri cho quãng thời gian còn lại trong 15 năm lưu lạc của nàng. Giác Duyên muốn ra về và Kiều lại nói với nhà sư ở lượt lời B (BBBBCBBBB):

2397. Việc nàng báo phục vừa rồi,

Giác Duyên vội đã gửi lời từ quy.

2399. Nàng rằng: - “Thiên tải nhất thì,

Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.

2401. “Rồi đây bèo hợp mây tan,

Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu?”. (48)

13. Đến đây mới là lời Giác Duyên D (BBBBCBBBBD):

2403. Sư rằng: - “Cũng chẳng bao lâu,

Trong năm năm, lại gặp nhau đó mà.

2405. “Nhớ ngày hành cước phương xa,

Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri.

2407. “Bảo cho hội ngộ chi kỳ,

Năm nay là một, nữa thì năm năm.

2409. “Mới hay tiền định chẳng lầm,

Đã tin điều trước, ắt nhằm điều sau.

2411. “Còn nhiều ân ái với nhau,

Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì!”. (58)

Lượt lời này dài tới 10 câu, cho biết sau 5 năm sẽ được gặp lại, qua đó ta đọc thấy cả tư tưởng Phật giáo, thuyết nhân quả trong lời thoại của Giác Duyên.

14. Kết thúc cuộc thoại Kiều nhờ Giác Duyên hỏi Tam Hợp đạo cô về tương lai của nàng – B (BBBBCBBBBDB):

2413. Nàng rằng: - “Tiền định tiên tri,

Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai.

2415. “Hoạ bao giờ có gặp người,

Vì tôi, cậy hỏi một lời chung thân”. (62)

Như vậy ta thấy có 62 dòng thơ trong một cuộc thoại với 14 lượt lời kể cả cuộc thoại giữa Từ Hải và Kiều (3 lượt lời ABA với 6 câu) trước khi Kiều chủ trì phiên toà. Đây là cuộc thoại dài thứ hai trong Truyện Kiều sau cuộc tam thoại giữa Thuý Kiều, Thuý Vân và Kim Trọng để thuyết phục Kiều đồng ý tái hợp với chàng Kim với 5 lượt lời và 63 dòng thơ.

Qua cuộc thoại, ta thấy được rõ hơn bản chất và tính cách của các nhân vật: Kiều ân oán phân minh, đối xử ân tình, Hoạn Thư gian ngoan sắc sảo, Thúc Sinh ích kỷ hèn nhát, Giác Duyên hiền lành chân thực, còn bọn buôn người thì đê tiện xấu xa. Lần diễn ra cuộc báo ân, báo oán này được mô tả trong 118 câu (từ câu 2301 đến câu 2418) bằng trên 1/30 của tác phẩm diễn tả cả cuộc đời 15 năm lưu lạc của Thuý Kiều mà chỉ để tả có một ngày! Tác giả đã biết tập trung vào một số thời điểm then chốt, đó cũng là một trong những đặc điểm nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Du.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển ngày 03.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004