Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Niên Biểu Nước Việt Nam

Bị Xâm Lược Từ Phương Bắc










-N ước Xích Quỷ (Đất đỏ phương Nam) là quốc gia cổ đại của tộc Bách Việt, trong đó có Lạc Việt, rộng lớn chiếm địa bàn bằng phân nửa đất nước Trung Hoa, bắc giáp sông Dương Tử, tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), đông giáp biển Đông và nam giáp xứ Hồ Tôn (Champa) - miền Trung ngày nay - do Kinh Dương Vương húy Lộc Tục trị vì (2879 – 2794 tr.CN) – đời vua đầu tiên trong số 18 đời Hùng Vương (2879-258 tr.CN).          

-Nhà nước Văn Lang : Đời Hùng Vương thứ hai là Lạc Long Quân và vợ là Âu Cơ (2793-2525 tr. CN) đổi tên nước Xích Quỷ còn lại thành Văn Lang đóng đô ở Phong Châu (Vĩnh Phú). Lịch sử Việt Nam chính thống chỉ được ghi chép từ đây. Vô hình chung, nước Xích Quỷ rộng lớn chỉ còn lại và được biết ở một địa bàn nhỏ hẹp được tính từ lãnh thổ Bắc Bộ tới Bắc Trung Bộ (tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An), nơi sinh tụ của tộc Lạc Việt và Tây Âu tức cộng đồng người Việt Nam ngày nay, dân số trên 1 triệu người.          

Như vậy, dải đất trải dài từ Giang Nam qua Ngũ Lĩnh, hồ Động Đình tới Lưỡng Quảng của Việt tộc đã bị Hoa tộc (nhà Hạ, Thương thế kỷ 21 tr.CN) chiếm mất trong thời kỳ đầu Hùng Vương.          

-Năm Hùng vương thứ 6 (1712-1632 tr.CN) : nhà Ân, Thương (Trung Hoa) tiếp tục xâm lược Văn Lang. Phù Đổng Thiên vương cứu nước thắng lợi.         

-Năm 214-218 tr.CN: Tần Thủy Hoàng sau khi làm chủ phía Bắc, Trung (Trung Hoa) sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân tiếp tục xâm lược Văn Lang ở phía Nam sau thời kỳ không còn vua Hùng.         

-Năm 208 tr.CN : Cuộc xâm lược này thất bại, tướng Đồ Thư bị giết chết. Nhà Tần thua dân quân Lạc Việt – Tây Âu liên minh do Thục Phán chỉ huy, ông lập ra nhà nước Âu Lạc (208-179 tr.CN), xưng An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa.         

-Năm 179 tr.CN : Triệu Đà ở Quảng Châu (Trung Hoa) âm mưu kết thân, đưa con trai ở rể An Dương Vương rồi đánh chiếm Cổ Loa thành (nay thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội), lập nước Nam Việt.         

-Năm 111 tr.CN : Nhà Tây Hán sai tướng Lỗ Bác Đức đánh lấy Nam Việt (có Âu Lạc) đặt ách thống trị, Nam Việt đổi thành Giao Chỉ - Bắc thuộc lần thứ 1 (111 tr.CN – 39 sau CN).         

-Năm 40-43): Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh (Sơn Tây) đánh thắng nhà Tây Hán, làm vua Giao Chỉ (Giao Châu) 3 năm.          

-Năm 43 : Nhà Đông Hán (25-220) sai tướng Mã Viện đánh thắng Hai Bà tiếp tục đô hộ Giao Châu – Bắc thuộc lần thứ 2 (43-544).         

-Năm 248 : Do nhà Ngô cai trị quá tàn ác, hai anh em bà Triệu khởi binh đánh Cửu Chân (Thanh hóa – Nghệ An) nhưng thất bại. Năm 264, nhà Ngô cắt đất Nam Hải, Uất Lâm (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây) lập ra Quảng Châu. Lưỡng Quảng của Giao Chỉ bị mất từ đó.         

-Năm 544 : Thời nhà Lương (Trung Hoa) đô hộ Giao Châu, anh hùng Lý Bôn (Lý Bí) khởi nghĩa tự xưng Nam Việt Đế đặt tên nước Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (Bắc Ninh).         

-Năm 545 : Nhà Lương (Trung Hoa) tiếp tục xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế (Lý Bôn) giao quyền cho Triệu Quang Phục tổ chức kháng chiến ở căn cứ đầm Dạ Trạch thuộc Hưng Yên, xưng Triệu Việt Vương rồi được Lý Phật Tử thay thế.         

-Năm 602 : Nhà Tùy (Trung Hoa) đưa quân sang đánh chiếm Giao Châu (nước Vạn Xuân). Nhà Tiền Lý (544-602) chấm dứt.         

-Năm 618 : Nhà Đường thay nhà Tùy tiếp tục sang xâm lược và cai trị Giao Châu đổi thành An Nam Đô hộ phủ gồm 12 châu, 59 huyện (từ Bắc bộ vào tới Thanh Hóa, Nghệ An – Bắc thuộc lần thứ 3 (603-939), thực hiện chế độ cai trị hà khắc nhất. Đạo Nho, Lão, Phật thịnh hành nhưng đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của dân Việt bị suy đồi sau 1.000 năm Bắc thuộc.          

-Năm 722 : Khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, xưng vương tục gọi Mai Hắc Đế (người Hà Tĩnh) đánh chiếm Hoan Châu (Nghệ An).         

-Năm 791 : Khởi nghĩa Phùng Hưng (người Đường Lâm- Sơn Tây) không lâu thì mất, người đời sau tôn vinh là Bố Cái Đại Vương (được coi như cha mẹ).         

-Năm 939 : Ngô Quyền người Đường Lâm (Sơn Tây) đánh thắng quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng bắt giết chỉ huy Thái tử Hoằng Tháo rồi xưng vương đóng đô ở Cổ Loa chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, với tên gọi nhà Ngô (939-965) mở ra thời kỳ độc lập cho đất nước từ đó về sau.         

-Năm 939 – 965 : Chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta chuyển sang thời kỳ độc lập, tự chủ         

-Nhà Đinh (968-979) : Đinh Bộ Lĩnh sinh ra và lớn lên ở động Hoa Lư (Ninh Bình) thuở nhỏ chăn trâu nhưng có chí khí, lớn lên quy tụ được nhiều người tài giỏi đánh dẹp được 12 Sứ quân (945-967) nội loạn sau nhà Ngô, được tôn Vạn Thắng Vương tức Đinh Tiên Hoàng nhưng lo ngại nhà Tống (Trung Hoa) xâm lược nên sai sứ thông hiếu tấn cống hàng năm. Lệ cống Tàu có từ đây.         

-Nhà Tiền Lê (980-1009) : Lê Hoàn người Hà Nam giữ chức Thập đạo tướng quân nhà Đinh, có công đánh dẹp xâm lược phía Nam (Champa) đồng thời lập mặt trận Bạch Đằng ngăn xâm lược nhà Tống thừa cơ hội nhà Đinh suy yếu đưa quân đánh chiếm nước ta, đã thắng lợi vẻ vang, xưng Đại Hành hoàng đế tức Lê Đại Hành, truyền ngôi được bốn đời.         

-Nhà Lý (1010-1225) : Lý Công Uẩn người quê Từ Sơn (Bắc Ninh), con nuôi nhà sư Lý Khánh Vân chùa Cổ Pháp, làm quan nhà Tiền Lê ở Hoa Lư (Ninh Bình) giữ chức Tả Thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ được Sư Vạn Hạnh và quan quân dân ủng hộ suy tôn làm vua tức Lý Thái Tổ, dời đô về thành Đại La tức Thăng Long – Hà Nội, mở ra triều nhà Lý hưng thịnh và phát triển về mọi mặt, truyền được 9 đời.         

-Năm 1038 : Người Nùng làm phản ở châu Quảng Nguyên (Lạng Sơn), chiếm thêm Lưỡng Quảng của nhà Tống. Vua Tống đem quân lấy lại, chiếm luôn Quảng Nguyên của nước ta và đưa quân xâm lược Đại Việt. Tướng Lý Thường Kiệt đưa quân chặn đánh địch phương Bắc ở sông Như Nguyệt (sông Cầu).         

-Năm 1078 : Triều đình nhà Lý đưa quân đòi triều đình phong kiến phương Bắc trả lại Quảng Nguyên (Lạng Sơn) và một số huyện khác ở Cao Bằng, rồi tiến quân đánh phá cả châu Khâm châu Liêm và châu Ung (thuộc Lưỡng Quảng). Từ đó, Cao Bằng và Lạng Sơn vĩnh viễn thuộc về Đại Việt nhưng mất Lưỡng Quảng.         

-Nhà Trần (1225-1400) : Có ba lần chiến thắng Nguyên Mông :         

-Lần 1 (năm 1258): Quân Mông Cổ làm bá chủ từ Á sang Âu, đánh chiếm Trung Hoa đời Nam Tống đổi quốc hiệu là Nguyên, sau đó sang xâm lược nước ta, chiếm đóng Thăng Long. Tướng Trần Hưng Đạo cùng vua Trần Thái Tông mở hội nghị Bình Than tổ chức phản công đánh thắng, giết chết tướng Toa Đô.         

-Lần 2 (năm 1284) : Nhà Nguyên xâm phạm Đại Việt do Thái tử Thoát Hoan chỉ huy có các tướng giỏi Toa Đô, Ô Mã Nhi kéo quân nhiều ngã tràn ngập Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Diên Hồng, toàn dân quyết đánh giặc đem lại chiến thắng lẫy lừng.         

-Lần 3 (năm 1288) : Nhà Nguyên huy động toàn quân các tỉnh phía Nam tiếp giáp Việt Nam kéo sang đánh phục thù. Triều đình cùng quan quân quyết tâm đánh ngoại xâm, phá tan quân Nguyên ở sông Bạch Đằng, đẩy lui xâm lược nhưng vẫn giữ hòa hiếu sau chiến thắng.         

-Nhà Hồ (1400-1407) : Lê Quý Ly đổi lấy họ Hồ soán ngôi nhà Trần xây Tây Đô ở Thanh Hóa (gọi thành nhà Hồ) đặt quốc hiệu Đại Ngu. Ông giữ hòa hiếu với nhà Minh nhưng luôn hỏi các quan :”Ta làm thế nào cho có 100 vạn quân để đánh giặc Bắc ?”.         

-Năm 1407 : Nhà Minh lấy cớ khôi phục nhà Hậu Trần chiếm lại Giao Chỉ nên cử các tướng Trương Phụ, Mộc Thanh, Liễu Thăng đem quân ồ ạt đánh chiếm Đại Việt, chấm dứt sự nghiệp nhà Hồ.         

-Thuộc nhà Minh (1414-1427) : Nhà Minh áp dụng chính sách cai trị rất hà khắc nhằm mục đích đồng hóa dân Việt. Quan cai trị bắt dạy chữ Hán cho dân Việt, mặt khác thu gom, đốt nhiều sách quý và phá hoại nền văn hóa của ta.         

-10 năm kháng chiến của Lê Lợi (1418-1427) : Cuộc khởi nghĩa lật đổ ách thống trị bạo tàn của nhà Minh do anh hùng Lê Lợi xuất phát từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa) xưng Bình Định Vương kéo dài 10 năm thoát khỏi sự thống trị của nhà Minh mở đầu triều đại nhà Lê hưng thịnh (1428-1788).         

-Người châu Âu sang Việt Nam : Năm 1614 : Thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, người Âu và các nước khác (Nhật, Hoa, Ấn…) tới buôn bán ở Hội An (Faifo) Đà Nẵng– Quảng Nam. Năm 1637 : Thời Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài, người Âu và các nước khác tới buôn bán ở Phố Hiến - Hưng Yên. Năm 1686 : Người Pháp tới buôn bán ở Côn Lôn (Côn Đảo) thuộc Gia Định.         

-Đạo Thiên chúa truyền vào Việt Nam (1533 – 1615): Các đoàn truyền giáo và thương thuyền đều đi qua và ghé lại Bãi cát vàng (Hoàng Sa). Nhiều nhà truyền giáo thời ấy viết sách mô tả cảnh quan, đất nước, con người Việt Nam (Đàng Ngoài thuộc vua Lê chúa Trịnh, Đàng Trong thuộc chúa Nguyễn) đều nói tới bãi Cát vàng ở biển Đông.         

-Năm 1686 : Ở Đàng Trong, Đỗ Bá vẽ bản đồ Bãi Cát Vàng được ghi chú như sau :”Bãi cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm ở khoảng giữa biển từ cửa biển Đại Chiêm kéo dài tới cửa biển Quyết Mông… Mỗi năm đến cuối đông chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng, bạc”.         

-Năm 1789 : Do vua Lê Chiêu Thống cầu cứu, nhà Thanh đưa quân tái lập nền đô hộ ở đất Bắc. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa quân thần tốc từ Nam ra Bắc trong vòng 7 ngày phá tan quân nhà Thanh giải phóng Thăng Long vào sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu.         

-Nguyễn Vương thống nhất Việt Nam : Sau 24 năm tranh giành với Nguyễn Tây Sơn từ năm 1778, nhờ vào sự ủng hộ, tham mưu của một số cố đạo người Pháp, Nguyễn Phúc Ánh tiêu diệt triều đình nhà Tây Sơn, lên ngôi vua Gia Long (1802-1819), đổi tên nước là Việt Nam – dải đất từ Cao Bằng - Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, trong đó ở biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, biển Nam và Tây Nam có Côn đảo và Phú Quốc, Thổ Châu.         

-Năm 1815 : Đội Hoàng Sa  được biên chế 70 suất đinh lấy ở các xã An Vĩnh, An Hải thuộc huyện Sơn Tịnh, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Phạm Quảng Ánh là Cai đội Hoàng Sa được vua Gia Long phái ra Hoàng Sa để đo đạc thủy trình.         

-Năm 1816 : Vua Gia Long nhà Nguyễn cử đội Hoàng Sa, Bắc Hải ra cắm cờ Việt Nam ở Bãi cát vàng (Hoàng Sa) và thay phiên nhau ở lại theo định kỳ để giữ chủ quyền biển đảo trên biển Đông.         

-Năm 1859 : Hải quân Pháp đánh chiếm Gia Định và sau đó đánh chiếm Bắc Kỳ, bảo hộ Trung Kỳ có vua. Hòa ước Thiên Tân 1885 ký kết giữa Pháp và triều đình nhà Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam sau khi nhà Thanh trả lại các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Sơn Tây, Bắc Ninh cho Việt Nam. Hoàng Sa vẫn thuộc Việt Nam.         

-Năm 1909 : Trung Quốc bắt đầu xâm phạm chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa khi Tỉnh trưởng Quảng Đông ngang nhiên ký quyết định sáp nhập hai quần đảo này vào đảo Hải Nam.         

-Năm 1910 : Đời vua Duy Tân năm thứ 3 nhà Nguyễn, sách Đại Nam thống nhất chí có ghi : hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.         

-Năm 1925 : Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Pháp (đô hộ Việt Nam).          

-Năm 1932 : Nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam ra nghị định lập đơn vị hành chính ở Hoàng Sa và sở hữu một số đảo ở Trường Sa.         

-Năm 1954 : Sau khi thua trận, rút khỏi Việt Nam, chính phủ Pháp vẫn giao lại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.         

-Hội nghị Genève năm 1954 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Hội nghị San Francisco tiếp tục cam kết tôn trọng chủ quyền Việt Nam, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa..         

-Năm 1956 : Trung Quốc đưa quân chiếm các đảo phía đông Hoàng Sa.         

-Năm 1974 : Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.         

-Năm 1979 : Trung Quốc đưa 60 vạn quân xâm lấn 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Quân Trung Quốc bị đánh đuổi ra khỏi biên giới phía Bắc nhưng vẫn tiếp tục bắn pháo sang Việt Nam nhiều năm liền.         

-Năm 1987 : Trung Quốc bắt đầu gia tăng hoạt động ở biển Đông, đặc biệt ở Trường Sa.         

-Năm 1988 : Ngày 13/3 chiếm đóng đảo Thập Châu Viên, Sa Bi, Ga Ven thuộc Hoàng Sa và Gạc Ma thuộc Trường Sa. Ngày 14/3 : 48 chiến sĩ công binh VN không vũ khí bị tàn sát và 16 chiến sĩ công binh khác trên tàu chở vật liệu xây dựng đang cập đảo.         

-Năm 2014 : Đầu tháng 5 : Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào thềm lục địa Việt Nam khai thác trái phép ở biển Đông. Từ đó tới năm 2016 : Trung Quốc chính thức lập đô thị Tây Sa, khu du lịch và sân bay ở Hoàng Sa, biến đảo Gạc Ma ở Trường Sa thành căn cứ quân sự và trang bị khí tài hiện đại mưu đồ làm chủ biển Đông.         

* Suốt quá trình 5.000 năm lịch sử dựng nước từ cổ chí kim (2879 tr.CN – 2016 s. CN), Việt Nam luôn bị đánh đuổi, xâm lược và đô hộ bởi các triều đại phong kiến phương Bắc và hiện nay vẫn tiếp tục bị bao vây và chiếm đóng ở hải đảo biển Đông.         


Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 16/4/2016


sưu tầm lập bản


. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 17.4.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004