Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (30)



Lê Đại Hành Thắng Đại Tống







L ê Đại Hành (941- 1005), tên húy Lê Hoàn. Hoàng đế lập nhà Tiền Lê, trị vì 980- 1005. Lê Hoàn là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất Việt Nam.

Lê Hoàn có đóng góp lớn chống quân Tống nước Tàu. Chống quân Chiêm. Giữ và củng cố nền độc lập tự chủ nước Việt. Lê Hoàn xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt ngang nước Tàu, như khát vọng của Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước Đại Cồ Việt.

Lê Hoàn tạo điều kiện cho Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010. Mở ra một kỷ nguyên phát triển lâu dài của Văn minh Thăng Long.

Thần tích ghi Lê Hoàn sinh ở xã Trường Yên- Hoa Lư- Ninh Bình. Cha mẹ Lê Hoàn xiêu dạt về xã Ninh Thái, Thanh Liêm- Hà Nam làm nghề chài lưới. Bảy tuổi, Lê Hoàn mồ côi cả cha, mẹ, phải làm con nuôi quan án châu Ái (Thanh Hoá).

Đại Tống mơ Đại Cồ Việt thành một lộ của Tống

Triều đình Hoa Lư loạn. Nhà Tống tiến quân đánh chiếm Đại Cồ Việt. Tống gọi là Giao Chỉ.

Nhà Tống lập Giao Chỉ hành doanh. Là bộ chỉ huy lực lượng viễn chinh Giao Chỉ. Hầu Nhân Bảo làm Tổng tư lệnh, được phong Giao Chỉ lộ Thủy lục kế độ giữ chức Chuyển vận sứ. Chỉ huy cả thủy, lục quân. Nếu, chiếm được Đại Cồ Việt. Nhà Tống sẽ biến Giao Chỉ thành một lộ của nước Tàu.

Các tướng Tống cao cấp của Giao Chỉ hành doanh gồm: Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn và Trần Khâm Tộ. Tôn Toàn Hưng được giao chức phó tổng tư lệnh, phong Ung Châu lục lộ binh mã Đô bộ thư. Hứa Trọng Tuyên là phó Tổng tư lệnh đóng tại hậu cứ ở đất Tống. Lưu Trừng chỉ huy lực lượng thủy quân. Hứa Sương Duệ cầm đầu thông tin liên lạc. Và nhiều sĩ quan tùy tướng, lại thuộc...

Khoảng 3- 4 vạn quân Tống sang đánh Đại Cồ Việt

Theo Tống sử. Nhà Tống chia quân làm hai đạo quân. Thủy và Bộ. Đạo quân Bộ do Tôn Toàn Hưng, Trương Tuyền và Thôi Lượng chỉ huy từ Ung Châu, sang nước Việt.

Đạo quân Thủy do Thứ sử Ninh Châu Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn chỉ huy, từ Quảng Châu, vào sông nước Việt.

Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam sử lược và một số sách lịch sử khác chép. Quân Tống có một đạo lục quân do Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng chỉ huy tiến vào Đại Cồ Việt qua đường Lạng Sơn. Và một đạo thủy quân do Lưu Trừng chỉ huy tiến vào qua cửa sông Bạch Đằng.

Lê Hoàn xuôi ngược những dòng sông phá Tống

Lê Đại Hành quyết liệt cầm quân Đại Cồ Việt đánh Tống. Phạm Cự Lạng giữ chức Thái úy. Hồng Hiến là Thái sư. Các nhà sư là những trí thức, giúp Lê Đại Hành phá Tống và xây dựng đất nước.

Thiền Uyển tập anh ghi:

Thời Lê Đại Hành chống Tống, vua thường mời sư Pháp Thuận và đại sư Ngô Chân Lưu cùng dự bàn mưu kế. Đến khi thái bình, vua ban khen, các sư đều không nhận thưởng.

Lê Đại Hành thân chinh dẫn đại quân từ kinh thành Hoa Lư theo đường thủy. Ngược sông Đáy, sông Nhuệ. Vào sông Hồng. Từ đó tiến lên miền địa đầu Đông Bắc đất nước.

Lữ Lang đưa đạo quân Uy Dũng từ Hoa Lư lên giữ phòng tuyến bờ Bắc sông Lục Giang (Thái Bình). Trần Công Tích trấn thủ ở Nghĩa Đô gần thành Đại La (Hà Nội). Lê Long Kính trấn thủ ở bờ Bắc sông Hải Triều (tức sông Luộc).

Khoảng 10 vạn quân Đại Cồ Việt rầm rập cùng Lê Hoàn đánh Tống. Với các tướng lẫm liệt, uy phong: Phùng Phường, Đào Trực, Hoàng Vĩnh Chu, Đào Công Mỹ, Phạm Quảng, Đào Thành, Phạm Minh, Nguyễn Triệt, Vũ Uy…

Đặng Xuân và bốn em trai: Vương Minh, Vương Xuân, Vương Hồng, hai em gái, và Dũng Mạnh, hộ vệ Lê Đại Hành.

Hầu Nhân Bảo háo danh, gửi xác Bạch Đằng Giang

Hầu Nhân Bảo. Con trai thứ ba của Hầu Ích, tướng Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu. Hầu Nhân Bảo có tài văn võ, được tể tướng Triệu Phổ gả em gái cho dựng nhà ở thành Lạc Dương. Sống nơi nhà cao cửa rộng, vườn ruộng, của cải nhiều, Hầu Nhân Bảo thích rong chơi. Vua Tống mời ra, phong chức Thái tử trung doãn.

Từ đó, Hầu Nhân Bảo thành kẻ hiếu danh, thích lập công, hung hổ. Ma xui. Quỷ khiến. Năm 980. Hầu Nhân Bảo dâng Đắc Giao Châu Sách- Kế sách lấy Giao Châu). Nhân quả hiện tiền. Hầu Nhân Bảo bị Lê Hoàn giết. Phơi xác sóng Bạch Đằng ngàn năm không siêu thoát.

Lê Hoàn đánh trận Bạch Đằng thứ nhất

Theo các sử gia. Lê Hoàn không thực hiện được trận mai phục bằng sự kết hợp giữa phục binh và trận địa cọc ngầm như Ngô Quyền. Chiến sự diễn ra không mau lẹ, thuận lợi như trận Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh Nam Hán. Chiến trận sông Bạch Đằng chống Tống lần thứ nhất. Diễn ra nhiều lần, nhiều đợt với những trận đánh khác nhau.

Khâm định Việt sử thông giám cương mụcViệt Nam sử lược chép về một trận Bạch Đằng. Quân Đại Cồ Việt thất bại. Quân Tống đông. Hung hăng với vũ khí súng, thuốc nổ. Quân Đại Cồ Việt đánh quân Tống cực kỳ nguy nan.

Theo các nghiên cứu lịch sử hiện đại. Ngày 24- 1- 981 cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào cửa Bạch Đằng. Trận Bạch Đằng đầu tiên này, quân Đại Cồ Việt không ngăn được quân Tống. Bị thương vong nhiều. Quân Tống lấy được 200 thuyền, tiêu diệt hơn 1.000 quân lính Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành phải rút về vùng Xạ Sơn (huyện Kinh Môn), An Lạc (Chí Linh- Hải Dương) củng cố thế trận.

Lục quân Tống tấn công Đại Cồ Việt

Thủy quân Tống đánh trận Bạch Đằng khoảng năm ngày. Hầu Nhân Bảo chỉ huy Lục quân Tống tới Hoa Bộ. Theo tác giả Trần Bá Chí. Hoa Bộ là địa danh của nước Việt do nhà Tống gọi. Có nghĩa là nơi có nhiều người Hoa sinh sống tại đất Đại Cồ Việt.

Trần Bá Chí dẫn các nghiên cứu về khảo cổ quân sự cho rằng Hoa Bộ gần sông Bạch Đằng, huyện Thủy Nguyên ngày nay. Quan điểm Hoa Bộ ở gần sông Bạch Đằng thống nhất với quan điểm cho rằng Lục quân Tống tiến vào Đại Cồ Việt qua đường ven biển Đông Bắc.

Tại Hoa Bộ. Lục quân Tống giao tranh với quân Đại Cồ Việt. Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đào chép quân Tống đã đánh bại "hơn vạn quân Giao Chỉ, chém được 2.345 đầu giặc".

Lịch sử chứng minh. Những nơi trên đất Việt có người Tàu sinh sống. Là căn cứ quân sự của Tàu. Mỗi khi Tàu xâm lược nước Việt.

Quân Tống lập Giao Châu hành doanh tại Đại Cồ Việt

Nhờ căn cứ quân sự Hoa Bộ. Hầu Nhân Bảo chiếm được sông Bạch Đằng và các làng mạc xung quanh. Đặt Giao Châu hành doanh tại đó, để phối hợp quân thủy bộ, tiến sâu vào nội địa Đại Cồ Việt.

Tháng 3- 981. Sau hơn hai tháng chiếm Bạch Đằng- Hoa Bộ. Hai cánh quân Thủy, Bộ của Tống vẫn dậm chân tại chỗ.

Quân Tống liên tục bị quân chủ lực và dân binh các làng xã tập kích quấy rối. Lưu Trừng đưa thủy quân tiếp viện. Không gặp được quân Tôn Toàn Hưng. Quay về căn cứ quân sự Hoa Bộ.

Lê Hoàn đánh trận sông Lục Đầu

Sông Lục Đầu là sông Sáu Đầu. Sáu con sông gặp nhau mà thành. Sông Cầu. Sông Đuống. Sông Kinh Môn. Sông Lục Nam. Sông Thái Bình. Sông Thương. Sông Lục Đầu, gọi là sông Đồ Lỗ. Đồ là giết. Lỗ chỉ quân Tống. Dân Việt gọi sông Lục Đầu là sông Giết Tống (Đồ Lỗ).

Phát hiện quân Đại Cồ Việt có chiến lũy Bình Lỗ kiên cố. Quân Tống đánh chiếm Đại La. Làm bàn đạp tiến đánh Hoa Lư. Ngày 7- 2- 981. Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng chỉ huy thủy lục quân tiến theo sông Kinh Thầy vào sông Lục Đầu.

Lê Đại Hành cùng các tướng Trần Công Tích, Trần Bảo Trung, Trần Minh Khiết kéo quân về giữ sông Lục Đầu. Quân Đại Cồ Việt bố trí dọc tuyến sông từ Đại La tới sông Lục Đầu, ngăn quân Tống vào Đại La. Tại sông Lục Đầu. Quân Đại Cồ Việt có căn cứ Phù Lan. Trên sông có nhiều bãi cọc, ngăn thuyền quân Tống.

Thủy quân Tống dàn quân. Chiếm sông Lục Đầu. Lục quân vận chuyển bằng thuyền. Đổ bộ lên bờ lập trại. Hai bên Tống- Việt giao chiến ác liệt.

Quân Tống nhiều lần tìm cách chọc thủng phòng tuyến của quân Đại Cồ Việt. Để tiến về Đại La. Đều thất bại. Quân Tống thua to ở sông Lục Đầu. Quân Tống phải rút về quanh sông Bạch Đằng.

Sau trận sông Lục Đầu. Tinh thần quân Tống sa sút. Tôn Toàn Hưng quay về Hoa Bộ, đóng lỳ ở đó. Bất chấp sự thúc giục của Hầu Nhân Bảo.

Lê Hoàn tung hoành những con đường đánh Tống

Đại Tống sừng sỏ kéo quân sang đánh Đại Cồ Việt bằng cả đường thủy và đường bộ. Quân Tống có thuốc súng, Tống phát minh, mạnh như vũ bão. Ầm ầm đổ vào dân Việt.

Lê Hoàn cùng quân dân Đại Cồ Việt quật cường, dũng mãnh. Đánh đuổi quân Tống trên khắp những dòng sông, những con đường nước Việt.

Trận Bình Lỗ ghi tạc chiến công. Bình Lỗ là tên một thành cổ. Nhờ thành Bình Lỗ. Năm 981. Lê Đại Hành đánh tan quân Tống.

Theo Thiền Uyển Tập Anh. Sư Khuông Việt được vua cử đi trước, đến Bình Lỗ. Chuẩn bị trận địa mai phục đánh Tống. Chú thích của Lê Mạnh Thát ghi rõ sông Bình Lỗ chính là sông Cà Lồ ngày nay.

Hương Bình Lỗ xưa kéo dài từ núi Sóc đến sông Cà Lồ. Hướng hành quân của vua Lê Đại Hành Theo đường thủy, ngược sông Đáy, sông Nhuệ mà vào sông Hồng, rồi từ đó tiến lên miền địa đầu Đông Bắc đất nước.

Trên đường hành quân. Lê Hoàn dừng ở làng Tó, xã Tả Thanh Oai (dọc sông Nhuệ), huyện Thường Tin ngày nay, rồi vượt sông Hồng và xuôi dòng sông Cà Lồ, đến Bình Lỗ.

Thiền Uyển Tập Anh ghi:

Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh, lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ.

Đại Việt sử lược ghi:

Vua tự làm tướng đem quân ra chống cự. Vua cho cắm cọc cứng dưới sông. Quân Tống rút về giữ mặt Ninh Giang. Vua sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo. Quân Tống thua trận, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém. Bọn Trần Khâm Tộ nghe tin thất trận phải rút lui.

Sông Hữu Ninh có thể là một nhánh của sông Cà Lồ. Nối từ thành Bình Lỗ đến bờ sông Cà Lồ. Nay đã bị vùi lấp. Trận Bình Lỗ gồm cả trận đánh trên sông Hữu Ninh. Sông Hữu Ninh là nhánh sông bên phải của sông Ninh (tức sông Cầu). Ngày nay dọc con sông nhỏ hẹp này, còn nhiều dấu tích. Với những tên gọi: Ngòi Ác, cầu Cửa Ma, Đầm Lâu. Và một nấm mồ chung, chạy dài tên là Bờ Xác. 

Lê Hoàn đánh trận Bạch Đằng thứ hai

Các chính sử cũ của Việt Nam và một số nghiên cứu lịch sử hiện đại. Không nhắc đến trận này. Các nghiên cứu lịch sử mới hơn. Khẳng định có. Cho rằng đây là trận đánh quyết định. Diệt chủ tướng và bộ phận lớn quân Tống.

Ngày 28- 4- 981. Trận quyết chiến Bạch Đằng diễn ra lần thứ hai.

Có nghiên cứu cho rằng Lê Đại Hành đã cho một cánh quân ra khiêu chiến với quân Hầu Nhân Bảo. Chiến sự đang diễn ra quyết liệt, thì quân Đại Cồ Việt "thua chạy", quân Tống "thừa thắng" đuổi theo. Khi chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục. Lê Đại Hành tung quân, đánh ráo riết. Các chiến binh Đại Cồ Việt từ khắp các trận địa mai phục. Từ các nẻo đường đổ về sông Bạch Đằng. Vây đánh quân Tống quyết liệt.

Hầu Nhân Bảo bị giết trong đám loạn quân. Lưu Trừng vội vã dẫn đám tàn quân, tháo lui ra biển.

Tác giả Trần Bá Chí dẫn một số sử liệu của Trung Quốc và Việt Nam cho rằng Lê Đại Hành đã gửi thư trá hàng và lập đài tuyên thệ. Hầu Nhân Bảo tưởng thật, đi thuyền tới đài tuyên thệ. Bất ngờ, bị Thủy quân Đại Cồ Việt chia cắt khỏi lực lượng bảo vệ. Bị lính tinh nhuệ của Đại Cồ Việt giết.

Những người có công giết Hầu Nhân Bảo có thể là các tướng Đào Công Mỹ, người làng Dịch Sứ (Hà Bắc) và Phạm Công Quang, người trang Hoa Chương huyện Thủy Đường (Thủy Nguyên, Hải Phòng). Các mũi quân Đại Cồ Việt, đồng thời tấn công Thủy quân Tống và tiêu diệt một bộ phận lớn.

Các sử liệu Tàu tưng bừng chép chiến thắng của quân Tống giai đoạn đầu. Chép các thất bại rất sơ lược.

Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đào chép việc các tướng lĩnh chinh phạt Đại Cồ Việt thất bại bị trị tội. Lưu Trừng cùng Giả Thực đều bị giết bêu đầu ở chợ Ung Châu. Tôn Toàn Hưng bị hạ ngục rồi bị tội chết. Trần Khâm Tộ, Hác Thủ Tuấn, Thôi Lượng đều bị trách phạt, giáng chức. Các tướng lĩnh Tống cao cấp bị chết hay bị bắt tại trận gồm tổng tư lệnh Hầu Nhân Bảo, Chu Vị, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân.

Tống sử Tàu chép: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng, mà Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật…". Điều này chứng tỏ Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng mắc lừa mưu kế của Lê Hoàn mà lơ là không phòng bị. Do đó khi bị quân Đại Cồ Việt tập kích, Hầu Nhân Bảo hoàn toàn bất ngờ, không kịp chống đỡ và bị giết chết.

Sau cuộc thua thảm hại này. Đại Tống phải xuống nước. Năm 986. Cộng nhận Lê Hoàn cai trị Đại Cồ Việt. Hai năm một lần, Đại Cồ Việt triều cống Đại Tống.

Năm 995. Quân Đại Cồ Việt tiến quân sang đất Tống, như ở trấn Như Hồng thuộc địa phận châu Khâm.

Nhà Tống gửi thư trách, Lê Hoàn trả lời khá "ngạo mạn":

Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?

Phạm Cự Lạng- Tướng của Dân, không nô lệ vua nào

Phạm Cự Lạng hay Phạm Cự Lượng (944- 984) danh tướng đời Đinh Tiên Hoàng. Đất nước lâm nguy. Ông đưa Lê Hoàn lên ngôi đánh Tống. Không chấp tội Lê Hoàn thoán ngôi.

Sử Tàu liệt ông vào danh sách "Giao Châu thất hùng". Bảy anh hùng người Giao Châu gồm: Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng.

Phạm Cự Lạng người làng Trà Hương, Khúc Giang (Nam Sách- Hải Dương). Ông nội Phạm Chiêm, giữ chức Đông giáp tướng quân đời Ngô Quyền. Cha Phạm Mạn, làm tham chính đô đốc đời Ngô Nam Tấn vương (Xương Văn). Từ nhỏ Phạm Cự Lạng thông minh, có chí lớn, văn võ song toàn.

Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn 12 sứ quân. Phạm Cự Lạng cùng anh trai Phạm Hạp đem hơn 2000 người, ngựa từ quê, đến Hoa Lư phò Đinh Bộ Lĩnh. Phạm Cự Lượng được phong Phòng Ngự sứ Tiên phong Tướng quân giữ cửa biển Đại Ác.

Năm 979. Vua Đinh bị giết. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp (anh Phạm Cự Lạng) khởi binh chống Lê Hoàn. Bị Lê Hoàn dẹp.

Lê Hoàn giết Phạm Hạp. Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng làm tướng.

Nước Đại Cồ Việt nguy cấp. Thái hậu Dương Vân Nga phong Phạm Cự Lạng Đại tướng tiên phong, đem quân chống Tống. Trước lúc tiến quân, Phạm Cự Lạng nói:

Tôn Thập Đạo Tướng quân lên ngôi Thiên tử đã, rồi sau sẽ xuất quân.

Lê Hoàn làm vua. Phong Phạm Cự Lạng chức Thái úy. Năm 982. Phạm Cự Lạng cầm quân đánh Chiêm Thành. Trả đũa việc vua Chiêm vô cớ bắt sứ giả Đại Cồ Việt.

Mùa thu 983. Phạm Cự Lạng được vua trao trọng trách đi khai sông mới. Từ Đồng Cổ đến Bà Hòa (từ Đan Nê, Yên Định đến Đồng Hòa, Tĩnh Gia- Thanh Hoá). Trên đắp thành đường lớn. Dưới khai thành sông lớn. Phạm Cự Lạng chỉ huy đào cảng Đa Cái ở Hoan Châu (Hương Cái, Hưng Nguyên- Nghệ An).

Núi sông, đồng ruộng, lòng dân đánh Tống

Lê Hoàn dựa vào hình sông, thế núi hiểm trở của đất nước. Bố phòng các đồn lũy. Đắp xây thành Bình Lỗ. Đóng cọc ngăn sông Bạch Đằng.

Lê Hoàn truyền hịch cầu tài. Xuống chiếu tuyển quân. Thu lương thực khắp mọi miền đất nước. Ông phát huy sức mạnh đoàn kết, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, của quân dân Đại Cồ Việt. Những trận đánh lớn. Ngoài quân chủ lực triều đình. Có sự chiến đấu hy sinh, của các đội dân binh địa phương. Dân binh các làng xã hợp lực. Thường xuyên tập kích, quấy rối những lúc quân Tống đang dẫm chân tại chỗ. Làm cho quân Tống bị tiêu hao lực lượng. Tinh thần hoang mang. Chúng run sợ. Bị giết bất thình lình.

Sông Nước bi hùng, không lặp lại

Hà Nội 6- 2015. Giông bão tứ bề. Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh vang tiếng dân Việt hát ca:

“Những dòng sông, Lê Hoàn đuổi giặc/ Cuộn sóng bi hùng, giấc mộng vua/ Những tưởng thoán ngôi thành chúa tể/ Quyền/ Tiền, gái gú rất hả hê/ Giường ngự chông gai nổi tứ bề/ Giặc trong ngoài, chẳng để ngai yên/ Xông pha giữ, lẫy lừng tử sinh/ Anh hùng ngang dọc núi sông xanh/ Máu xương dân lành hòa cát bụi/ Tàu đánh, hỗn loạn bởi vì đâu?/ Quyền/ Tiền giành giật, nát bể dâu/ Thoán ngôi, sơn hà lâm nạn, trôi/ Dân Việt yêu nhà, là yêu nước/ Bỏ qua, tội Lê Hoàn thoán ngôi/ Dẹp oán thù gia đình, dòng họ/ Đổ xương máu, cùng vua đánh Tống/ Sông nước bi hùng khúc bi ca/

Giành quyền tự chủ cho dân Việt/ Gắn liền xây nước mạnh vững bền/ Rường cột lung lay, giặc lượn luồn/ Giặc sang xâm lược, vùng dậy đánh/ Cũng chẳng bằng, đắp lũy xây thành/ Diệt xâm lăng, từ trong mầm trứng/ Bằng sức mạnh Quốc gia tự cường/ Lịch sử Việt, bài học máu xương/

Ca ngợi anh hùng, để tìm đường/ Xây thể chế Dân chủ- Nhân quyền/ Nước mạnh giàu, giặc không dám đánh/ Hay gì, đống mộ dân Tàu- Việt/ Ngàn năm đổ lấp núi sông, đồng/ Hết đời này, đời khác, thâm u/ Béo bọn buôn Quyền/ Tiền vũ khí/ Không lặp lại bi hài, bi ca/ Học Nhật Bản, tự vươn giàu mạnh/ Tần Thủy Hoàng hồn lạnh chào thua/ Khổng Tử ca dân Việt lành hiền/ Thế kỷ XXI, Văn minh toàn cầu/ Nhân loại lớn, chỉ mặt, dắt tay/ Sông Nước bi hùng không lặp lại”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 03.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004