Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Quỹ Văn hóa

PHAN CHÂU TRINH &

Tam nguyên VŨ PHẠM HÀM








Phan Châu Trinh (Phan Chu Trinh 1872–1926)

Là nhà thơ, nhà văn, và là chí sĩ thời cận đại trong lịch sử Việt Nam, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ, Hy Mã, tự là Tử Cán.

Sự nghiệp

Khoa Canh Tý (1900), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này, người anh cả mất nên ông về để tang, ở nhà dạy học đến năm Quý Mão (1903) thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

Vào Nam, ra Bắc, sang Nhật

Năm 1887 ông bí mật sang Nhật, gặp cụ Phan Bội Châu trao đổi ý kiến về việc cứu nước khỏi thực dân Pháp.Ông là người có học vấn, lại tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng canh tân và đọc được các tân thư[3], năm 1905, ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904) làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng.

Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh, ba ông lẩn vào các khóa sinh. Vào trường thi, Phan Châu Trinh làm một bài thơ, còn hai bạn thì làm chung một bài phú. Cả ba đều ký tên giả là Đào Mộng Giác. Nội dung bài không theo đầu đề, mà chỉ kêu gọi sĩ tử đang đắm đuối trong khoa trường và danh lợi, hãy tỉnh dậy lo giải phóng giống nòi khỏi cảnh lao lung. Các tỉnh quan Nam triều hoảng sợ, đem bài trình cho viên Công sứ Pháp, đồng thời ra lệnh truy tìm tác giả, nhưng ba ông đã rời khỏi Bình Định, tiếp tục đi vào các tỉnh phía Nam Trung Kỳ. Trên đường đi, ba ông lần lượt kết giao với Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi… Sau cuộc Nam du, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ Đề Thám quan sát tình hình, nhưng thấy khó có thể tồn tại lâu dài.

Năm 1906, ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này.

Phát động phong trào

Trong số các sỹ phu đương thời và cả sau này, Phan Châu Trinh là người thấy rõ nhất những nhược điểm của xã hội và con người Việt Nam. Ông chủ trương phải thay đổi từ gốc rễ bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt, phát triển kinh tế - văn hóa, học những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây, từ bỏ phong tục tập quán lạc hậu... Ông cho rằng Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mưu cầu độc lập chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập. Chỉ như vậy mới bảo đảm Việt Nam sẽ có một nền độc lập chân chính, lâu bền về chính trị lẫn kinh tế trong quan hệ với ngoại bang cũng như nhân dân sẽ được hưởng độc lập và tự do cá nhân trong quan hệ với nhà nước.

Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước. Việc làm đầu tiên là gửi một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền Paul Bert vạch trần chế độ quân chủ chuyên chế thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Phương thức hoạt động của phong trào là bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, giáo dục ý thức công dân - tinh thần tự do, xây dựng cá nhân độc lập - tự chủ - có trách nhiệm với bản thân và xã hội, thay đổi tận gốc rễ nền văn hóa - tâm lý - tính cách - tư duy - tập quán của người Việt, phổ biến các giá trị của nền văn minh phương Tây như pháp quyền - dân quyền - nhân quyền - dân chủ - tự do - bình đẳng - bác ái, cải cách trên mọi lãnh vực. Phong trào thực hiện mục tiêu cải tạo con người và xã hội Việt Nam bằng cách khuyến khích cải cách giáo dục (bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ), mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, thay đổi tập quán (cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay)....

Tháng 7 năm 1907, Phan Châu Trinh nhận lời mời ra Hà Nội tham gia diễn giảng mỗi tháng 2 kỳ ở Đông Kinh nghĩa thục.

Bị giam lần thứ nhất: Tháng 3 năm 1908, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ nổ ra, và bị triều Nguyễn và chính phủ bảo hộ Pháp đàn áp dữ dội. Phan Châu Trinh cùng nhiều thành viên trong phong trào Duy Tân bị nhà cầm quyền buộc tội là đã khởi xướng nên đều bị bắt ở Hà Nội, giải về Huế. Nhưng nhờ sự can thiệp của những người Pháp có thiện chí và những đại diện của Hội Nhân quyền tại Hà Nội, nên năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai là Phan Châu Dật.

Sang Pháp, bị giam lần thứ hai: Mấy tháng sau, chính quyền khép tội hai ông là gián điệp của Đức để bắt giam Phan Văn Trường giam ở lao Cherchemidi và Phan Châu Trinh bị giam ở nhà tù Santé Paris, kể từ tháng 9 năm 1914. Cũng trong năm này, vợ ông là bà Lê Thị Tỵ qua đời ở quê nhà ngày 12 tháng 5 năm 1914.

Năm 1925, khi thấy sức khỏe ông đã suy yếu, nhà cầm quyền Pháp mới cho phép ông về nước. Khoảng thời gian này, ông viết cuốn Đông Dương chính trị luận.

Về nước rồi qua đời: Ngày 29 tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp. Tuy bị bệnh nhưng Phan Châu Trinh cố gắng diễn thuyết thêm hai đề tài là Ðạo đức và luân lý Đông Tây, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa. Hai bài này đã có tác động không nhỏ đến thế hệ trẻ tại Sài Gòn, trong đó có Tạ Thu Thâu.

Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh, thì hay tin ông Ninh vừa bị mật thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926. Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn. Hưởng dương 54 tuổi.

Phản ứng

Khi Phan Châu Trinh qua đời, có rất nhiều cá nhân và tổ chức gửi câu đối và thơ văn đến đám tang của ông. Trong số đó có bài điếu văn của Huỳnh Thúc Kháng, người bạn thân thiết của Phan Châu Trinh, phản ánh rõ nét cuộc đời và quan điểm chính trị của ông.

Đền Kiếp Bạc với đôi câu đối của VPH Phan Khôi Hội thảo khoa học về Phan Khôi (1887–1959)

Ngày 6/10/2014, nhân kỷ niệm 127 ngày sinh cụ Phan Khôi, UBND tỉnh Quảng Nam, Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Nam và Hội Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo khoa học “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc”.

Phan Khôi hiệu Chương Dân, sinh ngày 6/10/1887 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mất năm 1959 tại Hà Nội. Ông là con của Phó bảng Phan Trân, tri phủ Diên Khánh và bà Hoàng Thị Lệ, con gái Tổng đốc Hoàng Diệu. Xuất thân từ một dòng tộc và quê hương có truyền thống yêu nước, khoa bảng và hiếu học, ông học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi (1906), nhưng sau đó, ông bỏ lối học khoa cử, mà trau dồi chữ Quốc ngữ và tự học tiếng Pháp, rồi ông gặp Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng yêu nước, cách mạng của hai nhà chí sĩ.

Đặc biệt năm nay GS. Trịnh Xuân Thuận (Mỹ) được trao Giải Nghiên cứu (về Thiên văn).

Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh

Giải thưởng Phan Châu Trinh, tên đầy đủ là Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh là một giải thưởng được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh trao hằng năm cho các cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực Giáo dục, Nghiên cứu văn hoá, Việt nam học và Dịch thuật.

Lịch sử

Tên giải thưởng mang tên của Phan Châu Trinh - nhà cách mạng, nhà cải cách và là nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Giải thưởng được sáng lập bởi tổ chức Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam và đồng thời cũng là cháu ngoại của Phan Châu Trinh làm chủ tịch và GS Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ làm phó chủ tịch.

Giải thưởng được trao lần đầu tiên vào năm 2007, từ năm 2010 trở đi được trao vào ngày 24 tháng 3 hằng năm, đúng vào ngày giỗ của Phan Châu Trinh tại TP.Hồ Chí Minh. Từ năm 2011 trở đi giải "Giáo dục" được đổi tên thành "Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục"

CHIA SẺ CỦA BÀ NGUYỄN THỊ BÌNH (Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh -Nguyên PCT nước CHXNCN Việt Nam)

“…"Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh" là khẩu hiệu hành động được nhà văn hóa, nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh nêu lên từ đầu thế kỷ XX. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của đất nước ngày nay, khẩu hiệu ấy vẫn tiếp tục mang tính thời sự nóng hổi. Hơn bao giờ hết, tương lai nước Việt phụ thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hóa phát triển với những chủ nhân tự do, sáng tạo và có trí tuệ ngang tầm thế giới. Để góp phần thực hiện nhiệm vụ ấy, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh được một nhóm các trí thức tâm huyết với văn hóa đất nước lập nên… mong muốn đóng góp vào việc nâng dân trí, góp phần hiện đại hoá đất nước, đưa dân tộc Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy văn minh và tiến bộ của nhân loại…”

THÔNG TIN SEMINAR

VŨ PHẠM HÀM (1864 – 1906) – TAM KHÔI CUỐI CÙNG CỦA NỀN NHO HỌC VIỆT NAM 

-Ngày 6/8/2010 (hồi 14h), Nhà nghiên cứu Chương Thâu trình bày nghiên cứu của ông với chủ đề “Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906) Tam khôi cuối cùng của nền Nho học Việt Nam” tại 53 Nguyễn Du. Seminar do Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức trong khuôn khổ chương trình tọa đàm “Góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa VIII về xây dựng đội ngũ trí thức” của NXB và Quỹ Văn hóa.

Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906) Tam khôi cuối cùng của nền Nho học Việt Nam

Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906), quê làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh (tức Thám hoa) năm 29 tuổi (năm Thành Thái 4 – 1882. Khoa thi này không có Trạng nguyên và Bảng nhãn), là vị Tam khôi cuối cùng của nền Nho học Việt Nam. Ông làm Giáo thụ rồi thăng Đốc học Hà Nội sung Đồng văn quán (Đại Nam Đồng văn nhật báo – tờ báo đầu tiên của Bắc Kỳ), lên đến Án sát các tỉnh Hưng Hóa, Hải Dương, sau đó cáo quan về trí sĩ ở quê và dạy học cho đến lúc mất.

Tam nguyên Thám hoa VŨ PHẠM HÀM

Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906) là Nhất giáp Tam nguyên trong ba kỳ thi triều nhà Nguyễn (lúc ông 29 tuổi). Trong lịch sử Việt Nam chỉ có vài Tam nguyên là Đệ nhất giáp, gồm có Phạm Đôn Lễ, Vũ Dương, Lê Quý Đôn (triều Lê) và ông.

Vũ Phạm Hàm sinh năm Giáp Tý (1864), quê ở làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) tự Mộng Hải, Mộng Hồ, hiệu Thư Trì.

Năm 21 tuổi, ông đỗ đầu kì thi Hương (Giải nguyên) khoa thi Giáp Thân đời vua Kiến Phúc (1884). Đến khoa thi Hội năm Nhâm Thìn, Thành Thái thứ tư (1892) ông đỗ thủ khoa (Hội nguyên). Do vậy tờ Đồng văn nhật báo đã đăng: Vũ quân kỳ khôi tinh giáng thế, nghĩa là ông Vũ phải chăng là sao khôi giáng thế. Dự thi Đình cùng năm đó, ông lại đỗ thủ khoa (Đình nguyên), giành học vị Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh (tức Thám hoa) nên thường được gọi là Tam nguyên Thám hoa hay Thám Hàm. Khoa này dự vào hàng Tam khôi (Đệ nhất giáp) không có Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa (nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên). Khoa thi này lấy đỗ 9 tiến sĩ, 7 phó bảng, trong đó có Nguyễn Thượng Hiền đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) và Chu Mạnh Trinh đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.

Vũ Phạm Hàm đỗ Đệ nhất giáp Tam nguyên lúc 29 tuổi. Triều nhà Nguyễn có ba Tam nguyên: Vị Xuyên Trần Bích San, Yên Đổ Nguyễn Khuyến và ông. Nhưng Vị Xuyên và Yên Đổ tiên sinh đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp). Toàn thể lịch sử Việt Nam chỉ có Vũ Phạm Hàm và Lê Quý Đôn (triều Hậu Lê) là đỗ Đệ nhất giáp Tam nguyên trong ba kỳ thi đó. Ông cũng là vị Tam khôi cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Ông làm Giáo thụ rồi thăng Đốc học Hà Nội sung Đồng văn quán (báo Đồng Văn), lên đến Án sát các tỉnh Hưng Hóa, Hải Dương, sau đó cáo quan về trí sĩ ở quê và dạy học cho đến lúc mất.

Khi ông qua đời (1906), khu mộ ông được đặt tại làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Tại phường Trung Hòa quận Cầu Giấy, Hà Nội có phố mang tên ông.

Thơ văn

Tác phẩm của ông chủ yếu được viết bằng chữ Hán, song cũng có nhiều tập văn thơ phú viết bằng chữ Nôm, duy nhất là bài hát nói Hương Sơn Phong cảnh (dài 78 câu) - đã được thi sĩ Xuân Diệu ca ngợi VPH là người có những câu thơ hay nhất về cảnh HƯƠNG SƠN. Trong thư viện Khoa học Trung ương còn lưu trữ một số sách của ông.

Trong thời gian làm báo Đồng Văn (Đồng Văn Quán), bài phú Lê triều tiến sỹ đề danh bi của ông được các báo Trung Hoa thời đó ngợi khen là văn chương lỗi lạc và uyên bác

Ghi danh

Tại Hà Nội, tên của ông đã từng được đặt cho một con phố trong giai đoạn 1945-1964 gần Ngũ Xã, nay là phố Lạc Chính, Hà Nội. Tại Sài Gòn, trước năm 1975, tên của ông cũng được đặt cho một con đường thuộc quận 6, nay được đổi là đường Bình Đức, Tp.HCM.

Ngày 14/7/2010, HĐND Hà Nội thông qua đổi tên đường Trung Yên 1 (thuộc khu đô thị Trung Yên ) thành đường Vũ Phạm Hàm, quận Cầu Giấy.

Bia Tiến sỹ khắc tên ông được đặt tại Văn Thánh, Huế.

LỜI KẾT

ĐÔI DÒNG VỀ “NGÔI ĐỀN TINH HOA VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI”

Dự án “Ngôi Đền Tinh Hoa Văn Hóa Việt Nam Thời Hiện Đại "nằm trong sứ mệnh của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, bao gồm: Du Nhập, Phục Hưng, Khởi Phát, Gìn giữ & Lan Tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa nhằm góp phần canh tân văn hóa Việt Nam trong tk 21.

“Ngôi Đền Tinh Hoa Văn Hóa Việt Nam Thời Hiện Đại  "mang trong mình hai mục đích: 

1/ để tri ân và tôn vinh các danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thời hiện đại. 2/ để góp phần lưu giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa của các danh nhân văn hóa này thông qua các tư liệu/tài liệu mà họ để lại và các tư liệu/tài liệu viết/nghiên cứu về họ.

“Ngôi Đền” này được truyền cảm hứng từ Điện Panthéon (Pháp), và chỉ dành cho các danh nhân văn hóa tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Cũng trong “Ngôi Đền” online này, mỗi danh nhân văn hóa sẽ có một cái “am văn hóa” (chuyên mục) của mình, nơi cất giữ nhưng phần “hồn” của các danh nhân thông qua việc một tập hợp sâu rộng những tư liệu về cuộc đời của danh nhân, các tác phẩm và thành tựu tiêu biểu của danh nhân, những bài viết và nghiên cứu đặc sắc về danh nhân cũng như một số đề xuất nghiên cứu thêm về từng vị danh nhân.

VŨ PHẠM HÀM nguyên họ PHẠM -VŨ làng ĐÔN THƯ

Họ Phạm Vũ Đôn Thư, Kim thư, Thanh Oai , Tp. Hà Nội là một trong những dòng họ lớn, có Phả hệ mạch lạc liên tục từ trên 600 năm nay, với trên 20 thế hệ. Các thế hệ ý thức được sự hưng thịnh của dòng họ gắn với ân đức cội nguồn, đã dần khôi phục lại Tộc danh họ PHẠM và để ghi nhớ công ơn nuôi dạy của họ VŨ nên đã ra Quy ước: “Hễ là con Trai đều phải mang Tên đệm là VŨ kèm với Tên tự” . Tới nay nhân khẩu đã sinh sôi khá đông, Chi ngành phát triển khá nhiều, mà mối quan hệ giữa các thành viên trong họ vẫn được phân định rõ ràng. Tộc phả của dòng họ được tục biên liên tục với khoảng cách khoảng trên dưới 25 năm. Tộc phả 2011 ghi chép họ PHẠM-VŨ hiện có 64 Phân Chi – “Tam nguyên Vũ Phạm Hàm thuộc Hệ 9, Biệt chi Vũ-Phạm”. Ông không chỉ nổi tiếng là nhà giáo thanh bạch, một ông quan thanh liêm gần dân mà còn được hâm mộ về tài văn chương. Ông làm rạng danh dòng họ PHẠM Việt Nam.

-Tam nguyên Vũ Phạm Hàm có đôi câu đối hào hùng khí phách đề trước cửa Đền Kiếp Bạc (Hải Dương) thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Lễ hội vào ngày giỗ 20/8 ÂL) :

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí (Vạn Kiếp núi cao hơi kiếm tỏa)
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh (Lục Đầu nước chảy tiếng thu vang)

-Hãy cùng hát vang Bài hát: Bạch Đằng Giang (Lưu Hữu Phước) để tưởng nhớ hai danh tướng Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn đã đại phá quân Tàu trên sông Bạch Đằng lịch sử, nhằm để nhắc nhở người Tàu ngày nay đang ngấp nga ngấp nghé ở Biển Đông của chúng ta:

Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng
Giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung
Trên dòng sông muôn bóng gợi trong trí ta
Biết mấy thành tích biết mấy gắng công thiết tha
Kìa quân Ngô Tiên Chúa chém giết quân Tàu man
Kìa quân Trần Quốc Tuấn đánh thắng quân Thoát Hoan
Nay đã bao lâu còn đâu nữa rồi
Thời gian qua đã bôi mờ trong đêm tối
Người nay có hay đã vì chúng ta
Người hùng anh xưa giữ nước non nhà
Dòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng
Từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng
Dù có sấm sét bão bùng mưa nắng
Đằng Giang vẫn sáng để cho nòi giống soi chung


(Tham khảo: Sách báo – Internet) Tam nguyên Vũ Phạm Hàm & Khu mộ Vũ Phạm Hàm ở Đôn Thư



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 02.4.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004