Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







Tiết 3 : Những vấn đề căn bản.


Một vài câu hỏi tiên thiên đặt ra cho quyển sách nầy:


I. a/ Tại sao chúng tôi không dùng danh từ Miền Nam, Nam Việt... lại dùng danh từ Nam Bộ?

b/ Tại sao giới hạn văn chương Nam Bộ vào những năm 1945- 1950?


- Dùng danh từ Nam Bộ chúng tôi muốn gắn liền tên gọi với thời đại. Tiếng Nam Bộ được sử dụng chánh thức trong dụ số 108 của Quốc Trưởng Bảo Đại sung chức khâm sai Nam Bộ cho Nguyễn Văn Sâm vào tháng 8-1945 (1). Danh từ Nam Bộ ngoài việc chỉ định thời gian và không gian còn có tác dụng gắn liền giai đoạn văn học chúng ta đang khảo sát với sự trỗi dậy của Miền Nam trong cuộc kháng Pháp vừa qua.


- Mốc giới hạn nào của một thế hệ văn học cũng có tính chất chủ quan và tương đối, tuy nhiên khi chấp nhận những con số 1945 và 1950, chúng tôi đã dựa vào những yếu tố văn nghệ và chánh trị đặc biệt của những năm 1945 và 1950.

* 1945: Về chánh trị: Người Pháp mất chủ quyền ở Việt Nam, chế độ phong kiến bị tuyên bố cáo chung, nước nhà độc lập và người Pháp trở lại Việt Nam.

Về văn nghệ: các sáng tác phẩm có tánh cách chống ngoại thuộc bắt đầu xuất hiện:

- 83 năm, Việt-Pháp mấy lần ký hiệp ước của Nam Đình (1946).

- Giữa hai cuộc cách mạng của Thiếu Sơn (1946).

- Cuộc cách mạng Việt Nam thành công chăng và thành công cách nào? của Tam Ích (1946).

- Vấn đề nông dân Việt Nam của Thiên Giang (1947).


* 1950: Về chánh trị:Nước Việt Nam thực tế có hai chánh phủ khác nhau, lý tưởng kháng chiến chống Pháp mất đi phần nào sự kiện người Pháp trao trả chánh quyền lại cho chánh phủ Sàigòn.

Về văn nghệ: những tác giả lãnh đạo nền văn chương tranh đấu chuyển sang đề tài có tính cách tâm lý, tình cảm:

- Vũ Anh Khanh: trong tập báo Xuân Việt Nam (đầu 1951) viết bài Mắt xanh sớm vẫn lầm than bụi đời ( ký bút hiệu Vương Ấu Khương).

- Thẩm Thệ Hà cũng trong tập nầy viết bài Tuổi xanh.

Những cây bút mới xuất hiện trên văn đàn lúc nầy gần như không biết gì đến đề tài tranh đấu, giải thực:

- Bình Nguyên Lộc với tác phẩm Nhốt gió (1950).

- Lê Hương với tập truyện Quả đấm thôi sơn (1951).


II. Tại sao đề tài chỉ giới hạn trong văn chương Nam Bộ trong khi giai đoạn nầy tính chất đấu tranh vẫn có trong tác phẩm Trung và Bắc?

Đề tài được thu hẹp không ngoài hai yếu tố sau:

a/ Giới hạn để hy vọng đến một sự tường tận có thể được.

b/ Sự nổi bật của văn chương Nam Bộ trong cộng đồng văn hoá Việt Nam lúc đó.


Ở Nam Bộ vì quân Pháp tái chiếm đầu tiên, sự thất vọng gieo vào lòng người trước, vì những người phụ trách kiểm duyệt lúc này có nhiều lý do để lơ là nhiệm vụ 1 vì những nhà văn nổi tiếng Miền Bắc ở thế hệ trước (1932-1945) một số ra hoạt đồng chánh trị (Nhất Linh, Xuân Diệu, Huy Cận), một số mất tích (Khái Hưng), một số đi khu, sáng tác phẩm phổ biến rất hạn chế (Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Tuân), một số người đem văn tài vun xới văn nghệ miền Nam (Thiết Can, Vũ Xuân Tự, Trúc Khanh) ...nên bỗng nhiên không khí văn chương ở đây trở nên phồn thịnh hơn cả miền Bắc là nơi được coi như trung tâm văn học của Việt Nam.

Chúng tôi gọi giai đoạn phồn thịnh đó là văn chương tranh đấu của Nam Bộ. Xét quá trình văn nghệ Miền Nam, ta phải thành thật nhận rằng vùng này là đất mới, nên sự đóng góp vào gia tài chung của dân tộc không được phong phú như ở Bắc và Trung. Nhưng chính tình trạng đặc biệt của giai đoạn nầy, ta mới có được phong trào văn chương Nam Bộ.

Có người nói: Trong lúc Miền Bắc người ta đem in lại những cuốn thơ thời trước, ở Trung xuất bản những loại đã quá mùa thì ở Nam lần lượt cho ra đời mười tập thơ đều là những tiếng nói đặc biệt của thời thế2.

Lời nhận xét có phần nào khắc khe và phiến diện nhưng ta phải công nhận rằng những năm 1945-1950 ở Miền Nam nền văn chương tranh đấu như luồng sinh khí đã bộc phát một cách mãnh liệt có lẽ vì những yếu tố đã nói ở trên. Nhờ đó, ta tìm thấy ở đây cái phong vị văn chương đất Bắc thời tiền chiến tranh với nguyên tắc sáng tác tập đoàn và những cuộc tranh luận văn chương tao nhã3.

Một nhật báo xuất bản ở Saigon đã nhận xét rất đúng: Văn chương Nam Bộ phát triển mạnh sau năm 1945. Nhìn ra miền Bắc sau khi khói lửa bùng nổ ở Hà Nội (19-12-1946) các ngành hoạt động văn hóa hoàn toàn đình trệ... chúng ta không còn thu nhặt được những tác phẩm văn chương nào. Ở Kinh đô Huế cũng thế. Tại Miền Nam, trái lại, phong trào văn học bành trướng việc sáng tác và xuất bản mở rộng một kỷ nguyên4.

Số lượng tác phẩm phong phú mà chúng tôi vừa kể của văn chương Nam Bộ xác nhận sự nhận xét đó.



CHƯƠNG II



Ý HƯỚNG CỦA NỀN VĂN CHƯƠNG NAM BỘ:

GÓP PHẦN VÀO CÔNG CUỘC

KHÁNG PHÁP 1945 - 1950


Năm 1949, trong một bài luận thuyết có tính cách xác định hướng đi cho văn chương Nam Bộ, Thiên Giang, một nhà lý luận văn học đã hô hào: Tiếp theo cuộc chiến tranh đế quốc là một cuộc tranh đấu anh dũng của toàn dân tộc. Trong cuộc tranh đấu ấy, tất cả các lực lượng đều được huy động. Văn chương cũng thành một khí cụ tranh đấu... 5(1)

Vậy ngay khi chiến tranh Pháp Việt mở màn, nhà văn đã để ý đến tác dụng của văn chương. Họ đã cảm thấy võ lực đơn phương không đủ sức chống lại kẻ thù, cần phải có văn chương. Võ lực đánh thẳng vào các lực lượng quân sự của Pháp, nhưng không thể giải thích cho dân chúng hiểu tại sao người Việt Nam cần phải chống Pháp, võ lực có thể tạo nên sự hăng say nhưng không thể tạo nên sự căm thù và tinh thần đoàn kết. Tác phẩm văn chương có thể bổ túc các khuyết điểm đó bằng những mô tả gợi cảm, khích động, kêu gọi...

Thật vậy, người ta có thể bỏ qua sự đau khổ, tủi nhục của mình nhưng người ta không thể ngó lơ khi sự đau khổ, tủi nhục đó trở thành trạng huống chung cho cả dân tộc, trong một thời gian dài. Nhất là khi sự kiện nầy được trình bày một cách công khai, được đặt thành vấn đề...

Từ nhận định căn bản đó, nhà văn Nam Bộ mô tả thật tỉ mỉ, về cả phương diện vật chất lẫn tinh thần đời sống của những người dân sống dưới chế độ thực dân, từ cảnh trạng tự do đến cuộc đời tù ngục. Mỗi tác phẩm phơi bày một vài khía cạnh, nhìn riêng rẽ, ta có cảm tưởng chúng rời rạc, không hệ thống, nhưng nhìn chung cả thế hệ văn học, người đọc như thấy được trước mắt cả khung cảnh xã hội, một khung cảnh trong đó người dân phải kéo lê quãng đời không có ngày mai, với những áp bức, đớn đau hầu như vô tận... Với những tác phẩm như vậy, độc giả sẽ thấy lòng mình bừng lên niềm căm phẫn và muốn làm cái gì để cứu giúp nước nhà.

Nhà văn chỉ cần bấy nhiêu đó thôi.

Nhưng ta tự hỏi: Có thật chăng, nhà văn Nam Bộ khi sáng tác đã sáng tác với ý hướng góp phần vào công cuộc kháng Pháp của thời đại?

Câu hỏi nầy có tính cách tiên quyết vì nếu tác phẩm không được viết với mục đích cổ võ cho tình tự quốc gia thì những gì suy diễn của chúng tôi sau này chỉ có tính chất vẽ rắn thêm chưn mà thôi.

Chúng tôi có thể quả quyết ngay rằng các nhà văn Nam Bộ đều ý thức sứ mạng của mình khi sáng tác.

Thật vậy, tuyên ngôn của nhóm Chân Trời Mới có đoạn thật quan trọng như sau: Trong lúc thế giới và trong nước, người ta tận lực xây dựng một nền văn hoá mới, phù hợp với sự tiến triển của xã hội, chúng tôi những người cầm viết, tưởng cũng có một bổn phận góp một phần vào sự xây dựng ấy6 (1)

Hoài bão nầy của nhóm đồng thời là con đường chung của những nhà văn Nam Bộ. Trên đường đã vạch, nhà văn vì bản chất tự do của mình có thể có những quan niệm khác nhau trong việc sáng tác, nhưng cũng đều phục vụ một mục đích: xây dựng lại văn hoá cho phù hợp với tình trạng xã hội, một xã hội đang chuyển mình.

Nói cách khác, nhà văn thấy mình không thể sáng tác theo những cách thể cũ, những đường lối văn nghệ xa rời thực tế như trước, họ phải đổi thay mục tiêu sáng tác để theo kịp trào lưu của xã hội.

Nhóm Chân Trời Mới, trong những tác phẩm lý thuyết văn nghệ:

- Văn nghệ và phê bình - Nam Việt - Saigon, 1949.

- Văn chương và xã hội - Nam Việt - Saigon, 1949.

- Nghệ thuật và nhân sinh7 - Nam Việt - Saigon, 1949.

chủ trương: nhà văn phải cổi lớp, những đường lối xưa phải được dẹp bỏ một cách quyết liệt, văn nghệ sĩ phải can đảm từ giả cuộc sống bằng hư ảnh của mình, loại bỏ ngay những quyến rũ từ trước đến nay trong tính cách cá nhân. Bởi vì viết như vậy không ích lợi gì hết, phải nhìn ra ngoài xã hội, hướng về phía quần chúng, thông cảm với những gì quần chúng suy nghĩ, ước ao. Nghệ sĩ bây giờ có một sứ mạng lịch sử. Tại sao vậy? Tam Ích trả lời, bởi vì những năm 1945 - 1950 là những năm quần chúng Việt Nam đứng lên đấu tranh, nghệ sĩ do đó có bổn phận phải hiểu và giải thích cho quần chúng hiểu lý do của sự đấu tranh đó. Nói cách khác, theo Tam Ích: Nghệ thuật của họ từ trong sự đấu tranh mà có, phát nguyên ở đó, cứu cánh ở đó8. Những ai hướng ngòi bút mình đi về néo khác, không để ý đến công cuộc tranh đấu của quần chúng Việt Nam, theo Tam Ích sẽ là những người làm thương tổn cuộc đi tới9 của dân tộc Việt Nam.

Có thể nhóm Chân Trời Mới còn quá lý thuyết, một Tam Ích với một tinh thần trừu tượng, chỉ để ý đến luận lý đã diễn tả không đủ cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề, những nhà văn khác đi thẳng vào mục tiêu hơn, họ sẽ nói một cách rõ ràng, không úp mở: Nghệ sĩ Việt Nam, lấy tư cách nghệ sĩ, có nhiệm vụ phải làm trong công cuộc giải phóng dân tộc10.

Nhiệm vụ của nhà văn trong công cuộc giải thực trở thành chuyện đương nhiên, không cần bàn cãi, điều cần bàn cãi là làm sao cho tác phẩm của mình có tính cách

hướng dẫn quần chúng và Nguyễn Bảo Hoá đã nói một cách rõ ràng: Giúp quần chúng kiến thiết đời sống mới hay làm lợi khi chống xâm lăng11.

Mục tiêu trên không phài chỉ là ý hướng của người viết mà còn là mục đích của người làm văn hoá thời nầy, kể cả nhà xuất bản. Bởi vậy bất kỳ ai để ý một chút cũng phải công nhận rằng trong giai đoạn nầy rất ít tác phẩm đi lạc đường, hầu hết đều hướng về cuộc tranh đấu của dân tộc. Người viết sáng tác theo mục đích. Nhà xuất bản phần nhiều cống hiến cho độc giả những tác phẩm nào có lợi cho người đọc và quốc gia. Có thể nói, người làm văn hoá lúc nầy làm việc vì đã ít nhiều nghĩ đến sự cần thiết phải cải thiện xã hội12. Tất cả đều hướng về mục đích đã vạch và ta có thể tìm thấy ước vọng của người làm văn nghệ lúc đó trong hầu hết tác phẩm nào của giai đoạn, người chú trọng đến khía cạnh nầy, người để ý đến khía cạnh khác, nhưng tất cả đều không ngoài mục tiêu đã vạch.

Vân Lâu trong quyển Những kẻ hy sinh đã chú trọng đến vấn đề giai cấp và sự cần thiết của sự đoàn kết, trong chiều hướng nầy ông viết: Tôi muốn trình bày một tấm gương đoàn kết để đánh đổ những mưu mô chia rẽ tạo nên bởi những thành kiến sai lầm về giai cấp trước sự tranh đấu chung13.

Nhà thơ nữ Ái Lan qua bài Sứ mạng thi nhân muốn thơ mình là phương tiện giúp xã hội tiến bộ vì đả phá gông cùm họ thực:

Thơ phá tan xiềng toả của thực dân

. . . . . . . . . . . .

Thơ là để thi nhân làm phương tiện

Giúp xã hội bước lên đường tân tiến

Cứu nhân quần thoát khỏi lưới trầm luân14.


Phi Vân lại muốn tác phẩm của mình có tác dụng đánh tan ảo mộng của những người còn nhớ tới thời đại vàng son xưa. Tác phẩm của ông chỉ như một cái cớ để ông trình bày vấn đề khác. Trong quyển Dân Quê, ông nói: tôi muốn ghi một giai đoạn qua rồi, cho số người còn chậm tiến, những người đang mong mỏi và chờ đợi một cơ hội thuận tiện để trở về địa vị xưa, thấy rằng thời oanh liệt của họ đã đến ngày tàn15 (5) nghĩa là Phi Vân muốn trình bày cho những người từng một thời tác oai tác quái ở nông thôn biết rằng thời củ họ đã hết rồi, người nông thôn đã thức tỉnh, đã biết quyền lợi của mình rồi. Nói cho hạng chủ điền biết như vậy có ý nghĩa là gì nếu không có nghĩa báo cho họ biết bọn thực dân từng tiếp tay với họ đã mất thế đứng rồi, không thể che chở cho họ được nữa. Thời của tác phẩm ra đời nhằm thời của cách mạng, những phản động lực đối với cách mạng đã đến lúc cáo chung, và Phi Vân quan niệm tác phẩm của mình giữ vai trò một lời cảnh cáo cho những người phản động, đồng thời đánh lên tiếng trống khích lệ đối với những người đang phân vân, chưa tin tưởng ở công cuộc tranh đấu của toàn dân.

Nhưng dầu sao, những lời trên vẫn còn qua xa xôi, chưa cho biết những người cầm viết lúc bấy giờ trông đợi những gì ở văn chương, và họ có tin tưởng ở khả năng của văn chương không? Những cảm nghĩ sau đây của Lê Tràng Kiều bộc lộ rõ ràng một sự thực không chối cãi là các nhà văn lúc đó đã nhìn thấy công dụng của văn chương kháng chiến như một lợi khí tranh đấu với thực dân trong công cuộc giải phóng nước nhà:

Văn hoá nước nhà từ mấy năm nay đã lột hẳn một bộ mặt cũ để khoát bộ mặt mới. Không ai bảo, cũng chẳng ai hô hào, mà người Việt Nam cầm bút viết đã phải ca ngợi sự tranh đấu anh dũng của những người kế tiếp đứng lên. Cả một mối hận lòng ở văn thơ Việt Nam bàng bạc toả lên trời cao (1).

Ca ngợi tranh đấu, nói lên mối hận lòng, văn nhân đã mường tượng trong trí rằng những điều mình diễn tả sẽ tạo ảnh hưởng lên người đọc. Họ không làm văn nghệ thuần tuý, họ muốn gây xúc động lên quần chúng, ít ra một sự xúc động có ích lợi cho quốc gia trong giai đoạn đó. Ích lợi vì tác phẩm sẽ tạo dịp để người đọc suy nghĩ về số phận của mình. Trong chiều hướng đó, dịch giả Ngao Châu khi dịch quyển Đường lên cõi Bắc đã viết: ở đây chúng tôi không có dụng ý trình bày nghệ thuật của Richard Wright mà chỉ hy vọng... đem lại cho các bạn những cảm xúc và suy nghĩ về một vài sự thật trong xã hội loài người...16.

Ở một đoạn khác, ông nhấn mạnh đến tác dụng mà ông hy vọng dịch phẩm sẽ đem đến cho người đọc: Trong khi dân tộc của các quốc gia nhược tiểu đều đứng lên quả quyết tranh đấu để thành đạt nguyện vọng tia lửa giữa mây mù nếu chẳng là một tia sáng rọi đường thì cũng sẽ là một lời nhắc nhở 17.

Tóm lại nhà văn lúc nầy đã ý thức được công dụng của văn chương đối với hoàn cảnh lịch sử lúc đó. Họ đã lợi dụng ngòi bút cho cuộc tranh đấu chung cho dân tộc và sẵn sàng chấp nhận hậu quả hành động của mình. Ông Trúc Chi xác định điều đó: CHỈ CÓ MỘT THIỂU SỐ HẠNG CẦM VIẾT, KHÔNG AI BẢO AI, TỰ NHIÊN ĐỨNG RA LÃNH ĐẠO QUẦN CHÚNG, VỚI MỘT LÒNG TIN TƯỞNG VÔ TẬN Ở SỨ MẠNG LỊCH SỬ CỦA VĂN CHƯƠNG.

Hổi tưởng lại năm, sáu năm về trước, công nhiên mà cổ động trên mặt báo chí cho cuộc giải phóng quốc gia, thì thật là không khác nào tự mở lấy cánh cửa ngục tù để cho người ta lùa mình vào. Nhưng lỡ sanh ra làm người, có một lương tri biết nhục, tất phải tìm cách đối phó với cảnh ngộ khó khăn, dự phần trong việc chung của xứ sở 18.

Đó là ý kiến của các cây bút chuyên nghiệp, ta nhận thấy họ đã ý thức sứ mạng của mình, nhưng lời xác định phần nào còn e dè, xa xôi: họ chưa nói thẳng. Có thể điều nầy do tính chất của người nghệ sĩ, những người hiếu tĩnh, e ngại sự chết chóc, xung đột...


Người dính dáng đến chánh trị nói rõ ràng hơn, Bách Việt nói công khai: Văn hoá, một lợi khí tranh đấu cần thiết cho công cuộc vận động giải phóng dân tộc19 (1).

Những ý kiến đại loại như vậy lúc nầy rất nhiều, ta không cần phải kể tất cả ra đây. Hầu hết đều là những tiêu chuẩn do nhà văn đặt ra và họ trịnh trọng đặt nơi lời nói đầu tác phẩm của mình hay của người khác. Ta có thể kể:

- Thẩm Thệ Hà: - Việt Nam trên đường cách mạng Tân Văn Hoá - Tân Việt Nam - Saigon, 1949.

- Nguồn lửa hận - (đề tựa cho tác phẩm của Liên Chớp ) - Bạch Đằng - Saigon, 1949.

- Vũ Anh Khanh: - Ngũ Tử Tư - Tân Việt Nam - Saigon, 1949.

- Nguyễn Xuân Mỹ: - Lấp con sông máu - tác giả xuất bản -Saigon, 1951.

- Trúc Chi: - Tôi bị đày Bà Rá (đề tựa cho tác phẩm của Việt Tha - nhà in Đặng Văn Công- Saigon, 1949.

- P.V: Trốn Tù ( đề tựa cho tác phẩm của Bùi Nam Tử - Bảo Tồn - Saigon, 1950.

- Sơn Khanh: đề tựa cho tác phẩm của nhóm Sống Chung- Sống Chung - Saigon, 1949.


Tổng quan, ý hướng của những người cầm bút lúc nầy nằm trong việc kháng Pháp bằng cách viết thế nào cho tác phẩm của mình tạo nên những tác dụng có ích lợi cho công cuộc tranh đấu của dân tộc. Và họ đã làm tròn nhiệm vụ của mình từ người viết về chánh trị, chánh kiến đến những người viết văn thật sự như biên khảo, sáng tác, dịch thuật.

Thật vậy, nhìn lại tác phẩm của những người dính dáng xa gần đến chính trị, ta cũng thấy rõ họ viết cho một mục tiêu:


* Trường hợp Bách Việt:

Trong quyển Tây Thi gái nước Việt 20 : Bách Việt- Saigon, 1949., tác giả đề cao sự đoàn kết và nhấn mạnh đến vai trò của quần chúng vô danh, theo ông những người làm lịch sử là những người không tên tuổi...


* Trường hợp Hồ Hữu Tường:

Trong các quyển Chị Tập và Thu Hương - Sống Chung - Saigon, 1949, tác giả vạch vai trò quan trọng của nữ giới trong công cuộc cách mạng.

Đối với những người viết văn thật sự ý hướng của họ ta thấy ngay khi đọc tác phẩm, những dịch thuật cũng vậy, được lựa chọn từ những nguyên tác đề cập đến tình yêu nước và những sự áp bức trong xã hội: Con đường cứu nước, Sở tìm việc, Tia nắng, Đường lên cõi Bắc, Gót sắt ... Các tác phẩm biên khảo đều nhằm trình bày tinh thần cách mạng Việt Nam, truyền bá niềm tin trong dân chúng, cũng như hé cho thấy viễn ảnh huy hoàng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai: Giữa hai cuộc cách mạng, 83 năm, Việt Nam và Pháp mấy lần ký hiệp ước, Nam Bộ Chiến Sử, Cuộc cách mạng Việt Nam thành công chăng và thành công cách nao?, Tương lai kinh tế Việt Nam...


Đặt vấn đề ý hướng của văn chương Nam Bộ, có lẽ chúng tôi đã làm một việc vô ích, bởi vì, qua tác phẩm của thời Nam Bộ kháng chiến, người đọc thấy ngay dụng ý của người viết. Tuy nhiên, đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại một cách cụ thể hơn.

Từ ý hướng đến thực hành, con đường cũng khá xa, do đó người hoài nghi có thể đặt câu hỏi: Những nhà văn Nam Bộ có đạt được ý hướng của mình không?

Chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi trên trong phần II tiếp theo đây.


1 Theo lời tiết lộ của những nhà văn: Tô Nguyệt Đình, Sơn Khanh, Ngao Châu hiện giờ còn sống, trong cơ quan Thông tin lúc đó thường có những người tham nhũng, họ đòi và nhận hối lộ để dễ dãi hơn trong việc cấp giấy phép, việc cắt xén tác phẩm…

Theo Đào Văn Hội- Lịch trình hành chánh Nam phần - tác giả xb- Saigon, 1961, trang 50.

2 Người Thơ - Xuân Dân Việt - 1951.

3 Thẩm Thệ Hà - Xuân Dân Việt - 1951.

4 Nhật báo Thần Chung, số đề ngày 7-10-1949.

5 Thiên Giang - Nghệ thuật và nhân sinh - Nam Việt - Saigon, 1949, trang 101 ( sách ký tên Tam Ích - Thiên Giang - Thê Húc).

6 Tuyên ngôn đăng ở đầu tác phẩm của những tác giả trong nhóm do nhà xuất bản Nam Việt - Saigon - phát hành trong tủ sách Chân Trời Mới .

7 Những tác phẩm khảo luận căn bản nầy đều do 3 cây bút lý thuyết : Tam Ích - Thiên Giang - Thê Húc viết, tuy nhiên người viết nhiều và trình bày rõ ràng nhất là Tam Ích. Thê Húc viết ít và không có gì đáng để ý.

8 Tam Ích - Sách đã dẫn, trang 58.

9 Tam Ích - Sách đã dẫn, trang 13.

10 Trần Văn Mậu - Để xây dựng toà nhà văn học - Tuần báo Việt Báo, số 6 ngày 25-6-1949.

11 Nguyễn Bảo Hoá - Nam Bộ chiến sử - Lửa Sống - Saigon, 1949. Lời tựa.

12 Lời của nhà xuất bản Nam Việt trong quyển Tấn công tài xỉu.

13 Vân Lâu - Những kẻ hy sinh - Lời tựa. Quyển nầy do nhà xuất bản Việt Cường - Nha Trang (1950) in thành hai quyển nhưng sau đó vài tháng, tác giả đóng thành tập với bìa khác, ngoài đề nhà xuất bản Vân Lâu, bên trong vẫn là ấn bản cũ, không có gì thay đổi, kể cả lời tựa.

14 Ái Lan - Sứ mạng Thi Nhân - Tap chí Sông Hương số 11, tháng 4-1940.

15 Phi Vân - Dân Quê - Tân Việt - Saigon, 1949, thay lời tựa, trang IX.

16 Lê Tràng Kiều - Tuyển tập Mùa Gặt Mới, số 1-1951. Lời nói đầu.

17 Ngao Châu (còn có bút hiệu Thanh Ba) Bùi Đức Tịnh - Đường lên cõi Bắc - Mấy lời nói đầu.

18 Trúc Chi - Sứ mạng lịch sử của văn chương Việt Nam . trang 10-11, (Những chữ viết hoa đều của tác giả) - nhà in Đặng Văn Công - Saigon.

19 Bách Việt - Từ Đào Duy Anh đến Hồ Hữu Tường, Thẩm Thệ Hà chung quanh vấn đề cách mạng Tân Văn Hoá - Tuần báo Thế Giới, số 3, ngày 05 tháng 1 năm 1949.

20 Quyển nầy ký tên Hoàng Mai, biệt hiệu của Huỳnh Văn Tiểng và Bách Việt nhưng theo lời Tam Ích và Sơn Khanh nói với tôi (NVS), Bách Việt gần như hoàn toàn viết hết tác phẩm.



... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 02.4.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004