Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (30)



Người Việt Hai Lần Thắng Đại Tống







N hà Tống cai trị nước Tàu 960- 1279. Nhà Tống thống nhất nước Tàu thời Ngũ Đại Thập Quốc. Nhà Tống bị thay thế bởi nhà Nguyên.

Triều Tống chia hai giai đoạn. Bắc Tống và Nam Tống.

Bắc Tống (960- 1127) kinh đô ở thành phố Biện Kinh (nay là Khai Phong) miền Bắc. Triều đình Bắc Tống kiểm soát toàn nước Tàu.

Nam Tống (1127- 1279) là thời gian nhà Tống đã mất quyền kiểm soát phía Bắc cho người Nữ Chân nhà Kim. Triều đình Tống lui về Nam sông Dương Tử. Đất của người Bách Việt cổ. Lập kinh đô Lâm An (nay là Hàng Châu).

Nhà Tống lần đầu tiên dùng thuốc súng

Theo Wikipedia. Người Tàu có bốn phát minh:

1. Kim chỉ nam. Là La bàn xuất hiện thời Chiến Quốc. Thời Tống truyền qua Ả Rập, tới châu Âu.

2. Chế tạo giấy. Theo người Tàu. Hoạn quan Thái Luân dùng vỏ cây, sợi gai, vải rách, làm giấy viết. Trước Thái Luân đã có nghề làm giấy, thế kỷ II TCN. Thái Luân chỉ là người cải tiến kỹ thuật làm giấy ở Tàu.

Các nhà nghiên cứu Văn hóa Việt cổ Việt Nam và nước ngoài, chứng minh người Việt cổ, phát minh nghề làm giấy đầu tiên cho loài người.

3. Tiền giấy phát hành sớm nhất ở Tàu.

4. Thuốc nổ. Phát minh đầu tiên ở Tàu, cách đây trên 1.000 năm. Từ kali nitrát, diêm tiêu, than gỗ. Các nhà luyện đan triều Đường, phát minh thuốc súng. Cuối triều Đường, đầu triều Tống, lần đầu tiên thuốc nổ được dùng trong quân sự. Thời Bắc Tống, có công binh xưởng lớn. Thuốc súng Tàu, sau truyền qua Ấn Độ, Ả Rập, Tây Ban Nha, đến nhiều nước châu Âu.

Hốt Tất Liệt- Người Mông Cổ xưng Hoàng đế Tàu

Sau đó Mông Cổ kiểm soát toàn bộ phía Bắc nước Tàu. Luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra, khi Hốt Tất Liệt nhận được tin Mông Ca (hay Mông Kha), vua Mông Cổ chết. Hốt Tất Liệt về Mông Cổ, chiếm ngôi, là Đại Hãn.

Năm 1271. Hốt Tất Liệt tự xưng hoàng đế Trung Hoa. Sau hai thập kỷ chiến tranh lẻ tẻ. Năm 1279. Quân Hốt Tất Liệt chinh phục nhà Tống. Nước Tàu lại được thống nhất, dưới triều đại Nguyên Mông (1271- 1368).

Quân Nguyên diệt Nhà Tống

Tống Độ Tông từ trần. Hoàng tử Triệu Hiển 4 tuổi kế vị, là Tống Cung Đế. Xuân 1275. Quân Nguyên đánh chiếm các trọng trấn quân sự An Khánh, Trì Châu. Uy hiếp Kiến Khang. Phòng tuyến Trường Giang vỡ. Triều đình Tống kinh sợ. Giả Tự Đạo xuất quân. Quân Tống thua. Giả Tự Đạo bị giáng chức.

Ngày 20/11/ 1275. Thường Châu bị chiếm. Quân Nguyên giết người trong thành. Không lâu sau, Bình Giang bị chiếm. Tháng giêng- 1276. Thành Lâm An xin hàng. Tống Cung Đế thoái vị. Nam Tống mất.

Năm 1278. Lôi Châu thua quân Nguyên. Triểu đình Tống dời sang Nhai Sơn (nay thuộc Giang Môn, Quảng Đông). Trương Hoằng Phạm Tướng quân Nguyên cầm quân truy kích. Quân Tống thua. Lục Tú Phu và hơn tám trăm người, hoàng tộc Tống, nhảy xuống biển tự tử. Hoàng tộc triều Tống bị diệt. Nhà Nguyên cai trị nước Tàu.

Tiền giấy đầu tiên dùng ở nước Tàu

Theo Wikipedia. Những hình thức sơ khai của tiền giấy, có từ thời cổ đại ở nhiều nơi trên thế giới. Tiền giấy chính thức, do nước Tàu phát hành đầu tiên.

Tiền giấy Tàu dùng từ thế kỷ VII nhà Đường. Đường Cao Tông (650–683) phát hành tiền giấy lần đầu tiên. Khi ấy, hệ thống tiền tệ chính, của Tàu, là tiền xu tròn lỗ vuông và tiền vàng, bạc. Thời Bắc Tống. Tiền giấy thịnh hành.

Khoảng năm 1300. Tiền giấy mới được ban hành ở Nhật Bản, Ba Tư, Ấn Độ.

Tống Thái Tổ- Triệu Khuông Dận

Triệu Khuông Dận sáng lập triều Tống. Triệu Khuông Dận, là thống lĩnh cấm quân, triều Hậu Chu. Hậu Chu Thế Tông tín nhiệm Triệu Khuông Dận, thành thân tín của vua.

Năm 959. Hậu Chu Thế Tông chết. Cung Đế kế vị còn nhỏ. Triệu Khuông Dận cướp ngôi. Là Tống Thái Tổ.

Ổn định triều chính. Tống Thái Tổ diệt tàn dư cát cứ Ngũ Đại Thập Quốc. Thống nhất nước Tàu. Tống Thái Tổ theo sách lược tiền Nam, hậu Bắc. Ban đầu chiếm sáu nước phương Nam, kinh tế thịnh, để củng cố quốc lực.

Sau đó, chuyển Bắc phạt Bắc Hán. Tống Thái Tổ dùng kế giả Ngu diệt Quắc. Diệt Kinh Nam và chính quyền cát cứ Hồ Nam. Sau đó diệt ba nước Hậu Thục, Nam Hán, Nam Đường. Tống Thái Tổ mơ khôi phục nước Tàu như thời Đường.

Tháng 8- 976. Tống Thái Tổ một lần nữa Bắc phạt. Ngày 19- 10- 976. Tống Thái Tổ đột nhiên chết. Triệu Quang Nghĩa, em trai Tống Thái Tổ, kế vị, là Tống Thái Tông.

Triều đại nhà Tống với các vua lốc nhốc: Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông … Mình không thèm đụng tới. Chỉ kể tên những vua Tống hai lần xâm lược nước Việt. Hai lần bị đánh bại.

Tống Thái Tông chấm dứt 200 năm nước Tàu cát cứ

Vững ghế vua. Tống Thái Tông tiếp tục sự nghiệp thống nhất. Chính quyền cát cứ Thanh Nguyên quân tại miền nam Phúc Kiến, cùng nước Ngô Việt, lần lượt quy hàng. Tống Thái Tông sai đại tướng Phan Mỹ, đem quân về phía Bắc, công kích đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán. Đánh lui viện binh Liêu. Diệt Bắc Hán. Kết thúc nạn cát cứ gần 200 năm. Tống Thái Tông thống nhất nước Tàu.

Tống Thái Tông xâm lược Đại Cồ Việt

Tháng 8- 980. Hầu Nhân Bảo, quan trấn thủ châu Ung của Đại Tống, dâng thư vua Tống báo Đại Cồ Việt nội loạn. Là thời cơ. Tống xâm lược.

Vua gọi Hữu Tráng, quan cai quản lộ Quảng Nam Tây (Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) về kinh đô, báo tình hình Đại Cồ Việt.

Hữu Tráng tâu:

Ở Giao Châu thì vua cuối họ Đinh là Đinh Toàn còn nhỏ dại, bị giặc hãm hại, nước loạn mãi chưa yên, dân không biết dựa vào ai làm chủ. Ta nên kíp sai quân sang, nói là đến cứu...

Tống Thái Tông phong Hầu Nhân Bảo chức Giao Châu lộ thủy lục kế độ chuyển vận sứ. Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực giữ chức Binh mã đô bộ, lập tức chuẩn bị, chiếm Đại Cồ Việt.

Tống Thái Tông ban chiếu đánh Đại Cồ Việt:

Thanh giáo và oai linh của nước nhà vang khắp cả mọi nơi, gần đây đất Diên-Chỉ, chưa sáp nhập vào địa đồ Trung Quốc, chúng ở một phương, gần nơi Ngũ Lĩnh. Từ cuối đời Đường rối loạn, chia sẻ đất đại, rồi chúng làm ra một nước tiếm ngụy, ở xa thanh giáo thành ra phong tục như đứa mù đứa điếc. Kịp khi Phiên-Ngung đã bình định, mới ban cho Chính-Sóc mà tuân hành, tuy đã phục tùng chịu làm phiên thuộc, nhưng cứ tu luyện binh lính, có ý quật cường. Lễ thờ phụng nước trên, lẽ nào như thế? Vậy ta bất đắc dĩ phải trị tội gian nguỵ để cứu dân, phải cử binh qua đánh để khai hoá xứ mọi rợ; nay cho bọn Tôn Toàn Hưng xuất quân qua đánh.

Mùa thu 980. Quan trấn thủ châu Lạng (Lạng Sơn) báo cho triều đình Việt, quân Tống sắp đánh Đại Cồ Việt. Lê Hoàn lên ngôi. Gấp rút đánh Tống.

Mùa Đông 980. Tống Thái Tông gửi thư tuyên chiến:

"Hiện nay ta đã sửa sang binh xa và bộ tốt, hiệu lệnh chiêng trống rất nghiêm minh; nếu vâng theo giáo hóa thì được tha; nếu chống lại mệnh lệnh thì sẽ bị trị tội".

Lê Hoàn vừa chuẩn bị đánh Tống. Vừa sai sứ mang thư sang Đại Tống tâu đã lập Đinh Toàn nối ngôi Đinh Tiên Hoàng.

Tống Thái Tông sai Lư Đa Tốn viết thư cho Lê Hoàn:

Nay chín châu bốn biển đã yên, chỉ còn Giao Châu của ngươi ở xa cuối trời... Ngươi định về theo ta, hay muốn chuộc lấy tội. Ta đang chuẩn bị xe ngựa, binh lính, cờ lệnh, chiêng trống... nếu ngươi quy hàng ta tha, nếu trái mệnh thì ta đánh. Theo hay không, lành hay dữ, ngươi tự nghĩ lấy...

Năm 981. Lê Hoàn quả cảm. Cầm quân đánh Tống. Từ 1- 981 đến 4- 981. Quân và dân Đại Cồ Việt đánh bại quân Đại Tống.

Tống Thần Tông xâm lược nước Việt 1075- 1077

Tống Thần Tông (25/ 5/1048- 1/4/1085) tên thật là Triệu Húc. Hoàng đế thứ 6 nhà Tống. Cũng là hoàng đế thứ 6 nhà Bắc Tống. Năm 1067. Tống Thần Tông thay vua cha Tống Anh Tông mất. Trị vì 18 năm, tới khi mất năm 1085.

Thời Tống Thần Tông. Nhà Tống bị các vương quốc Tây Hạ và Liêu đánh. Nhà Tống phải cống nạp nhiều vàng bạc, lụa cho Liêu. Nhà Tống bị vương quốc Tây Hạ uy hiếp. Phải cống nạp Tây Hạ, như đã cống nộp nhà Liêu.

Đất nước suy. Triều đình hèn. Mâu thuẫn xã hội gay gắt. Ba họa lớn: Quan lại vô dụng. Tướng sĩ bất tài. Chi tiêu hoang phí.

Tống Thần Tông muốn xoay chuyển tình thế. Tìm Vương An Thạch, giúp cải cách chính trị.

Vương An Thạch là Giới Phủ, hiệu Bán Sơn, người Lâm Xuyên. Đỗ tiến sĩ. Làm quan ở Giang Đông, Lưỡng Triết và Hoài Nam.

Thời Tống Nhân Tông. Vương An Thạch viết Thượng hoàng đế ngôn sự thư nói triều đình suy thoái.

Năm 1069. Tống Thần Tông bổ nhiệm Vương An Thạch là tham tri chính sự, bắt đầu cuộc cải cách.

Nội dung cải cách, chạm lợi ích của hoàng gia, các quan lớn, địa chủ, thương nhân. Nên các biện pháp cải cách, bị họ phản đối quyết liệt.

Tống Thần Tông, hai lần cách chức Vương An Thạch để xoa dịu tình hình. Từ đó, một mình Thần Tông cải cách gọi là Cải cách Thần Tông.

Năm 1085. Thất bại ở vùng biên giới Tây Bắc. Tống Thần Tông sa sút tinh thần nghiêm trọng. Và chết.

Tống Thần Tông ráo riết xâm lược nước Đại Việt

Năm 1075. Nghe lời tể tướng Vương An Thạch khuyên. Tống Thần Tông ráo riết chuẩn bị xâm lược nước Đại Việt, nhằm tăng nhuệ khí. Mở bờ cõi, để thu thuế, nuôi quân đánh Liêu và Tây Hạ.

Tướng Lý Thường Kiệt của Đại Việt biết tin. Dùng chiến thuật tiết phát chế nhân. Đưa binh bất ngờ tiến sang Tàu. Quân Đại Việt chiếm được Khâm Châu, Liêm Châu của nhà Tống. Bao vây cả Ung Châu, nơi danh tướng Tô Giám trấn thủ.

Các thành trì xung quanh đưa quân đến giải vây. Bị quân Lý Thường Kiệt đánh bại ở Côn Luân. Sau 42 ngày vây thành. Ung Châu thất thủ. Tô Giám bị Lý Thường Kiệt ép, phải tự sát chết. Nhân dân nhà Tống, hân hoan đón tiếp quân Lý Thường Kiệt. Đây là giai đoạn một.

Giai đoạn sau. Quân nhà Lý rút về phòng thủ, chống đại quân Tống xâm lược 1076- 1077. Đuổi quân Tống ra khỏi Đại Việt.

108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc chống nhà Tống

Thủy hử hay Thủy hử truyện (của Thi Nại Am) nghĩa đen “bến nước”. Truyện viết theo sách Đại Tống Tuyên Hòa di sự. Kể về một nhóm người chống triều đình, thành 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc.

Từ một thảo dân lông bông. Cao Cầu liên tục gặp may, trở thành sủng thần của vua Tống Huy Tông, được phong Thái uý. Mối liên kết giữa các gian thần Cao Cầu, Lương Trung Thư, Vương Tiễn… và bộ máy quan lại tham lam, xảo quyệt, độc ác bên dưới đã làm hại các trung thần của triều đình (Lâm Xung, Võ Tòng, Dương Chí, Tống Giang, Hoa Vinh…) khiến họ lần lượt bỏ triều chính. Lên rừng. Theo Lương Sơn Bạc.

Có những anh hùng nơi thôn dã. Không chức, quyền. Bất bình với sự áp chế, bóc lột của quan xã. Ra tay cứu người bị nạn. Hoặc tự cứu mình. Nên phạm tội với triều đình. Họ kéo nhau theo Lương Sơn Bạc.

Triều đình Tống nhiều lần phát quân đánh dẹp. Đều bị 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc đánh bại.

Nghề làm giấy ở Việt Nam qua thư tịch Tàu

(Theo Website Họ Đỗ Việt Nam)

Jean- Pierre Drège (GSTS, giám đốc Viện viễn Đông bác cổ Pháp) đã viết: “Đọc bảng phân tích những mẫu giấy xưa nhất phát hiện được, ta không thấy có tơ. Mà giấy đó có thể được làm bằng sợi gai. Thái Luân dùng một vật liệu khác để thay thế cho sợi gai, như vỏ cây, trong đó có vỏ cây dâu.

Người ta cũng biết đến hai đoạn tài liệu lý thú nói đến việc du nhập vào Trung Quốc một số loại giấy đến từ phương Nam.

Giấy Hương Mật Ong

  Giai thoại thứ nhất kể trong sách Nam Phương Thảo Mộc Trạng của Kê Hàm, soạn năm 304. 

“ Mật hương chỉ làm bằng vỏ và lá của thứ cây có mùi mật. Giấy màu nâu. Nó có những vân hình trứng cá. Giấy rất thơm, bền và mềm. Khi thấm mực nó không bị mủn. Năm Thái Khang thứ 5 (đời Tấn, năm 284) sứ bộ La Mã dâng đến 30.000 tờ. Hoàng đế ban cho Đỗ Dự là Bình Nam tướng quân và Đan Dương hầu 10.000 tờ để viết Xuân thu thích lệ và Kinh truyện tập giải dâng lên vua. Nhưng Đỗ dự chết trước khi giấy được gởi đến. Theo chỉ dụ, giấy đó được ban cho gia đình.”

Lễ vật của sứ bộ và nhà buôn La Mã đem đến không phải xuất xứ từ đế quốc La Mã mà đến từ bán đảo Đông Dương (Hậu Hán thư nói rõ, phái bộ đến từ Nhật Nam, tức là Việt Nam khi bị nhà Hán chiếm và chia tách thành Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam).

Tên gọi cây hương mật đó là để chỉ cây Aquilaire Agalloche (tiếng Pháp), mà người ta vẫn thường dùng cả vỏ cây. Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (1518- 1593) gọi cây này là cây Trầm Hương. Nó mọc ở Việt Nam và Ấn Độ .

Nhờ vào một số ghi chép và giai thoại, chúng ta ghi nhận những loại giấy cổ đã đến từ Việt Nam, được truyền sang Tàu.

Những loại giấy cổ của Việt tộc

Các nhà nghiên cứu Việt nhận xét. Qua những dẫn chứng cụ thể của Jean- Pierre Drège. Giấy là sản phẩm, nền Văn minh Nông nghiệp của người Việt cổ. Theo Jean- Pierre Drège thời điểm phát minh giấy, thế kỷ II (TCN).

Quan sát các hình khắc trên thân Trống Đồng của người Việt. Thời điểm Việt tộc phát minh ra giấy, phải lùi xa hơn nhiều, so với nhận xét của Jean- Pierre Drège.

Giấy trong nền văn minh Lạc Việt được dùng để ghi chép. Là những loại giấy được khắc trên thân Trống Đồng Sông Đà và Hoàng Hạ. Đó có thể là các văn tự cổ, cũng có thể là hệ thống Kinh Dịch nguyên thuỷ (Chấm và Gạch).

Giấy Mật Hương, giấy Gân Nghiêng phát triển từ những loại giấy Việt cổ, có trước khi Tổ Tiên Việt phát minh ra Trống Đồng.

Văn minh Việt trong Văn hóa Tàu

Theo tác giả Lê Thanh Hoa. Trung Tâm Nghiên Cứu Vãn Hóa Việt Nam và Thư Viện Việt Nam đã đóng góp thêm một công trình giá trị. Là bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư. Một kỳ công của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt tộc ở hải ngoại.

Quế Dương là đất Việt, bị nhà Hán chiếm và chia cắt. Nhiều lần thay đổi, sát nhập, đồng hóa. Hán hóa. Xóa Văn minh Việt tộc, biến thành văn hóa Tàu.

Nhà Hán chiếm đất Việt bao gồm toàn vùng châu thổ Nam sông Dương Tử (sông Trường Giang). Họ đã chia cắt, thay đổi địa danh, vẽ lại bản đồ... xóa dấu vết Việt tộc.

Tập bản đồ lịch sử ấn hành 1991. Tạp chí National Geographic cung cấp đầy đủ các chi tiết lịch sử Trung Hoa từ thời sơ khai hơn 5.000 về trước. Tài liệu giá trị này ghi rõ địa bàn gốc của dân tộc Tàu là vùng châu thổ sông Hoàng Hà, về phía Bắc.

Trong khi tổ tiên của dân tộc Tàu, còn sống đời du mục trên lưng ngựa, này đây mai đó. Thì Tổ Tiên của người Việt đã định cư ở châu thổ sông Trường Giang. Ở phương Nam (Nam sông Dương Tử).

Ðiều này Khổng Tử đã viết rành mạch trong sách Trung Dung "Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù, kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy.

Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường bạo ở đấy."

Theo Lê Thanh Hoa. Kho tàng lưu giữ các loại sách lớn nhất của người Tàu, cuối cùng. Do nhà Thanh bổ túc, sắp xếp. Có bộ Tứ Khố Toàn Thư nhiều tư liệu, làm sáng tỏ Chủ nhân Bách Việt của các công trình đóng góp quan trọng vào văn minh, văn hóa Tàu. Phần lớn những đóng góp này đến từ gốc tộc Việt. Trong đó có thuật làm giấy của Tiên hiền Bách Việt Thái Luân.

Thái Luân là người Việt, sinh ra trên đất Việt cổ (nay đã bị Tàu chiếm), làm quan triều Hán.

Tứ Khố Toàn Thư ghi Thái Luân và 105 vị Tiên hiền Việt tộc. Dịch giả Trần Lam Giang đã tra cứu, chú thích rành rẽ, dẫn chứng sử sách, truy nguyên chữ cổ, điển tích.

Bởi vậy. Ngày nay. Chúng ta nghiên cứu Nền Văn minh lúa nước sông Hồng và Văn hóa Việt cổ, là nghiên cứu những giá trị trầm tích từ Biên giới Việt cổ Nam sông Dương Tử về đất Việt Nam ngày nay. Trở về Biên giới Việt cổ (nay đã thuộc về nước Trung Quốc) để tìm Văn hóa Việt cổ và Tổ Tiên Việt.

Hai miền Việt- Tàu lạ xa nhau

Thế kỷ XXI. Năm 2015. Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh thêm hiểu hai miền Việt- Tàu là ai? Dân Việt hát ca:

“Việt hồn nhiên Văn minh lúa nước/ Rồng Tiên- Trống Đồng, sông Hồng, Mã/ Tiến hóa thời đồ đá, sắt, đồng/ Nền Văn hóa Hòa Bình, sông núi Việt/ Kinh Dịch luận Luật Đất Trời Người/ Thiên- Địa- Nhân hợp nhất xinh tươi/ Thần Nông Việt, dạy dân Bách Việt/ Thuần hóa cây lúa nước, khoai sọ/ Tìm cây thuốc, chữa bệnh cứu người/ Chữ Việt cổ, ghi lệnh, truyền tin/ Vỏ cây làm áo quần, giấy viết/ Nuôi người Lĩnh Nam, xuôi Đông Nam Á/ Bách Việt ăn cơm, thờ Thần Nông/ Con trâu cày ruộng, đầu cơ nghiệp/ Lưng voi, đàn bà vang cồng chiêng/ Nông sản lúa nước, nuôi loài người/ Rực rỡ Trống Đồng, linh diệu thiêng/ Quan họ huê tình, ao thơm sen/ Bà ôm cháu ru hời Thằng Cuộị/ Ỡm ờ Thằng Bờm, lo nắm xôi/ Chí Phèo, Thị Nở tình bụi chuối/ Xuân Tóc Đỏ pha Á- Âu lòe nhòe...

Người Tàu thâm, láu, buôn, xâm chiếm/ Cường bạo, du mục, thịt đè người/ Biến báo Văn minh Việt thành Tàu/ Tổ Tiên Việt tráo huyền thoại Hán/ Tần Thủy Hoàng bạo chúa, cướp Việt/ Phát minh tiền giấy, thuốc súng, hung hăng/ Phản Khổng, lăng xăng, AQ chuồn/ Đại Hán, Tống nhăng nhặng, nhà bành...

Hai miền Việt- Tàu, lạ xa nhau/ Người Việt không đồng hóa thành Tàu/ Đất Việt bị Tàu cướp bùng dậy/ Đánh Tàu để dài tóc, đen răng/ Giữ món ăn sinh tồn Bách Việt/ Trống Đồng không thể dính Dao liềm/ Tàu Ác Tham, tàn bạo Tàu thua/ Đẩy dân lành Tàu- Việt đổ máu/ Thôi nhé, từ nay, đã hiểu nhau/ Tàu tôn trọng chủ quyền người Việt/ Xóa lời nguyền đồng hóa, chiếm Việt/ Cho dân Việt- Tàu sống bình yên/ Khổng Tử bảo Bách Việt Quân tử/ Độ lượng không báo thù vô Đạo”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 13.3.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004