Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






TINH HOA NGŨ ĐIỂN   









I.



MỘT: KHAI TỪ



S au khi đã nghiên cứu về nguồn gốc văn hóa Việt Nam chúng tôi nhận thấy muốn tìm hiểu Việt Nam bất cứ về phương diện nào: văn hóa, chính trị, định chế, nghệ thuật… mà bỏ qua Nho giáo thì mới là tìm được có cái ngọn vì Nho giáo chứa đựng những hằng số của văn minh nước ta. Sở dĩ nhiều người không nhận ra điều đó vì về sau chúng được thâu hóa vào trong Nho giáo rồi người ta tưởng rằng đó là của riêng Tàu. Kỳ thực là của chung cả hai nước, vì ở khởi thuỷ cả Tàu lẫn Việt đều có những yếu tố giống nhau: như tục lễ hội mùa xuân hay cúng giỗ ông bà, ruộng công… Nhưng về sau Tàu trải qua nhiều đợt lột xác: một vào đời Chu, một đời Tần, rồi Hán nên thâu nạp những yếu tố du mục vào khiến cho Nho giáo sơ khởi mang thêm một bộ mặt mới mà tôi gọi là Hán Nho. Vì Việt còn trung thành với những yếu tố ban sơ hơn bên Tàu, nên còn duy trì được Nho giáo cách tinh tuý hơn, nhưng vì không đủ thế lực nắm giữ guồng máy văn học nên chỉ còn giữ được trong vô thức. Vì vô thức nên các cụ xưa chưa phân biệt ra hai thứ Nho, mà chỉ ký tụng toàn khối. Thế hệ vừa rồi lại chỉ nhìn thấy có bộ diện du mục nên ruồng rẫy Nho cũng luôn toàn bộ. Đấy là một việc làm có hại rất sâu xa đối với nền văn hóa nước nhà: vì thiếu Nho nên không dễ gì nhìn ra những nét đặc trưng của dân tộc, càng không thể thiết lập nổi một chủ đạo là điều hệ trọng cho vận nước. Vì thế muốn đóng góp vào việc kiến thiết văn hóa nước nhà thì phải chú ý tới Nho. Muốn hiểu Nho thấu triệt mà chỉ đọc có Tứ Thư như phần lớn thế hệ trước quen làm thì chưa đủ. Muốn lên tận nguồn thì phải đọc thêm ngũ Kinh, nhưng đó là điều khó không những vì là bộ sách lớn, viết bằng chữ Nho, mà còn vì sự xuyên tạc và pha trộn, nếu không nắm được nét nhất quán của toàn bộ thì sẽ rất dễ như lạc vào rừng già không lối thoát. Quyển này nhằm đặt nổi cái nét nhất quán nói trên và theo chúng tôi thì đó là nhân-chủ-tính, chính nó mới là cội gốc cho nền dân chủ chân thực, tức là một cuộc giải phóng con người khỏi mọi kìm kẹp cả thân lẫn tâm. Cái nét nhất quán đó chúng tôi kêu là ngũ điển tức là phần tinh tuý của Việt Nho còn truyền lại được xuyên qua ngũ Kinh nhưng vì nằm ẩn nên cần một lần lôi lên mặt ý thức để dễ nhận diện, và sẽ dùng nó làm ngọn đèn chiếu rọi vào các góc tối của toàn bộ Nho giáo.

Nho giáo vốn gắn liền với nền văn hóa nước nhà, cho nên bỏ Nho là toàn bộ lâu đài văn hóa Việt Nam sẽ sụp đổ. Lúc đó có vun tưới Việt văn đến đâu cũng chỉ là một trò chơi vụn. Thế nên không thể không nói tới mối liên hệ giữa Nho và Việt. Hãy khởi đầu ngay ở từ ngữ. Chỉ cần phân tích sơ qua đã thấy được liền điều đó. Hầu như không mấy câu nói mà không có chữ Nho nằm trong, cho nên ngay ở văn chương, nếu không có Nho thì đã thiếu đi một phần rất quan trọng rồi. Đó là phần ngữ căn, tức là phần sâu sắc nhất, nền tảng hơn hết. Ta có thể thấy điều đó trong việc đặt danh hiệu, là phần tối hệ trọng, mà phần lớn là chữ Nho. Nội việc đó đã đủ chứng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa chữ Nho và nước ta. Lý do thâm sâu là vì mối liên hệ đó nằm mãi ở phần đạo lý. Mà đã nói tới đạo lý thì phải đào sâu tới đợt cơ cấu uyên nguyên, lúc ấy sẽ thấy Nho giáo với ta là một, từ tên nước, tên các địa danh, tới vật tổ, vật biểu không đâu thoát ra ngoài cơ cấu âm dương, tam tài, ngũ hành… Tên nước là Xích Quỷ, Văn Lang, Giao Chỉ, toàn là đi đôi. Vật tổ là tiên rồng, cũng lại lưỡng nghi, vật biểu là điểu long, sông núi, địa danh là Thăng Long, Hoành Sơn, Hà Nội, Hà Nam, Cửu Long… đều biểu lộ cơ cấu lưỡng diện của Nho giáo. Đến nỗi một số người cố tình chối bỏ Nho, rồi dùng vài ba yếu tố khác dựng nên một “chủ thuyết Việt Nam” thì chắc chắn là nông cạn, mà cũng không sao thoát khỏi cơ cấu của Việt Nho. Sở dĩ có chuyện mỉa mai như vậy, là vì ngay từ ngày lập quốc, tổ tiên ta đã nhận Nho giáo làm văn hóa của giống nòi. Tôi rất ghét hai chữ Khổng Mạnh dùng thay cho đạo Nho, ghép thế là gieo hỏa mù vào nguồn gốc Nho giáo, có hại cho văn hóa nước nhà. Ngay việc nghĩ Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo cũng đã là điều sai lầm rồi, vì không một yếu tố căn bản nào nơi Khổng Tử mà lại không tìm thấy nơi những người trước (Creel 346). Muốn nói thật chính xác, thì mấy hằng số của Nho giáo đều phát xuất từ Viêm Việt, chỉ xin kể hai thí dụ: một là lễ gia tiên, hai là lưỡng nhất tính.

Lễ gia tiên là đợt phát triển cao độ nhất của nền nhân-chủ-tính (do đó có tự do, bình đẳng…) thì phát xuất do tục thờ cúng tổ tiên. Thế mà tục này đích thị là của Viêm Việt. Còn lưỡng-nhất-tính trong văn hóa là nét quý nhất hiện nay (vì cần thiết cho nền văn hóa nhân loại), thì phát xuất từ trống quân. Mà trống quân cũng là của Viêm Việt, cùng lắm là có chung với Tàu. Vì ta thấy các bà mẹ nhà Thương, nhà Chu đều sinh con theo lối “dã hợp” của Viêm Việt cả. Bà Hoa Lư cũng như bà Thái Khương có mang nhân khi đạp vào vết chân người to lớn, bả Giản Địch (tổ nhà Thương) thì nhằm lúc nuốt trứng chim… Vây thì, một là tục kia có bên Tàu ngay tự đầu, nếu thế là của chung; hai nữa là các bà đó đi theo chiều hướng Viêm Việt, thì đã chịu ảnh hưởng văn hóa phương nam. Lối giải thích này có lý hơn, vì về sau Hán tộc chống đối lối dã hợp. Ngược lại Viêm Việt thì cố duy trì, cho mãi đến nay nhiều nhóm vẫn còn giữ. Còn Hán tộc tuy chống đối ở gốc rễ của chất gia, nhưng phần tinh hoa của văn gia thì vẫn bảo trì: như âm dương, tam tài, ngũ hành…… đều phát xuất từ lễ hội mùa xuân. Nẻo nào thì ta cũng thấy Nho giáo với văn hóa Việt Nam cùng có chung những nền móng căn để mà tôi gọi là hằng số, là tố nguyên. Khác chăng là ở Nho giáo thì những hằng số đó đã được thăng hoa, được tế vi hóa và được tổ hợp thành hệ thống cùng ghi chép vào kinh văn, nhưng gốc rễ thì không khác. Vì thế khi đã nghiên cứu đến tận nguồn ngọn thì sẽ nhận ra Nho giáo là báu vật trên hết của tiền nhân trối lại, muốn làm người Việt Nam cách trung thực, cách sâu xa thì không thể bỏ Nho. Hơn thế nữa, trong hiện tình văn hóa nhân loại, chưa có nền văn hóa nào đạt được một cơ cấu vừa sâu xa vừa đầy tính chất uyển chuyển linh động cho bằng (xem chữ Thời) đến nỗi tới nay vẫn đủ khả năng đáp ứng được những nhu cầu thời đại (sẽ bàn sau).


HAI: VẤN ĐỀ NHO HỌC


II- HỌC VIỆT NHO THẾ NÀO


Tuy nhiên học Nho cũng có năm bảy đường, nên thiết tưởng cũng cần được bàn tới. Nếu học Nho kiểu tầm chương trích cú thì sẽ không nhìn ra được cơ cấu, tức phần tinh hoa nhất, vì đã để cho những chú sớ bác học trùm lấp mất cái nền tảng. Hoặc học Nho mà đọc các sách cổ điển như những sách ngày nay, nghĩa là chạy đuổi cũng sẽ không thấy gì, vì các sách này đã đi vào giai đoạn minh giải rất rộng nên rất dài, đọc không cần suy nên đọc nhiều mà hóa ít, và đọc xong là hết ngay không có hậu. Ngược lại, kinh điển Nho giáo lại quan trọng nhất ở phần hậu, phần tác động chậm, thấm lần vào tiềm thức. Chứ như phần trình bày, lại rất đơn giản đến độ mộc mạc. Tuy nhiên không mấy ai (nhất là trong thời đại hiện nay) nhận ra được đó là thứ mộc mạc của uyên nguyên, phác thực nên rất dễ gây ảnh hưởng sâu đậm, vì bao giờ cũng giàu chất sáng tạo. Và đó là lý do tại sao kinh điển lại có một uy tín lâu dài, được rất nhiều người tin theo như kinh thánh, nên nó vươn lên vòm trời văn hóa, oai nghi như mặt trời, lấn át hết mọi tia sáng của các vì sao khác. Vì thế, mỗi câu của nó có sức mạnh ngàn cân, vượt xa bất cứ quyển sách nào đời nay, dù có hay đến đâu cũng chỉ được chú ý một thời, giữa bao nhiêu sách khác. Ngược lại, kinh điển đã trải qua hơn hai ngàn năm, được tôn thờ và tùng phục cách tôn kính, nên đã để lại ấn tích sâu đậm trong tiềm thức dân tộc. Chính vì thế mà kinh điển vẫn phải được coi trọng hơn bất cứ sách nào khác. Sự coi trọng đó sẽ được thể hiện bằng cách đưa vào chương trình học tử thưở thơ ấu để nó được in sâu vào tiềm thức, cũng như được bao trùm bằng hồn nhiên tươi đẹp của tuổi thơ ngây. Điều ấy sẽ bù lại được phần nào sự ồn ào tràn ngập sách vở ngày nay.

Sau đó, cần phải tiếp nối việc học theo cách Việt Nho, thì mới mong làm cho sự học kinh điển trở nên ích lợi, và gây được hứng thú ngay cho tâm trạng thời đại. Vì vậy nếu ở bậc tiểu học chỉ cần học thuộc lòng thì đến bậc trung học lại phải giải nghĩa, theo chiều hướng Việt Nho, có thể quy ra ba yếu tố:

Tìm về nguồn gốc Việt Nho, khác với Hán Nho, để trích lọc tinh hoa. Rồi đối chiếu với các trào lưu tư tưởng trên thế giới. Sau đó đi sâu vào cơ cấu, tức phần uyên nguyên minh triết, triết lý để rút ra những kết luận hợp với cảm quan thời đại Yếu tố thứ nhất nhằm giúp chúng ta nhớ lại phần đóng góp tiên tổ xa xưa của Việt tộc, và nhất là để giúp nhận diện bản chất Nho giáo. Tiền nhân ta thiếu phần này, nên ký tụng nhiều điều mâu thuẫn mà không hay biết, do đấy thiếu một ý thức rõ rệt, được luận giải minh nhiên về Nho, nên không đủ mạnh để đương đầu với sức tấn công của các tư trào ngoại lai, được minh nhiên hóa một cách có hệ thống. Yếu tố thứ hai chính là bầu khí của thời đại này, một thời đại gặp gỡ, đối thoại, giao thoa trên hết mọi lãnh vực, kể cả văn hóa, mà có thể nói, nhất là văn hóa. Sự đối chiếu vừa làm cho chúng ta nhận thức ra được cách sâu xa những giá trị cần phát huy, cũng như những nhược điểm lỗi thời cần phải loại bỏ, giúp sự học trở nên ích lợi cho đời sống. (yếu tố này còn giúp cho yếu tố thứ ba)

Yếu tố thứ ba là nhận ra tính chất phổ quát của nền văn hóa nước nhà. Lúc ấy, ta sẽ nhận thức được một điều an ủi lạ lùng, là Việt Nho không những giúp ta làm người Việt, mà còn giúp ta làm con người muôn thưở: “vi nhân”. Nói cách khác, Việt Nho chính là đạo làm người, thích hợp cho muôn nơi và muôn thưở.

Tóm lại, khi chủ trương học Nho thì điều kiện tiên quyết phải là học theo lối Việt Nho vừa được trình bày vắn tắt ở trên. Có theo những điều kiện đó thì đề nghị học Nho mới có ý nghĩa. Chính vì để góp phần vào công việc trên, mà chúng tôi biên tập sách này, giúp sinh viên nghiên cứu theo chiều hướng của từng kinh trong bộ ngũ kinh. Hễ nắm vững được rồi, lúc ấy có đi vào chi tiết thì bớt được cái nạn để cây che mất rừng.


PHỤ TRƯƠNG: VỀ TỨ THƯ NGŨ KINH


Các sách căn bản của Nho giáo gồm Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tứ Thư là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Ngũ Kinh là Thi, Thư, Lễ, Xuân Thu, Dịch. Trải qua các đời có đôi chút thay đổi. Như vua Minh Tông nhà Đường, truyền cho quốc tử giám biến dịch ra chín kinh (Thi, Thư, Dịch, Chu lễ, Nghi lễ, Khúc lễ, Công dương Xuân thu, Cốc lương Xuân thu, Nhĩ nhã, Luận ngữ, Mạnh Tử, Hiếu kinh). Hiện nay, bên Tây Âu có hai bản dịch, một bản bằng tiếng Anh của James Legge, mục sư tin lành, một bản tiếng Pháp của Couvreur giáo sĩ dòng Tên (Jésuite). Bản của James đầy đủ hơn, nhất là kinh Thư. Bên ta từ lâu có bản dịch Đoàn Trung Còn theo Couvreur. Còn ngũ Kinh thì Trung tâm học liệu xuất bản được kinh Thi, Thư, và hai tập kinh Xuân Thu, kinh Dịch của Phan Bội Châu do nhà Khai Trí xuất bản, còn thiếu kinh Lễ, Chu lễ, Nghi lễ. Các sách nghiên cứu về Nho giáo bằng tiếng Pháp sâu xa nhất không ai hơn Granet, còn của Maspéro, tiện cho sinh viên làm luận án vì cho chi tiết thư tịch khác đầy đủ về từng việc như cưới xin, lễ lạy… Tiếng Anh thì nên kể giáo sư Creel, còn cho đầy đủ chi tiết thì không ai hơn Needham, nên đọc ít ra hai quyển đầu của ông này trong toàn bộ bảy quyển lớn nhan đề Civilisation and Science in China, Cambrige. Đây là bộ sách vừa khoa học vừa đồ sộ nhất có thể coi là đỉnh chót vót của Hoa học đã trưởng thành, không một thư viện nào thiếu được. Các sách dẫn vào Nho giáo hiện nay hay nhất là quyển của Etiemble “Connaissez vous la Chine” (vì nằm trong Collection idées nên rẻ) nếu có ai dịch ra được thì tốt. Quyển thứ hai là Histoire de la civilisation của W.Durant, bản dịch của nhà Payot… rất mong được thấy dịch ra tiếng Việt. Quyển Vietnam Sociologie d’une guerre của P.Mus là một sách bàn về văn hóa Việt Nam sâu xa nhất, nhưng viết bằng lối văn hơi khó một chút. Sử triết thì nên đọc của Phùng Hữu Lan, tiếng Việt có tới hai bản dịch. Quyển của Hồ Thích tệ quá. Mong có người nào dịch quyển Histoire de Philosophie Chinoise của Zenker (Payot) sâu hơn của Hồ Thích nhiều. Có thể đọc thêm Nho giáo của Trần Trọng Kim và Khổng Học Đăng của Phan Sào Nam, không sâu nhưng không sai, nhưng nên chú ý đây mới chỉ là Nho học chưa phải là triết nho. Nó chỉ giúp tài liệu, còn triết thì phải tự tìm lấy nơi khác. Khi đã nắm vững được cơ cấu Nho giáo, mới nên đọc các quyển sử triết khác, đa số chịu ảnh hưởng của Hồ Thích nên đầy mâu thuẫn. Khi mới bước vào triết, mà đọc những quyển đó, sợ loạn tâm.


III- THỜI ĐẠI VIỆT NHO


Để có thể nhận ra sự khác biệt giữa Việt Nho và Hán Nho, chúng ta cần phải nhận thức được thời đại, cũng như địa vực hình thành của Nho giáo. Có như thế mới mong nhận ra được sắc thái, cũng như bản chất của Nho giáo bấy lâu đã bị che lấp. Cho tới nay, không ai nói tới Việt Nho hay Nho nguyên thủy, mà một trong những lý do là vì chưa học giả nào làm nổi bật lên thời đại và địa vực của Việt Nho cả. Vì mọi người chỉ quen biết nước Tàu qua hình ảnh một nước Tàu với ngũ thiên niên sử, với giải đất mênh mông chạy dài từ tỉnh Cam Túc Mãn châu đến Bắc Việt, mà không để ý đến sự khác biệt trong thời gian và không gian. Nhờ đó sự đánh lộn sòng của Hán Nho trở nên êm thắm mà không có ai phản đối chi cả. Thế nhưng, trong khi nghiên cứu lại lịch sử, chúng ta mới thấy rõ đây là hai thời kỳ khác hẳn nhau, mà khúc rẽ lớn nhất là việc Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho. Nhưng phải hiểu rộng ra là cả hàng ngàn năm, vì đây là một biến cố trọng đại xẩy ra trong thời gian lâu dài, mà hậu quả của nó là khiến cho Nho giáo dần dần mang một khuôn mặt khác hẳn, đến nỗi khi nghiên cứu lại thật tường tận, ta phải đặt cho hai thời kỳ hai tên gọi khác nhau, vì chúng mang hai nội dung khác biệt nhau. Thời trước là Việt Nho, thời sau là Hán Nho. Từ Việt Nho chuyển sang Hán Nho là một sự kiện lịch sử đã được báo trước, lối giữa thế kỷ thứ IV trước công nguyên, lúc mà nước Tấn (Xuân Thu) bị chia làm ba nước Triệu, Nguỵ, Hàn. Sở dĩ lấy việc phân chia nước Tấn làm tiêu điểm, vì trước khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất nước Tàu, nước Tấn được kể là lớn nhất trong các nuớc của nhà Chu. Nước này nằm trong tỉnh Sơn Tây, trước kia là đất của vua Nghiêu mang tên là Đường, như còn gọi thế trong quốc phong: đất xấu, dân nghèo, có tính cần cù lo xa. Đó là những đức tính do chính thể của vua Nghiêu (Legge 4,174). Vì thế việc tan rã của nước Tấn cũng chính là bước khởi đầu sự băng hại của vương nho để chuyển sang đế nho với Tần Hán. Vương nho là một sự kết hợp xẩy ra ở đời Chu được Khổng Tử nhắc tới trong câu “Chu giám ư nhị đại, úc úc hỗ văn tai…” (L.N.III.14). Nhà Chu noi gương hai nhà trước là Thương và Hạ mà lập nên nền văn hóa xán lạn. Vậy hai nhà ấy đã đóng góp những gì? Về nhà Hạ thì không còn sử liệu nào cả, chỉ còn thiên Vũ cống, nhưng rõ ràng là huyền thoại (sẽ nói sau). Vậy ở đây chỉ bàn đến sự chuyển tiếp từ nhà Thương sang nhà Chu vì có nhiều tang chứng nhất là các đồ đồng. Sách nói về thời này kĩ nhất phải kể tới quyển “La connaissance de la Chine” của giáo sư Creel (Payot Paris) vì đặt căn cứ trên 332 đồ đồng. Theo đó thì nhà Thương đã có những đóng góp sau:


Tục cúng tế tổ tiên và tế xã (Creel 320)

Coi bói mu rùa và nhà chữ đinh (C.60)

Nhà cất theo hướng từ trường (C.64) nên đoán là đã tìm ra kim chỉ nam.

Có cái lịch (nối ba bề) với hệ thống số ba được đề cao (43,91)

Có tầm tang (85). Có hội mùa xuân (tức tôn giáo phong nhiêu và tế tự còn đi sát với dân nên tồn tại lâu, xem Eberhard 27)


Đó là những yếu tố căn bản làm thành văn hóa mà tôi gọi là Việt Nho. Vậy thử hỏi những yếu tố ấy bởi đâu? Phải chăng nhà Thương vốn có từ trước hay là chiếm đoạt của dân bị trị, thuộc nền văn hóa Long Sơn và Thành Tự nhai? Xem ra nhà Thương đã chiếm đoạt, vì những yếu tố nọ rất khác với nhà Chu sẽ là khuôn mẫu cho nền văn hóa Tàu. Nhưng cho dầu không chiếm đoạt đi nữa, thì cũng rõ ràng là nó khác với đợt nhà Chu phát xuất tự Tây Bắc. Ngược lại đây tự Đông Bắc theo cách gọi của giáo sư Creel. Còn tôi thì cho là Đông Nam, vì vừa hợp danh hiệu hơn (Sơn Đông nơi có đồ gốm và Hà Nam kinh đô nhà Thương) và những thám quật càng ngày càng chứng tỏ ảnh hưởng lớn lao của miền Nam, và chứng minh có hai nền văn hóa phát xuất từ hai nơi khác nhau và đã va chạm, giao thoa với nhau nên còn lưu lại ấn tích của sự việc. Nhà Thương đại diện cho Đông Nam, còn nhà Chu cho Tây Bắc. (Có bàn kỹ trong quyển Vấn đề nguồn gốc văn hóa Việt Nam, bài: Thuyết Việt Nho trước những cuộc thám quật mới nhất). Và sau đây là bốn đóng góp của nhà Chu:

Luật hình

Hoạn quan

Quan niệm thiên mệnh và quan niệm nước Tàu là trung tâm (Trung Quốc) của thiên hạ (Creel 333, 337, 350, 352). Trước đó chưa có hai quan niệm này vì nước nhà Thương cũng mới rộng chừng 115.000 cây số (Creel 131). Cũng nên kể thêm việc đề cao tù trưởng sẽ dẫn đến thói sùng thượng lễ đời Hán.

Sự chuyển từ tư sản làng xã sang tư sản phong kiến (Need II.105) mà ông Eberhard cho là lập ra giai cấp quý tộc (gentry) và kêu là bách tính để phân biệt với dân tộc đen (lê dân) (Eberhard 27). Bốn yếu tố đó có tính cách du mục nặng về lý trí đem lại sự minh bạch. Vì thế nhà Chu được kể là có công đặt để một khuôn mẫu cho nền văn hóa Việt Nho chưa hình thành rõ rệt ở hai đời trước, mà các học giả quen gọi là thời lên men của các ý tưởng (Creel 209). Những tính chất du mục hiện lên rõ rệt từ nhà Chu sẽ được phát triển tới tột cùng ở nhà Tần, rồi truyền qua nhà Hán để in dấu rõ rệt trên nền văn hóa nước Tàu. Vì thế, mặc dầu ngay tự buổi đầu nhà Chu đã xưng mình thuộc dòng nông nghiệp, nhưng các học giả vẫn gọi nền văn hóa đó là du mục (monadisme patriarcal, hay là pastoral ngược với vegetal world của Đông Nam… Need II.576), tức là khác hẳn với nền văn hóa phương Nam của Viêm Việt luôn trung thành với các yếu tố nông nghiệp: nhu nhuận, bình sản, tự do, ưa hồn nhiên đột khởi hơn công ước (sính lễ), trọng tình cảm hơn lý trí… và thế là trở thành hai khuynh hướng chống đối nhau xuyên qua bốn ngàn năm lịch sử mà ba chặng lớn có thể kể tới là Long Sơn, Đông Chu và Tần Hán (Archéo 444). Có nhận xét như trên mới có thể giải nghĩa được mấy hiện tượng sau:

1. Nếu bảo Nho giáo là của Tàu, thế tại sao mấy triều đại chính của Tàu lại phá Nho mạnh nhất: nhà Chu tận diệt sách của nhà Thương. (Need I.86), nhà Tần đốt sách chôn Nho, nhà Hán xuyên tạc kinh văn. Và sau này tuy đã nhận Nho nhưng vẫn còn lưu lại hai yếu tố phát xuất tự Tây là hoạn quan (Iran) và pháp hình để kiểm soát Nho sĩ.

2. Tại sao nước Việt Nam (thực tế là các làng) mãi tự xa xưa luôn luôn lẩn trốn văn minh Tàu như nhận xét tinh tế của ông P.Mus (334) thế mà những hằng số của Nho lại nằm sâu trong lòng dân Việt Nam, còn sâu xa hơn cả bên Tàu. Và qua bao lần chống Tàu mà không hề chống Nho, kể cả những thời có tinh thần độc lập nhất như nhà Lê.

Nhiều người lên án Nho giáo là cổ hủ, muốn duy trì chế độ phong kiến, chống lại sự thống nhất. Đấy là lối nhìn một chiều của Hán Nho, vì đã không thấy rằng thể chế mới đã bóp chết tự do của các tiểu bang, mà trước kia là các làng mạc của ta. Và, khi Việt Nho muốn duy trì “phong kiến”, thì chính là vì muốn chống lại ý đồ thoán đoạt của người xâm lăng tự đồng hóa với vương triều để đặt ách thống trị lên dân chúng. Lý tưởng của Việt Nho là bảo vệ nền tự trị xã thôn với chế độ bình sản và tự do con người, ít ra theo chủ trương triết lý cũng như trên phương diện lễ tục. Bởi thế, nếu xét về nội dung thì nó là một thứ liên bang tinh thần, trong đó không ai bị lễ tục bắt phải làm nô lệ truyền kiếp, hoặc bắt phải tay trắng kiểu vô sản. Vì thế mà nó đã được đỡ đầu do nhiều hiền triết ẩn dưới những tên như Thần nông, Phục Hy, Nữ Oa, Nghiêu, Thuấn, Đại Vũ… tất cả là những tên quen thuộc của giai đoạn Viêm Việt, giai đoạn đã thành lập được nền văn minh nông nghiệp mà sau này mang tên là Vương đạo. Nhưng rồi cùng với thời gian và sự thấu nhập của các làn xâm lăng từ Tây Bắc, nền văn hóa này đã bị lung lay. Và từ cuối thời Xuân Thu mấy nước lớn như Tề, Tấn, Tống, Sở, Ngô, Việt, Tần có tranh bá đồ vương, không phải để làm sống lại tinh thần vương đạo, mà cốt để thôn tính các nước nhỏ cho tới khi toàn thắng để đặt nền thống trị trên toàn lãnh thổ (H.Maspéro p.323). Tự hậu người ta có gọi là Nho giáo, thì cũng chỉ còn là mượn danh hiệu, vì chính ra đó chỉ là pháp gia, hình gia chứ có còn đâu là Nho gia. Vì Nho cũng chính là Nhu, vừa có nghĩa là nhu yếu (đáp ứng những nhu yếu thâm sâu của con người) vừa có nghĩa là đạo của dân nhu thuận hiền hậu. Từ đời Hán về sau chỉ còn có cái tên gọi là Nho, nhưng nặng màu chính trị du mục mà thôi. Vì thế, mỗi khi nói tới Việt Nho phải hiểu vào thời Xuân Thu trở về trước, còn từ thời chiến quốc về sau thì là một loại Nho khác.

Có một giai thoại truyền lại rằng: đời Chu Kinh Vương năm 481, tr.k.n. có người nước Lỗ bắt được con Kỳ lân què chân trái. Khổng Tử trông thấy nói rằng “Kỳ lân xuất hiện làm gì”. Rồi bưng mặt khóc. Từ đấy ngài ngưng viết kinh Xuân Thu.

Câu chuyện trên có thể chỉ là giai thoại, nhưng đã nói lên được sự kiện lớn lao là việc chấm dứt một giai đoạn mà tôi gọi là Việt Nho, một thứ Nho bênh vực con người theo nghĩa trung thực, bao gồm tự do, nhân phẩm với bình sản, mở rộng cho tới toàn dân. Mà vì dân chiếm bên trái, phương Đông, phương của Kỳ lân nên câu chuyện trên có ngụ ý: lân đã ra ở phía Tây nên què chân trái, tức bị Hán Nho uy hiếp. Tuy nhiên Kỳ lân chưa chết, nó chỉ què một chân, có nghĩa là nó còn lẩn quất đâu đây, có thể nằm trong kinh sách, hoặc là một hình ảnh mờ nhạt trong dân gian, đôi khi tác động trên chính trị. Nhưng chưa bao giờ xuất hiện trở lại và chỉ còn để những dấu hiệu mờ ảo, chẳng hạn việc vua đeo ngọc trắng, kẻ sĩ đeo ngọc nhu cửu (có thể trắng phía tây. Nhu là nho, thuộc văn minh mẹ nữ cửu) hay là sách Tố như chỉ có giấy trắng… hoặc ngọc tỉ hay kinh Nhạc bị mất, hoặc cửu đỉnh bị chìm. Bấy nhiêu điều đó có thể là những dấu chỉ rằng, ngoài Hán Nho còn có cái chi sâu thẳm. Ở đây chúng ta cố gắng nhìn bao trùm lấy ngũ kinh, để may ra có thể nhìn thấy được khuôn mặt của con lân lúc chưa què chân trái, tức lúc Nho còn là Việt Nho vậy.


... CÒN TIẾP...



Đăng tải theo nguyên bản của cố tác gỉa ngày 12.3.2016 .

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004