Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng –

Cuộc Kháng Chiến của Nhân Dân Việt Nam

Chống Chính Quyền Đô Hộ Thời Kỳ Đầu 1.000 Năm

Nô Lệ của Triều Đình Phong Kiến phương Bắc

(40-43 sau Tây lịch).










T heo “Sổ tay báo cáo viên năm 2005” của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Đảng, ngày 8/3/40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Hán. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà được nhân dân ủng hộ. Song vì lực lượng yếu hơn giặc nên cuộc khởi nghĩa đã thất bại. (Sách trang 33).


1-Đế chế Hán ở buổi đầu công nguyên :


Sau nhiều biến loạn thời Đông châu – Chiến quốc ở Trung Quốc (2205-206 trước Tây lịch), nhà Đông Hán (kinh đô ở Lạc Dương – tỉnh Hà Nam) thay thế nhà Tây Hán (kinh đô ở Trường An – tỉnh Thiểm Tây), từ năm 25 tới năm 88 trước Tây lịch, tình hình bên trong Trung Quốc ổn định nên tiếp tục bành trướng ra nước ngoài, thực hiện nhiều cuộc viễn chinh, xâm lược và chiếm đóng, trong đó có Âu Lạc thay thế Văn Lang của vua Hùng. Nước Nam Việt (kinh đô Phiên Ngung – Quảng Châu) của Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc (kinh đô Cổ Loa – Đông Anh - Hà Nội). Dân Việt bắt đầu bị đô hộ bởi phương Bắc .

Nhà Tây Hán lấn chiếm xuống Nam và xâm chiếm Nam Việt (được đặt tên lại là Giao Chỉ bộ) lúc bấy giờ có 9 quận : Giao Chỉ (Bắc bộ), Cửu Chân (Bắc trung bộ), Nhật Nam (Trung trung bộ), Đạm Nhĩ – Chu Nhai (đảo Hải Nam), Nam Hải – Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây). Sau đó, nhà Đông Hán tiếp tục chiếm đóng và cai trị Nam Việt. Bộ máy đô hộ, việc cai trị đứng đầu mỗi quận (bộ) là một viên Thái Thú coi việc chính trị và một viên Đô Úy chỉ huy các lực lượng quân sự. Lạc hầu, Lạc tướng thời Văn Lang đều được chính quyền đô hộ sử dụng lại. Dùng tục cũ mà cai trị nhưng áp dụng phương thức bóc lột, cống nộp những sản phẩm quý, bên cạnh việc mua bán thổ sản và nô tì, âm mưu đồng hóa được đẩy mạnh hơn, trong đó đưa tội nhân và người nghèo khổ xuống ở trong Giao Chỉ.

Ngày nay, trong thời kỳ mới, chính quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ý đồ tương tự, thực hiện “mô hình” xua lao động dư thừa, thất nghiệp, nghèo khổ theo chân các doanh nghiệp sang khai thác đầu tư ở Việt Nam, thuê mua đất dài hạn. Ở khắp nhiều nơi trên đất nước, tình trạng này không ít nhưng chưa ai điều tra, thống kê được quy mộ … đã dự báo một nguy cơ mới không thể không có khả năng cùng với việc chiếm đóng và xây dựng đô thị Tây Sa trên quần đảo Hoàng Sa đang diễn ra ở biển Đông.

Lịch sử Việt Nam tập 1 (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1984) đã khái quát sách lược “bành trướng” và “chiếm đóng” các nước, các dân tộc láng diềng để mở mang bờ cõi cố hữu của các triều đại phương Bắc từ cổ chí kim, được ghi nhận như sau : “Thương mại – Chiến tranh – Ngoại giao xoắn xuýt vào nhau và tác động lẫn nhau trong quá trình bành trướng của đế chế Hán (và Trung Quốc nói chung). Ngoài việc sử dụng quân viễn chinh, nhà Hán còn sử dụng lối biếu xén của cải để mua chuộc các chúa, các thủ lĩnh miền (như Vân Nam, Quý Châu) cũng như các thủ lĩnh Việt tộc để phát triển ảnh hưởng sang đất đai láng diềng, để thần phục họ, để gây hiềm khích giữa họ với nhau cho Hán đứng giữa thủ lợi. Dùng quà tặng trở thành một thủ đoạn chiến lược chính trị của nhà Hán, suốt bốn thể kỷ, bất kể tốn kém. Vàng lụa là những quà tặng chính, chất từng xe, hàng trăm, hàng ngàn xe tuôn sang phía tây, tây nam và nam để mua chuộc các thủ lĩnh địa phương để đàn áp các cuộc chống đối, nổi dậy. Người ta ước lượng tổng thu nhập thường niên của đế chế Hán từ giữa thế kỷ thứ 1 trước Tây lịch đến năm 150 là khoảng 10 tỷ đồng tiền, trong đó 3 tới 4 tỷ dành cho quà biếu xén đối ngoại, mỗi năm khoảng từ 10.000 đến 30.000 tấm lụa.” (trang 255).

Trước sức bành trướng kinh khủng của đế chế Hán, với những lực lượng quân áp đảo và những thủ đoạn chiến lược chính trị, kinh tế, ngoại giao vừa trắng trợn, tàn bạo, vừa giấu mặt, kinh tế, vừa chặt chẽ, thắt buộc, vừa rộng rãi, buông lỏng …kết hợp tùy nơi, tùy lúc khá tinh vi…Công cuộc banh trước, chinh phục của nhà Hán xuống phương Nam sở dĩ thực hiện được là do còn có sự chia rẽ trong nội bộ Việt tộc, “Âu Lạc tương công, Nam Việt động giao” (Âu Lạc đánh lẫn nhau, Nam Việt rung động) là lời bình của thái sử công Tư Mã Thiên nhà Hán. Có ngoại kích của quân chinh phục và bọn bành trướng. Có nội công của các thủ lĩnh Việt tộc. Nhiều thủ lĩnh Việt tộc bị mua chuộc, đầu hàng bọn bành trướng, thậm chí còn làm quan, làm tướng cho bọn bành trướng – từ Tần qua Triệu tới Tấn và về sau này nữa – và quay lại chống phá lẫn nhau, chống phá những cuộc nổi dậy giành quyền tự chủ, bảo vệ lối sống riêng của người Việt. Cả một vùng rộng lớn từ Trường Giang tới Tây Giang tạp nhiễm văn hóa Hoa Hạ. Rồi dần dần cư dân bản địa gốc Việt hợp với di dân Hoa Hạ đều trở thành “Hán nhân”, “Đường nhân”…”(trang 256-257).

Ôn cố tri tân”, nhiều năm gần đây, hàng hóa Trung Quốc (giả có, độc hại có – công khai hoặc tiềm ẩn, kém chất lượng…) đã tràn ngập thị trương khắp cả nước Việt Nam do giá rẻ và nhập lậu vừa làm thiệt hại nền kinh tế đất nước vừa ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội.. Đặc biệt, phim ảnh, ngoài một số nhỏ có chất lượng, đáng hoan nghênh, hầu hết đều gây rối loạn nền an ninh trật tự xã hội do hình thức bạo lực, nội dung phản giáo dục học đường, gia đình và gây rối xã hội. Đó là là sản phẩm văn hóa độc hại và lai căn được phổ biến nhan nhản trên báo đài, nhất là các kênh truyền hình địa phương và trung ương. Hậu quả và tác hại của nó thấy rõ như : đâm chém tập thể, giết người không gớm tay, tổ chức đánh nhau và trả thù từng nhóm, đâm thuê chém mướn, đòi nợ, đàn em, đại ca đứng bến, đứng đường, ca ngợi anh hùng hảo hán (người hùng của Hán tộc) không thua gì trong phim xã hội đen của Trung Quốc, Đài Loan..Khiêng quan tài tới trước nhà để hăm dọa đòi nợ, đòi trả thù…xưa nay ở Việt Nam chưa bao giờ có v.v…


2-Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng :


Thái thú Giao Chỉ là Tô Định là kẻ bạo ngược, tham lam ác liệt. Dân chúng và các quý tộc cũ đều oán thù việc cai trị đô hộ của nhà Đông Hán. Năm Canh tý (40) Thái thú Tô Định giết chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng Chu Diên (Từ Liêm – Đan Phượng, Hà Nội) liền kề với Mê Linh vì có âm mưu phản kháng chế độ cai trị hà khắc của nhà Đông Hán.

Theo Thủy kinh chú, cổ sử Trung Quốc, cho biết chồng bà Trưng là Thi đã cùng vợ thực hiện cuộc nổi dậy lẻ tẻ, đánh phá nhiều nơi mới bị quân Hán vây bắt và sát hại dẫn đến cuộc khởi nghĩa quy mô lớn khắp 9 quận đều được nhân dân ủng hộ.

Sách Thiên Nam ngữ lục, áng sử ca dân gian thế kỷ thứ XVII của nước ta đã chép bốn câu thơ dưới đây để mô tả nội dung lời thề của Bà Trưng khi lập đàn phát động cuộc khởi nghĩa có một không hai của hai phụ nữ quý tộc trong thời kỳ đầu của sự thống trị kéo dài 1.000 năm (111 trước Tây lịch – 931 sau Tây lịch) của các triều đại phong kiến phương Bắc :


            Một xin rửa sạch nước thù

            Hai xin đem lại nghiệp xưa vua Hùng

            Ba kẻo oan ức lòng chồng

            Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.


Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái quan Lạc tướng huyện Mê Linh (miền Sơn Tây) thuộc dòng dõi vua Hùng vốn đã cùng chí hướng với chồng nên khi Thi Sách bị sát hại, bà cùng em đã kết hợp đẩy mạnh sự phản kháng chính sách cai trị thành cuộc khởi nghĩa của nhận dân để lật đổ chế độ nhà Đông Hán, đánh đuổi quân xâm lược khôi phục lại vương quyền của vua Hùng.

Mê Linh là căn cứ địa của Hai Bà đồng thời là địa điểm xuất quân tiến hành cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn qua hai câu thơ mô tả của Đại Nam quốc sử diễn ca :


            Ngàn Tây nổi sóng phong trần

            Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.


Long Biên được ghi nhận là vùng đất phía Bắc sông Hồng, phía Nam Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh). Ở huyện Mê Linh có quan cai trị về quân sự là Đô úy, còn quan Thái thú về quyền quản lý tổ chức hành chính, kinh tế, xã hội Tô Định đóng ở Luy Lâu, trị sở của 1.000 năm đô hộ. Cuộc khởi nghĩa đã tập trung các lực lượng nhân dân vào căn cứ Mê Linh rồi sau khi chiếm đánh huyện sở Mê Linh, lực lượng khởi nghĩa tiến quân qua Châu Diên, tới Đại La (sau này là Thăng Long – Hà Nội) rồi vượt sông Hồng tới trú đóng ở Cổ Loa thành (Đông Anh – Hà Nội). Từ đây quân hai Bà theo sông Đuống (Lãng Bạc) vào sông Dâu đánh chiếm trị sở Luy Lâu. Thái Thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu giả lính thường trốn chạy về Nam Hải (Quảng Đông). Bốn năm sau, khi tướng Mã Viện đem quân tiếp viện đánh thắng hai Bà đã tố cáo Tô Định với vua Hán rằng :”Thấy tiền thì giương mắt lên, thấy địch thì cụp mặt xuống”.


3-Một sự trả thù thâm độc truyền kiếp của nhà Đông Hán :


Sách “Việt Nam sử lược” của tác giả Trần Trọng Kim, trang 51 có chi “Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ về thuộc Hán như cũ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ :”Đồng tru5chie61t, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòi. Sử chép rằng người Giao Chỉ đi qua chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến bây giờ không biết cột ấy ở vào chỗ nào.

Từ dó chính trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những quan lại sang cai trị Gioa Chỉ thường có lắm người tan ác, tham nhũng, bắt dân lên rừng xuống bể để tìm những châu báu. Dân ở Hợp Phố cứ phải xuống bề mò ngọc trai khổ quá, dến nỗi phải bỏ xứ mà đi. Triều đình thì xa, quan lại ra cai trị thì tha hồ mà tung hoành, tiếng oan ức kêu không thấm vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn lạc, làm cho dân gian phải nhiều sự khổ sở”. (trang 52).

Có một sự kiện lịch sử - văn hóa – địa lý diễn ra ngay sau thời kỳ Mả Viện đánh thắng Hia Bà mà sử sách ít nói đến. Đó là sự kiện hay biến cố mà bọn cai trị thời Đông Hán đã gây ra thành một sự trả thù thâm độc làm với âm mưu làm cho nhân dân ở Mê Linh – nơi Hai Bà sinh ra lớn lên và khởi nghĩa, làm vua phải “mất gốc”. Đó là biến cố triều đình nhà Đông Hán cố tình áp dụng chính sách “Giao Chỉ diệt” tàn ác như sau :

-Di dời toàn bộ dân cư ở huyện Mê Linh (vùng Sơn Tây) ngày nay thuộc hữu ngạn sông Hồng (Hát giang) sang định cự bên tả ngạn sông Hồng. Do đó, ngày nay, địa danh Mê Linh và đền thờ Hai Bà (cả Thi Sách) đều nằm bên tả ngạn sông Hồng thuộc Phúc Yên – Vĩnh Yên. Theo nghiên cứu của nhiều học giả, trong đó có ông Đinh Văn Nhật với bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Lịch sử quân sự số 3 tháng 3-1986 đã xác định với nhiều chứng cứ, tư liệu cổ của Việt Nam và Trung Quốc chứng minh :”Huyện lỵ Mê Linh đời Hán – quê hương của Hai Bà Trưng và kinh đô của Trưng Vương, đồng thời cũng là đất Cấm Khê – Căn cứ trung tâm của cuộc khởi nghĩa năm 40-43”. Đề nghị các nhà làm sử, các nhà dạy sử trong các trường học, học viện nên xem lại địa danh Mê Linh ở vị trí mới ngày nay (thuộc Vĩnh Yên) bên tả ngạn sông Hồng mà trả về vị trì cũ, địa danh gốc (làng Hạ Lôi huyện Đường Lâm thuộc Sơn Tây) có núi Vua Bà cạnh núi Ba Vì chính là quê hương và là nơi khởi nghĩa của Hai Bà. Đừng để con cháu và thế hệ ngày nay, mai sau hiểu lầm vị trí của địa danh lịch sử Mê Linh. Về lịch sử tiến hóa và văn minh dân Việt, cuộc khởi nghĩa Hai Bà vào đầu công nguyên là cuộc khởi nghĩa đầu tiên quan trọng nhất của giới nữ, đồng thời cho con cháu biết sự trả thù thâm độc của kẻ thù xâm lược và đô hộ, cai trị của các triều đại phương Bắc có một không hai trong lịch sử văn minh nhân loại.

-Kẻ thù dân tộc là bọn cai trị sau Tô Định và Mã Viện đã thực thi một chính sách “đồng hóa” vô nhân đạo là cho di dân Hán tộc tới định cư ở đất Mê Linh cũ và cho quan quân tự do lấy vợ Việt…

-Bắt dân quân ủng hộ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và một số quan tướng của Hai Bà sang định cư hẳn ở Quế Lâm (Trung Quốc) và lập nghiệp luôn ở đây cho tới ngày nay, như là một cuộc đi tù đày dài hạn, không có ngày trở về quên hương Việt Nam. Ở đây hiện còn đền thờ Hai Bà do bị bắt sống xa quê hương Mê Linh đã xây dựng để nhớ tưởng công ơn và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà. Cộng đồng người Việt ở đây không bị mất gốc nhưng khó lòng trở về nước.

Trên đường trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc tức sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh từng qua lại và ở nơi đây một thời gian.


4-Kết luận :


Như vậy, vào đầu công nguyên, nước ta đã bị các triều đại cổ Trung Quốc chiếm đóng cai trị liên tục 1.000 năm mà ngay từ những năm đầu bị đô hộ, nhân dân đã khôn ngừng nổi dậy để phản kháng và đánh trả từng lúc từng nơi, như cuộc khởi nghĩa của Hai Ba Trưng mà Lịch sử Việt Nam tập 1 đã nhận xét và đánh giá về cuộc khởi nghĩa này như sau :

Phong trào nổ dậy của nhân dân trên toàn đất nước ta trong buổi đầu công nguyên – mà đỉnh cao nhất, chói lọi nghìn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại. Từ trong ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy, tỏa ra chân lý lịch sử này : Mọi dân tộc dù nhỏ nhưng tự mình đã dựng nên và làm chủ đất nước và số phận mình, là bất khuất. Nó có thể tạm thời thất bại nhưng không một sức mạnh nào có thể tiêu diệt được nó ! (trang 271).

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã chiến thắng và làm vua được 4 năm (năm 40 – năm 43 sau Tây lịch) sau khi quét sạch quân xâm lược và lật đổ chính quyền cai trị của nhà Đông Hán làm chủ 56 thành trì (có nơi viết 65 thành) tức giải phóng cả đất nước lúc ấy là Giao Chỉ bộ gồm 9 quận. Hàng năm lễ kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã được gắn kết với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 đã đem niềm tự hào và sự vẻ vang của phụ nữ Việt Nam trong thời đại ngày nay.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 08.3.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004