Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Bóng Đè tranh của Võ Công Liêm





THỰC GIẢ MỘT HIỆN HỮU CỦA ĐỜI NGƯỜI





Qúy vị đang nghe Ständchen của Schubert





    Là hiện tượng dung thông đối với con người và xã hội. Một kết hợp tự nhiên trong tinh thần và thể xác mà con người chấp nạp như một hiện thể tồn lưu. Tinh thần vốn dĩ và thể xác vốn có, bởi; nó tương thân trong một trạng thái để có một vóc dáng (figuration) cho từng cá thể; chung qui thuộc đối tượng văn hóa cũng như triết học khi con người hiện thân giữa đời này. Thực giả là do con người đặt ra đều có mục đích, có dự mưu đưa tới một tham vọng không ít thì nhiều trong một bản chất tự tại. Đó là cái lý của hiện hữu tồn lưu, tồn thể và tồn lại –être-au-monde là hiện hữu tại thế, là sự có mặt của con người giữa đời –être incarné. Trong thực chất đó biểu lộ một hài hòa và một tư kỷ. Đó là trạng huống tâm lý đã có khi còn trong trứng nước, nghĩa là nó nằm trong dạng nhiễm sắc thể ‘gene’ của con người. ‘Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ là ở chỗ đó; dù có trá hình dưới dạng thức nào cũng chỉ là lớp sơn che thực chất bên trong. Mà bên trong đều có chứa chất liệu của tốt và xấu, tốt xấu ở đây không dính tới phép nhị nguyên, bởi nhị nguyên: là có cái này thì mất cái kia. Còn bên trong của tốt và xấu là biểu lộ một sự thật và một giả dối. Nói theo tinh thần triết học là con người phải mở rộng tâm can lòng dạ thì mới nhận ra chất liệu của nó, nghĩa là hóa giải thực sự để thánh hóa tinh thần và thể xác. Răng rứa? vì tinh thần thúc đẩy thể xác. Nhưng tiêu diệt được bản thể tự tại là tùy vào ý thức thuộc tha nhân chủ thể. Thực ra cái gì trong sáng, chơn chất thì phản ảnh được sự thật, giả thì dù có mảy may cũng là giả. Cho nên chi cái đòi hỏi của nhà Phật là thực tâm thì mới đạt chánh quả. Chiếc áo cà sa, hay chiếc áo dòng chưa nói hết thực chất của ‘tâm’. Thượng đế chỉ đợi ở cái tâm chớ không đợi ở kinh điển. Kinh điển chỉ là lời nhắc nhở chớ không tác động, mà tác động do ở tinh thần. Nói như rứa thì làm răng đây? Muốt đạt cái chân lý tối thượng thời phải tiêu diệt tính cách xa lạ của ngoại giới. Có như rứa ngoại giới sẽ không còn chuyển dịch bên ngoài của sự kiểm soát con người. Thời tất mọi sự hiện hữu giữa tốt và xấu không còn nữa. Tâm thanh tịnh để đi tới cái thực toàn diện, ngược lại mang tính chất dự mưu, toan tính thời trước sau cũng thấy được trắng đen. Cái trắng đen đó chính là tồn loạt mà đã tồn loạt thời làm răng hiện hữu giữa đời này. Thí dụ: một nghệ nhân làm ra sản phẩm quên cái phẩm mà nghĩ đến cái lượng, lượng càng nhiều là thực chất của đam mê tham vọng. Đã tham vọng là đổ xuống sông không còn chi là tại thế. Muốn tại thế là thực chất bên trong phản ảnh sự trong sáng tuyệt diệu (enlightenment) là giải thoát. Vì rứa sự có mặt của con người ở đời đã định hình với vật giới làm cho vật giới có ý nghĩa với con người. Con người phát sinh (the birth) ra ý nghĩa nhưng phải tránh xa nếu ở đó có một sự sinh ra bi thảm (the birth of tragedy) xẩy đến. Cái nhìn khách quan chỉ thấy dục giới không còn thấy con người. Ngay cả cái nhìn duy tâm chỉ thấy tinh thần tuyệt đối chớ không thấy ở nơi con người: sự thật hay giả dối.

Rứa cho nên chi trong cái đặc chất của thực và giả giữa đời là bao trùm bởi một ý thức khống chế trí năng. Nếu thực sự cuộc đời: mỗi khi đứng trước một người đẹp hay cánh hoa nở rực rỡ thời cảm thức đã xâm chiếm bằng ý thức chiếm đoạt (mỉm cười không phải cười chào mà cười bằng một dự tính bên trong) không có nghĩa gì cả nhưng có một chút gì chớm nở của ray rứt và có thể như là phớt lờ –mean nothing but a minor affiction and one would ignore it. Nói như rứa không có nghĩa về những gì cảm thức cuộc đời là một giá trị chuẩn mực để xứng đáng dành cho thẩm mỹ học hoặc là việc này chỉ có cho những nghệ nhân hay người thưởng ngoạn. Cảm thức của thực giả không thể cho đó là sai lầm được. Nhưng; tất cả phát sinh ra từ tâm thức; tâm tốt thì thực hiện chân thực, tâm tà thì phát sinh ra giả dối (hay dối lòng sinh ra từ mặc cảm tự tại; cũng có thể) Cái đó thuộc về tâm lý cơ chế (psychological mechanism) mà chỉ là phương tiện để tỏ rõ hay bao che lỗi lầm của con người, tạo ra một sự thực trong sự thật hay sự thật trong giả dối, những thứ đó là thói tính có từ tâm như nhiên mà ra. Ở hoàn cảnh giữa thực và giả nó cũng có tính chất nghệ thuật của nó, một thứ nghệ thuật thuộc tư tưởng. Nó cũng có những cảm xúc thầm kín với nghệ thuật mà thứ nghệ thuật này không dính dáng trong đời thường nghĩa là thuộc về thuật ngữ cho một sự giao thiệp bên ngoài –The emotion involved in art is not an emotion in the ordinary meaning of the term. Thực chất thực và giả đi qua kinh nghiệm nhiều hơn từ cảm nhận (sense) hoặc cảm thấy (feel). Nhưng nhớ cho rằng; trong tri nhận giữa cảm và thấy có hai chức năng liên can đến cảm xúc: nó hiện hữu một cách máy móc tự động với một cường độ mãnh liệt, một con người có ý tứ sâu sắc thâm hậu; cái nghĩa đó có một giá trị của nó, của từng chức năng mà con người đối diện với thực tế, cái đó chính là đối tượng cá thể. Nghĩa là cái thực dù đang đứng giữa dãy núi Pyrenees, thời bên này là sự thật bên kia là giả dối. Lập trường của tư duy là xác định vai trò và hoàn cảnh; đôi khi phải dối để bảo vệ sự thật. Có thể sự thật vượt xa khỏi tư duy mà cho là giả dối (cũng tùy từng đối tượng). Chính sự cố đó đưa tới mâu thuẩn, bởi; đôi khi giả dối thực nhưng phản ảnh được sự thật cho người tin. Rứa cho nên vai trò chủ thể và khách thể đòi hỏi một nhận thức giữa thực và giả. Nghĩa lý của sự cần thiết giữa chủ thể và khách thể. Vì thế dưới tất cả mọi yếu tố dẫu nhỏ nhen đều tin vào sự thật để đạt nguyện vọng: Đây là (hoặc không là ) có cuộc đời như tôi thấy được nó / This is (or is not) life as I see it’. Răng rứa? Một mâu thuẩn tự tại mà mình phải cảm thông. Bởi; giá trị thức tỉnh và giá trị hiện hữu là một tương quan giữa đời; mà mỗi lời nói thay mặt cho một cảm xúc –The value involved is life, and the words naming the emotion are. Và; đây là những gì có ý nghĩa cuộc đời đối với tôi ‘This is what life means to me’. Như đã nói thực và giả là một thứ nghệ thuật cuộc đời. Theo triết học biện minh; nghệ thuật ở đây là một thứ tâm lý thuộc khoa học luận (psycho-epistemological) một tiến trình của thông đạt giữa hai bên là một chọn lựa dứt khoát đâu chính đâu tà. Giả dối là sở hữu chủ của tà giáo, chính là công lý của sự thật rứa nên chi hai bề mặt của nó ngó thì đơn thuần nhưng là cả một đối kháng, đôi khi tương phản nhau. Chính sự cớ này xuyên thủng phép nhị-nguyên nghĩa là hai bề mặt của nó khó đo lường và phân định. Thứ nghệ thuật này phổ biến có chiều hướng trừu tượng mà những thứ đó cứng nhắc; mang lại trong đó một sự thật hiển nhiên có nghĩa là chấp thuận cho một cá tính riêng biệt tạo ra được tiến trình tương tợ lẫn nhau, một tiến trình của cảm hứng –the viewing process resembles a process of induction. Nhưng mang lại dưới cái nhìn của nhân loại và những gì thuộc hiện hữu tồn lưu trong hiện thực; đều mang lại thực chất của hiện thực (ngay cả việc dối lòng hay tán tận lương tâm); nó được chuyển thể trong đối tượng, trong lý lẽ chuyên môn qua lời nói và ngôn ngữ. Thật ra; những gì gọi là thực và giả đều do từ hiện tượng cuộc đời đắp đổi vào đó như một thể hiện giữa trừu tượng và siêu hình, một đôi khi ẩn tàng dữ kiện trong ngôn ngữ cũng như lời nói. Thế nhưng sự thật vẫn là sự thật, giả dối vẫn là giả dối. Sao có cái trường hợp nghịch lý như rứa? Cái sự phản ảnh đó nằm trong dạng thức của ngữ ngôn, nó lồ lộ qua từng con-chữ của ‘văn tức là người’ không những thế nó phơi bày cả truyền thống cố hữu. Như đã nói ở trên là nhiễm-sắc-thể (gene) cái dzụ này nó nằm trong tiềm thức để đi vào tế bào máu mới có cái gọi là ‘phát sinh / birth’. Như rứa cho ta một nhận định tư tưởng (thực giả) để trở nên biểu tượng của đời người; không còn nằm trong cảm thức nhưng thực giả là một tư tưởng hữu thể trực tiếp với đời sống đi theo với hiện thể hằng ngày. Đấy chính là đặc điểm đáng kể của khoa biện chứng triết học. Sao lại có sự biện chứng đó? Bởi; nó cũng cố cái sự thuần chất; là một duy thức hóa của hữu thể, của tồn lưu, tồn lại, tồn căn (đúng nghĩa là tồn lăn là trượt và chớp lấy) Kỳ thực; những gì gọi cảm nhận và nhận thấy là biểu hiện qua ngôn từ, cảm thức đó giờ đây là một cái gì hoán chuyển từ giả sang thực và thực tự nhiên đã là hiện hữu. Thí dụ: Lý Nghiệp bí danh là Cát Đỏ một hình thức của ẩn tàng, một danh tánh sợ sự thật mà phải dấu kín đâm ra không sáng tỏ mà tạo hình dung từ của trừu tượng, siêu hình để thần tượng hóa nhân cách. Thành ra Cát Đỏ giả mà thực, Lý Nghiệp thực mà giả dưới một ẩn tàng của bí danh. Thí dụ khác: Trần văn Lở, đi học cải tên là Lễ vẫn chưa toại nguyên cải danh thành Trần Dân Lễ. Lở, Lễ, Dân Lễ là một sự thật che đậy trong cái giả để cách hóa thành thực. Qua hai thí dụ trên là tự biện, nó không thực với bản chất cố hữu của hình tượng mà dẫn đến một tư duy khách thể cho một thẩm định giữa thực và giả mà nhìn nhận đó là sự biểu hiện một lòng ham muốn vừa có tính chất phá hủy của hiện thực để bồi vào đó một giả tưởng. Đấy là những gì có một liên đới giữa hữu thể và vô thể. Răng rứa? Đó là cái nhìn khách quan chỉ thấy một hiện thể không thực; không còn thấy con người thật. Trá hình là một tai họa không những hôm nay mà kéo dài cả về sau. Lập trường duy tâm không giải quyết được gì cả mà phải hiện thân ‘cái của mình / être pour soi’ tức là chứa một chất liệu ‘hiện hữu cho kẻ khác / être pour-autrui’. Khi đặc vấn đề con người hiện diện tức là con người đối diện với xã hội. Người và đời là hiện hữu tại thế là hiện hữu tồn lưu. Lý cái này mới thấy được thực-tướng của nó. Chủ thể và khách thể là hai cái đi đôi với nhau. Có chủ thời có khách, có thực thời có giả. Xét ra; đây là tâm lý thường trực có từ tư duy bản thân, một sự kiện khó giải. Giải được hay không tùy vào ý thức, một ý thức lương tâm không cho phép thực nói thành giả và giả nói thành thực. Cái sự cố đó đã làm cho con người mất lập trường thống trị tư tưởng, một thứ lập trường giả hiệu. Đòi hỏi con người phải thức tỉnh: -trung thành với nhận thức nghĩa là đi qua từng kinh nghiệm giữa hữu và vô hữu thời mới thực bằng không dưới dạng thức nào, bào chửa cách nào đều đi tới sụp đổ. Ngay cả chuyện a-dzua, bắt chước, cốp-pi-két cũng là ‘tôi ác’ tư tưởng. -Nhận định phải căn cứ vào lý trí, không thể trá hình những giáo điều hay bất cứ hoài niệm không có thực đều là trầm tích trong một ngữ ngôn không thực đều đi tới sụp đổ. Tưởng tượng, đặc điều, toa rập, vu khống cũng là ‘tội ác’ tư tưởng . Cả hai lãnh vực đó là ngu xuẩn trí tuệ. Rứa thì làm răng? Phải thực hữu trước vấn đề để làm nên sự nghiệp. Có như thế sự nghiệp mới tồn lưu nhân thế. Bằng không là tha hóa!

Đây không có nghĩa cho đó là cảm thông là bước đầu của mục đích nói đến cá tính con người: bước đầu mục đích của nó là mang lại cái viễn ảnh của con người và những gì thuộc về hiện hữu trong một bản chất hiện thực –This does not mean that communication is the primary purpose of a man: its primary purpose is to bring the view of man and of existence into reality. Giữa thực và giả luôn luôn có một sự tiềm ẩn chất chứa bên trong. Song le; tìm thấy sự thật là phải sàng sẩy, luợc đi lược lại nhiều lần mới tìm thấy sự thật của vàng. Vì; vàng nằm trong quặng bẩn,vàng thật là tìm thấy. Cho nên chi vẩn đục khi nào cũng nhiều hơn sáng tỏ. Sự thật và giả dối như vàng với sạn cần phải thanh lọc mới thấy được sự thật .

Thiết tưởng đây là sự thật của con người trong cái thực và giả. Cái gì trong đó? Đấy không phải là lãnh điạ có tính cách nhạy cảm mà hầu hết là tư duy của những nhà tư tưởng, nó nằm trong phạm trù triết học như giáo điều. Một sự lý hết sức nghiêm chỉnh và cũng khó lý giải một cách quan trọng với những gì nghe qua rất thông thường mà cái sự đón nhận là bày tỏ Sự thật / Truth. Nhưng phải có một bày tỏ rõ ràng, nghĩa là có một phần đất tốt cho một niềm tin trong sự thật và giả dối. Dù ở đó tỏ ra một sự chân thực có nguyên tắc.Nhưng phải có một sự thật đúng đắng; cái đó là một cố gắng thúc đẩy ở chúng ta qua nhiều thứ phức tạp và liều lĩnh; muốn đạt tới sự thật chân chính là những gì mà các triết gia đã nói tới với sự lưu tâm, đó là vấn đề đặc ra cho một sự mong muốn đi tới sự thật mà không đặc để trước chúng ta.Thực giả là nguyên nhân sự cố ‘The causa sui’ một mâu thuẩn tự tại ‘self-contradiction’ thời đó chưa hẳn đã hình thành trong tri thức mà đó là thể loại gần như có tính chất vi phạm luân lý và trái luật tự nhiên. Bởi; trong hai trạng huống của thực và giả là một thể hiện của như nhiên và một thể hiện khác là ‘dối / to lie’ mà dối là tội lỗi, là vi phạm giữa con người với con người và vi phạm qui luật của luân lý đạo đức; thế nhưng đó là một sự tự hào vô lý của con người đương đầu tới một cái gì rối ren là cái sâu sắc ở tự nó và cái gì cực kỳ xấu xa với những gì rất là ngu xuẩn. Người ta có thể dùng hai từ ngữ nầy cho thực và giả; nghĩa là đưa tới một nguyên nhân bày tỏ và đẩy nó vào trong một ‘hiệu lực / effects’ người ta cũng có thể dùng ‘cause’ và ‘effect’ trong một ý niệm trong suốt. Trong hiện hữu tự nó; ở đó không có cái gì gọi là tiếp nối bền vững của sự cần thiết hoặc những gì thuộc về tâm lý không-tự-do, đó là hiệu quả cho thấy không theo sau của nguyên nhân. Cái điều không mong muốn tự do là chuyện hoang đường, thần thoại mà trong sự thật cuộc đời chỉ muốn vấn đề mạnh hay yếu mà thôi –The ‘non-free will’ is mythology; in real life it is only a question of strong and weak wills. Rứa thì giữa thật và giả đòi hỏi một cái gì trung thực để còn lại cái gì là thực của nó. Chúng ta chỉ có cách lướt, trược khỏi những gì nhân cách đó, chúng ta đánh vỡ, chúng ta hủy diệt có lẽ chỉ còn lại thực chất luân lý đạo đức của sự thật ở chính chúng ta và chúng ta làm nên một hành trình mới. Nhưng đó là vấn đề chúng ta xử lý hôm nay. Mong muốn cuối cùng là được quyền đòi hỏi sự trở về; đó là tâm lý sẽ được thừa nhận như một chinh phục thành công, phá đi hào lủy của giả dối. Chính nhờ vào tâm lý là bước mở đầu như thiết lập để dựng nên những vấn đề tương quan giữa cuộc đời và con người. Lý giải là mổ xẻ thực hư của thật và giả; đúng nghĩa thì tất cả phát sinh từ bản chất cố cựu, là mầm mống nuôi dưỡng cho một cá tính khác biệt giữa hai sự kiện, người ta cho đó là hiện tượng di truyền ‘cha nào con nấy’ là ở chỗ đó. Ngoại trừ cha mổ heo mà con là bác sĩ là một ‘genus’ khác vốn đã có từ tiền kiếp. Căn nguyên này trở thành bệnh lý, một căn bệnh của tâm thức. Do đó; thực hay giả do từ thói quen nảy sinh. Nếu quen miệng nói láo thì những gì không còn thực mà chứa đựng vô số giả dối. Do bản chất mà có hiện tượng. Một hiện tượng thăng hoa và một hiện tượng suy đồi. Tất thảy là hiện tượng ngưng đọng, khoác lên một bộ mặt mà người ta có thể nhận diện ra cái bên trong của thực và giả một cách dễ dàng. Rứa mà vẫn có những kẻ dối lòng. Giả dối với đời còn thấy được nhưng giả dối với lương tâm là ‘ung thư linh hồn’ đau đớn vô cùng, bởi; họ không quan tâm đến sự kiện, ý thức và việc làm. Đối tượng duy nhất là thực hiện ý đồ như một yêu cầu. Nhưng họ không đặc câu hỏi: ‘đây là sự thật?’.Họ tự hỏi lòng: ‘cái gì khác ở đây là sự thật’. Không hạch hỏi, không thẩm xét về tư duy này, nhưng hành động của ‘tư duy’ gắn vào người như ung nhọt và cứ thế mà lập đi lập lại nhiều lần. Dù cho ‘Lời nói không mất tiền mua’ nhưng thể hiện một sự bày tỏ trong hành động hay lời nói. Sự lý đó đã không tạo nên nhưng có một sự chứng tỏ giữa chủ thể và khách thể. Nguyên nhân phát tiết ra dữ kiện như vậy là do nguồn cơn ở bản chất (en-soi/essence). Răng lại có cái chuyện bản chất? -Bản chất đối lập với hiện tượng (một chủ thể đang sống), đối lập với hữu hình, đối lập với ý thức con người. Cho nên chi; theo Marx: ‘bản chất và hiện tượng là một kết hợp trong con người…’ muốn ra khỏi những phạm trù thì hãy trở về với sự thật, nghĩa là có một tư duy độc lập, tức trở về với chính nó trong một trạng thái như nhiên ‘being in nature’ đó là hiện hữu vũ trụ ‘être dans le monde’ gạt phức cái giả dối ra khỏi lồng ngực để tâm hồn sống thực và tự do hơn. Nghiệm ra Descartes nói đúng; thật hay giả là TÔI hiện hữu. Răng rứa? -tư duy hiện hữu là thực thể uyên nguyên (có từ di truyền hoặc có từ bản chất) tồn lại hay tồn loạt là giữa khách thể và chủ thể. Cái chất này nó nằm bên trong, sâu lắng dưới dạng thức của tiềm thức (sub) là một thúc đẩy hay thức tỉnh ngấm ngầm. Thí dụ: người thợ bạc vốn giỏi tay nghề, khéo tay, có óc nghệ thuật cao và sáng tạo; muốn đem hàng đi bán nhưng không có cửa hàng nhờ ông bạn đồng nghiệp bán hộ nhưng so ra mặt hàng ông thợ bạc lấn tài năng của mình. Vị chi ém nhẹm không trình làng. Thì ra đó là biện chứng tâm sinh lý; có thể không bình thường hoặc có thể do từ hiện tượng vị kỷ bùng dậy từ tiềm thức của vô thức mà phải dối lòng, chớ không nói bạn có tay nghề khéo. Thành ra sự thật là sự thật, giả dối là giả dối. Tuy không thể hiện nhưng đã thể hiện qua lời nói và hành động. Tất cả hiện tượng đó là bản chất tuyệt đối, hữu thể uyên nguyên, căn nguyên tham-sân-si; rứa cho nên cái tồn lưu, tồn lại (sự thật) còn tồn lùi, tồn loạt (giả dối). Vì rứa đòi hỏi ý thức để thanh lọc quặng bẩn để thấy được trong bóng hơn. Nói vòng vo, lý giải hay mổ xẻ đều trong cái ‘non-être/nothingness/mt/trống không’ mà chỉ còn lại cái tâm-thực mới tiêu diệt những gì ngụy-tạo. Bằng không thì còn lại một tâm-tà là những gì xẩy ra giữa đời như một phát sinh. Tất thảy là do tư kỷ mà ra –Those are the egoists; mà quên đi rằng não thức bị khống chế bởi bản chất vị kỷ. Do đó không thực hiện được những gì sống thực. Giữa trạng thái ngưng đọng thể chất của thực và giả là một tự xét cho một ý thức được loại bỏ. Ý thức ngưng nghỉ là cuộc đời ngưng nghỉ.Thứ đến là mất luôn cảm thức hiện thực –To stop consciousness is to stop life. Second-handers have no sense of reality. Hiện thực của thật không có trong đời nhưng nó hiện hình trong ta, một vài nơi trong không gian để rồi xâm nhập vào hồn người.Tuy không sát nhập nhưng có một liên đới trong nhau giữa thực và giả -chỉ neo vào đó cái trống không mà thôi- Con người tự trị là biết xử thế một cách khéo léo.Nói như rứa không có nghĩa dung tha mà nói lên tấm lòng độ lượng. Xử thế nghĩa là xử lý một sự thật dẫu trước mọi hoàn cảnh (chớ không phải hùa nhau để lấy tiếng khoe khoang). Đòi hỏi như thế tất đòi hỏi cái ‘egotism’ trong ta là một hiện hữu mà họ biết lấy thực hay giả. Ghi nhận nơi đây là nói lên bệnh lý của hờn dỗi để chống lại những ý tưởng giả dối. Một cái ‘notes’ ghi nhận giữa chính và tà, giữa thực và giả để hướng tới.

Sau mấy mươi thế kỷ sự hiện hữu đã cầm giữ với học thuyết này, giáo điều nọ là duy trì chủ nghĩa khoan dung, tha thứ; là cơ bản lý tưởng. Nhân loại chỉ thuận với nó trong tư cách của thế chẳng đặng đừng, bởi; chỉ tìm thấy sự sùng kính xuyên qua mọi điều khác và mở ra một lối đi khác để chứng minh lòng danh dự ở nơi mình. Sự thật cũng thế nếu không chứng minh một cách sáng tỏ thì sự thật chỉ đem lại hoài nghi. Rứa thì làm răng để phản ảnh sự thật? Sự thật xuất phát từ tâm thực thì dẫu là gì nó đã nói lên lời chân thực ở trong đó. Giả thì rõ nét hơn nó lồ lộ trên mặt, trên tai mắt mũi họng, biểu lộ đó không qua lời nói mà thể hiện một lộ thần của ‘face talk’; hay vì danh dự mà phải gian dối(?). Sự cớ như thế trở nên một hình thức kinh khủng của vị kỷ mà thật sự cái ganh tị, hơn thua của con người vốn không có hình thành trong não thức nhưng gây ra từ cảnh giới, cấu tạo bởi vật chất vì vậy mà sinh ra nhiều biến thái, biến dị. Nghe qua như có một cái gì mâu thuẩn? –không có mâu thuẩn chi cả. Thực và giả nó đi vào phép nhị nguyên; nó song hành bên nhau cái này gọi là ‘dung thông tư tưởng’, nó tương giao với nhau mới hình thành trong con người. Cho nên thực là bẩm sinh, giả là một giao thoa không có thực. Trên thực tế; cơ bản là không đối kháng (cái này có thời cái kia không), không thuận lẽ với nhau mà phản đề giữa hữu thức và vô thức. Thực tướng là giải thoát, giả dối là tụ trong vũng lầy của điạ ngục trần gian. Theo Nietzsche cho đó là cõi ngoài của thiện tâm và tà tính (Beyond Good and Evil). Cho nên ‘đừng trụ vào mà để tâm vào’ (Lục tổ Huệ Năng) thời tất cái thực hiển lộ mà cái giả thì nhầy nhụa.


Trở về với lý nguyên nhiên để định rõ nguồn cơn thực hư giữa thực và giả. Theo kinh nghiệm triết học đó là yếu tính tâm hồn và hữu thể cá nhân; nói gọn đó là bản thể tự tại là thứ ngã vị bản thể (persona est rationalis / selfishness is egotism). Con người là một chủ thể hữu ngã: thực giả có một vị trí trong bản thể, là con vật có tri thức để nhận định, nhưng bên cạnh vật thể đã khống chế mà làm lu mờ ý thức. Một đằng là tư tưởng một đằng là bản năng; không phải bản năng tự vệ (phản xạ tự nhiên), một bản năng tự có và một bản năng danh dự (ngày nay có từ ngữ ‘nỗ’ cái đó thuộc bản năng danh dự). Nhưng Spinoza cho rằng: ‘tư tưởng và vật chất là hai lối xuất hiện của bản thể’. Nhưng tâm lý học có cái nhìn khác: ý thức và vật chất đồng hành với nhau. Con người đứng trước hiện trường sự thể đúng hay sai là phản ảnh trung thực. Vật chất đã khống chế tư duy mù quáng trước hiện vật mà trở nên thói tính (behaviourism). Giữa hai cái hướng nghịch chiều đều phát sinh từ phép nhị nguyên về hiện thực. Chỉ có con đường duy nhất là trở về với chủ thể hữu ngã là vượt thoát ra khỏi những gì hỏa mù bằng cái nhìn khách quan để đi về bản thể tự tánh. Như đã nói ở trên tinh thần vốn dĩ và thể xác vốn có là những gì thuộc tại thể là bằng cách hoán chuyển từ giả sang thực là đi qua từ kinh nghiệm sống cho một tổng hợp sáng tỏ đâu chính đâu tà. Đòi hỏi ở đây là ý thức tri giác để gạn lọc mà tìm thấy tánh không; nghĩa là không còn tị hiềm, tranh chấp thì giả dối không có chỗ đứng. Nếu nghĩ được như thế, làm được như thế thời tiếng nói nghe ra thanh thoát, nhẹ nhàng. Tất đi tới chánh quả. Đừng tới phút cuối mới xử dụng kinh điển để cầu xin. Những thứ đó không ngoài một chữ-tâm là phản ảnh trung thực; một hiện hữu tại thế của tam-giới, của ba-ngôi. Đặc biệt ý thức giữa chính và tà, giữa thực và giả là ý thức hồi hướng làm đầy cho hồn và xác được giải thoát về với thanh cao diệu vợi. Không vướng đục, không vướng tục. Đó là thuyết nhất-thể .

Giờ đây tôi biết những gì là / now I know what it is. Một ích kỷ vừa phải thôi / A self-sufficient ego. Không một vấn đề nào hơn giữa thực chất và giả tạo. Là; hai lãnh vực quan trọng và cần thiết của đời người. Đứng trước quyết định giữa hữu và vô hữu; có nghĩa là một được tồn lưu (để đời) và một phải tồn loạt (loại bỏ) để trở về với như nhiên. Hiểu được giá trị ấy; tất hiểu được thế nào tự do và tù ngục ./.


(ca.ab.yyc 15/1/2016)

SÁCH ĐỌC: ‘The Virtue of Selfihness’ by Ayn Rand. A Signet Book New American Library. New York, USA. 1971.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 02.03.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004