Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Tìm Về Cội Nguồn Việt Nam Cổ Đại

và Quy Luật Muôn Đời “Cá Lớn Nuốt Cá Bé”

của Trung Quốc Xưa và Nay









N hà nước Xích Quỷ với văn minh Lương Chử của Việt Nam cổ đại

Thời kỳ trước và sau 4.000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam được tính từ năm 2.879 trước công nguyên với nhà nước Xích Quỷ - Văn Lang – Âu Lạc – Đại Việt và tới năm 2.016 sau công nguyên với nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà dân tộc Việt Nam luôn tự hào, là một tiến trình lịch sử vô cùng gian khổ của đất nước đủ cả vinh, nhục trong đó có “mất” và “ còn” rất cụ thể và thực tế nhưng không mấy ai quan tâm và tìm hiểu rút kinh nghiệm để trường tồn.

Người ta thường nói ”Ôn cố tri tân” nhưng không chỉ “tri tân” suông mà còn phải rút kinh nghiệm và có biện pháp xử lý hay ngăn ngừa, phòng chống để không còn xảy ra và nếu có xảy ra cũng có thể đối phó và triệt tiêu.

Những nhà làm sử thời phong kiến cũng như thời hiện đại của Việt Nam đều bán tín bán nghi và không tin rằng có hay không có một đất nước Xích Quỷ thời trước Văn Lang là “Việt Nam cổ đại” rộng lớn bằng một nửa đất nước Trung Quốc ngày nay. Hay nói đúng hơn, các triều đại phong kiến phương Bắc từ thời Tần, Hán đã xâm chiếm và tiêu diệt nước Xích Quỷ, xóa tên hẳn trên bản đồ Trung Hoa từ đó đến nay. Người làm sử đã có công sưu tầm, nghiên cứu tài liệu cổ, ghi nhận và chép lại nhưng vẫn đặt nghi vấn về sự kiện lịch sử đó mặc dù là lịch sử về nguồn gốc dân tộc với một tiến trình đầy huyền thoại hay thần thoại. Sự thật là có nhưng qua nhiều thời gian khiến cho nó bị mai một và người đời sau chỉ nhớ lại vài nét được tô đậm qua truyền miệng, rồi thêm thắt cho oai hùng, cho có chất thần tiên, hơn nữa do không có chữ viết nên trở thành “truyền kỳ mạn lục”, truyền thuyết, huyền thoại và huyền sử.

Sách “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim mặc dù được viết dưới thời Pháp thuộc trước năm 1945 của chính phủ Bảo Đại - Trần Trọng Kim phản động nhưng vẫn được coi là bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đáng tin cậy và được in lại nhiều lần, được làm căn cứ cho các sách lịch sử biên soạn sau này.

Việt Nam sử lược”, ở chương mở đầu nói về Họ Hồng Bàng đã dẫn giải về cội nguồn dân tộc và lãnh thổ nước Việt Nam cổ đại là Xích Quỷ theo tư liệu và cổ sử của Trung Hoa. Sách viết :”Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Dình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.” Sách lại ghi tiếp :

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch ?) và lấy con gái Động Đình quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long quận.

Lạc Long quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng:”Ta là dòng sõi Long quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ở lâu với nhau không được, nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đưa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải”.

Tác giả bộ sách trên nhận xét :”Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đât Bách Việt. Đấy là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác được.” Đánh giá của tác giả “Việt Nam sử lược” về chuyện kể lai lịch, nguồn gốc dân tộc ta thời tiền sử lại đưa thêm ý kiến riêng tư là không phù hợp, thiếu khoa học. Ông xác định theo thực tế hiện nay đất Hồ Quảng còn lưu lại là đất Bách Việt của nước Xích Quỷ xưa mà ông lại cho là “điều nói phỏng”.

Khi chép về 18 đời vua Hùng Vương có niên đại từ năm 2879 tới năm 258 trước Tây lịch tính được 2622, trung bình mỗi ông vua trị vì non 150 năm thì ông lại đánh giá hàm hồ rằng :”Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực”.

Trong khi đó, ngày nay, các nhà viết sử hoặc nghiên cứu, khảo cổ, dân tộc học…đều xác định rằng 18 đời vua Hùng Vương là có thực bởi vì người ta tính được “18 Chi Hùng Vương”, khởi đầu là chi Cán hiệu vua Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, số năm giữ vương quyền là 86 năm (từ năm 2879 tới năm 2794 trước Tây lịch và cuối cùng là chi Quý tên Hùng Duệ Vương húy Huệ Lang, số năm giữ vương quyền 150 năm (từ năm 408 tới năm 258 trước Tây lịch) – Sách “Sổ tay Báo cáo viên năm 2005” của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương ấn hành năm 2005. Một Chi như vậy có thể gồm có một vài vị vua nữa thuộc Chi đó cho nên một Chi kéo dài trên dưới 100 năm là chuyện xác đáng.

Nhưng chúng ta không nên chi tiết hóa về niên đại của từng vị vua mà chỉ nên quan tâm tới thời kỳ của sự kiện lịch sử, văn hóa, dân tộc và lãnh thổ của triều đại, con người thuộc tổ tiên đã dày công tạo lập và giữ gìn đất nước đó. Ngày nay, chúng ta tôn thờ Quốc tổ Hùng Vương có đền thờ ở núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Vĩnh Phú tức chúng ta có niên đại mở nước từ năm 2.879 năm trước Tây lịch, nghĩa là cách nay trên bốn ngàn năm lịch sử. Nhưng đền Hùng chỉ được xây dựng thời vua Đinh Tiên Hoàng (thế kỷ X) theo tài liệu khoa học khảo cổ đã được công bố gần đây. Cột mốc thời đại Hùng Vương ứng với thời đại Viên Hiên Thị Hoàng Đế (2700-2600) của Trung Quốc trước thời đại Thần Nông (3220-3080) kéo dài qua đời Hạ 2205-1766), Ân - Thương (1776-1122), Chu (1122-256) tới Tần (221-208). Tới năm này, sử ta mới bắt đầu ghi là Tần Thủy Hoàng thời ấy đã tóm thâu lục quốc và hơn thế nữa để làm bá chủ cả đất nước rộng lớn Trung Quốc như ngày nay, trong đó có Văn Lang tức thời Hùng Vương thứ 18 bị dứt dây.

Sự tích thời Chu Thành Vương (1042-1021 tr TL) có người Việt Thường đến dâng chim trỉ trắng. Theo Việt Nam sử lược, Việt Thường là một trong số 15 bộ thuộc nước Văn Lang. Chuyện Phù Đổng Thiên vương đánh giặc Ân thời vua Hùng Vương thứ 6 (Hùng Hồn Vương) là có thật vì còn đền thờ ở Sóc Sơn huyện Đông Anh (Hà Nội) và ngày giỗ đều diễn ra ngày 8 tháng tư hàng năm tại đây.

Ch Đồng Tử và Tiên Dung là chuyện cổ tích của đời Hùng Vương thứ 3 – 2525-2253) ngày nay còn đền thờ ở Dạ Trạch – Khoái Châu (Hưng Yên) có thêm một chứng cớ về thời đại Hùng Vương. Đền thờ Kinh Dương Vương ở Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) ngày nay không thề chối cãi là vị vua đầu của 18 đời vua Hùng Vương làm nên lịch sử thời kỳ mới của Việt Nam sau khi nước Xích Quỷ bị tiêu diệt một phần lớn ở vùng đất Giang Nam ( miền đất phía dưới sông Trường Giang (sông Dương Tử) kéo dài tới sông Tây Giang (tỉnh Lưỡng Quảng) của Trung Hoa.

Thời Kinh Dương Vương mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tương thân, tương ái trong gia đình, họ tộc, quê hương, đất nước đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu chia rẽ của người nước ngoài, cùng nhân dân đoàn kết chống thiên tai, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cuộc sống. Đến năm 2792 bỗng một hôm trời sầu đất thảm, đức vua Thuỷ tổ Việt Nam thiêm thiếp về trời trong lòng tiếc thiêng vô hạn của nhân dân.

Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương là một trong những lăng mộ, ngôi đền thiêng cổ nhất Việt Nam, được nhân dân ta xây dựng và bảo vệ từ xa xưa. Nhân dân Phúc Khang có câu:

          Phúc Khang nguyên lăng miếu

          Nghĩa lĩnh cổ kinh thành”

(Lăng miếu đầu tiên tại thôn Phúc Khang kinh thành xưa ở núi Nghĩa Lĩnh).

Chính nơi thiêng liêng này được xếp vào loại miếu thờ đế vương các triều đại mỗi lần quốc khánh vua sai quan đến tế, dân đến thờ phụng.

Trân trọng những di tích có liên quan đến thời đại Hồng Bàng, ngày 2-2-1993 Bộ VH-TT (nay là Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 74/VH-QĐ công nhận di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đền thờ Kinh Dương Vương cùng với Lăng Kinh Dương Vương là di tích lịch sử văn hoá quốc gia quan trọng của vùng Luy Lâu, Kinh Bắc và của quốc gia, là dấu ấn lịch sử thiêng liêng nối sức mạnh cội nguồn dân tộc nhắc nhở con cháu luôn luôn nhớ về tổ tông.


Ngày nay, chúng ta chỉ nhìn nhận đất nước Văn Lang tồn tại trên địa bàn thuộc Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà không đả động gì tới cương vực của nước Xích Quỷ như mô tả ở trên. Như vậy, Hùng Vương thứ 18 bị mất nước là chỉ mất bấy nhiêu thôi bởi Thục Phán đổi tên nước là Âu Lạc. Còn phần rộng lớn từ thời Kinh Dương Vương thì bỏ đi đâu ? Có tài liệu cho biết thêm như sau :

Theo một số sách cổ sử, các tộc người Việt cổ (Bách Việt) lập quốc đầu tiên ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam sông Trường Giang của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt Nam. Truyền thuyết cho biết nhà nước của các tộc người Việt được hình thành từ năm 2879 TCN tại vùng Hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) tức là nước Xích Quỷ. Đến thời Xuân Thu-Chiến Quốc (thế kỷ 8 TCN đến thế kỷ 3 TCN) do các sức ép từ các vương quốc Sở, Tần ở miền bắc Trung Quốc và làn sóng người Hoa Hạ chạy tỵ nạn chiến tranh từ miền Bắc xuống nên dần dần các tộc người Việt cổ bị mất lãnh thổ, một số bộ tộc Việt bị đồng hóa vào người Hoa Hạ. Đỉnh điểm là vào thời Tần Thủy Hoàng lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía nam Quảng Đông.

Vương quốc của các tộc người Việt cổ (Xích Quỷ) thời kỳ này có thể nói đây là một liên bang lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Sơn Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam...

Những biến động trong thời kỳ này cũng dẫn tới sự tan rã của nhà nước liên minh của các tộc người Việt, từ thế kỷ 8 trước công nguyên trở đi từ các bộ tộc Việt cư trú tại các khu vực khác nhau ở miền nam sông Dương Tử đã hình thành nên các nhà nước khác nhau ở từng khu vực cũng như thời kỳ như: nước Việt, Văn Lang, Việt Thường, Nam Việt, Âu Lạc, Quỳ Việt, Mân Việt, Đông Việt,...các nhà nước độc lập này từng bước bị các vương triều của người Hoa Hạ ở miền Bắc sông Dương Tử đánh bại thôn tính, hoặc là tự nội chiến với nhau dẫn tới suy yếu. Đến thời kỳ đế chế Hán khoảng thế kỷ 1 TCN các nhà nước Việt đều bị thôn tính.

Trong đó đặc biệt có Văn Lang (của Hùng Vương thứ 18) và Âu Lạc (của An Dương Vương Thục Phán).

Thời đầu Hùng Vương thứ 1 là Kinh Dương Vương (2879-2794) ở ngôi 80 năm cai trị nước Xích Quỷ rộng lớn bao gồm một địa bàn bao la từ dưới sông Trường Giang (sông Dương Tử) xuống tận nước Hồ Tôn (Champa) gồm một nửa Trung Quốc. Nhưng tới Chi Hùng Vương thứ hai là là Lạc Long Quân thì tên nước là Văn Lang, chỉ còn lại phần lãnh địa từ Bắc Bộ tới Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Tất cả tư liệu về lịch sử Việt Nam, cho tới ngày nay đều viết lại như vậy. Vô hình chung, nước Xích Quỷ bị mất hơn một nửa thì không có sử liệu, tài liệu nào nói tới. Nhưng qua truyền thuyết ghi chép sự kiện chia tay 100 người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, thấy có 50 người lên núi phía Bắc và 50 người xuống phía Nam ra biển. Như vây, đây là biến cố làm cho đất nước Xích Quỷ bị mất đi chỉ cỏn lại một phần phía Nam cho tới ngày nay.

Chính 50 người con theo cha xuống phía Nam ra biển Nam Hải coi như một sinh tụ mới của dân tộc Việt Nam. Rõ ràng đây là lần mất nước một nửa đầu tiên mà không được nói rõ là bị ai chiếm và lý do bị chiếm. Tư liệu ở trên chỉ nói là do chiến tranh làm phân ly từ các nước lớn ở phía trên sông Trường Giang tràn xuống đánh chiếm mà người Hoa Hạ (dân tộc Hán) sinh tụ ở phía Bắc Trường Giang bao gồm vùng đất trên dưới sông Hoàng Hà, sử cổ gọi Hoàng thổ. Nói chung, có thể do ảnh hưởng dữ dội của thời kỳ Đông Chu liệt quốc và Xuân Thu chiến quốc mà ra. Sau biến cố này, các nước và dân tộc trên địa bàn Trung Hoa hầu như bị tan rã phần lớn và sinh ra nhiều nước mới như đoạn văn được ghi lại ở trên.

"Đông chu liệt quốc" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ IX - III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Đông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Đông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân Thu và Chiến Quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ) .

Thi phẩm nổi tiếng “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chuyển nôm ở vào thế kỷ XVIII dưới triều nhà Hậu Lê nước Đại Việt có nội dung mô tả cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ khi người chồng từ giả vợ lên đường đi đánh giặc theo lệnh của vua. Trong thời kỳ xảy ra cuộc nội chiến phân tranh Nam và Bắc giữa họ Trịnh và họ Nguyễn khiến cho tình hình xã hội rối reng và dân chúng đói khổ, lầm than trong đó có cảnh ly tán của nhiều gia đình nên tác giả tâm tư viết nên thi phẩm nổi tiếng này. Nhưng tác giả lại khéo léo lấy tình hình xã hội bên Trung Hoa thời kỳ chiến tranh của các liệt quốc thời Đông Chu để phản ảnh cuộc ly tán của đôi vợ chồng trẻ. Mà kỳ thực, tác giả đã liên tưởng tới cảnh chia ly thời kỳ dân tộc Việt đấu tranh chống các triều đại phương Bắc khi bị lấn chiếm lãnh thổ của nước Xích Quỷ từ Nam sông Trường Giang thuộc các tỉnh Thiểm Tây, Hồ Bắc xuống tới Hồ Nam, núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình, qua những câu thơ chua xót mô tả cuộc ra quân nhằm chống lại các cuộc lấn chiếm từ phương Bắc nhưng lại bị lùi dần về phương Nam là một cuộc di cư lớn của dân Việt cổ đại, như sau :

Hà lương chia rẽ đường này

Bên đường trông lá cờ bay bùi ngùi.

Quân trước đã gần ngoài dương liễu

Kỳ sau còn khuất nẻo Trường dương

Quân đưa chàng ruỗi lên đường

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng ?

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

Chốn Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Như ta biết, Hàm Dương là thị trấn thuộc tỉnh Thiểm Tây – Hồ Bắc (Trung Hoa), còn Tiêu Tương là hai sông chảy vào hồ Động Đình thuộc tỉnh Hồ Nam. Đây là cuộc rút lui của dân Việt khi bị dân Hoa Hạ (Hán tộc) đánh đuổi từ Hồ Bắc xuống Hồ Nam thời Kinh Dương Vương. Trường Dương có thể là Trường Giang (sông Dương Tử) do âm vần “dương” của câu thơ trên mà được viết trại “giang” ra “dương”. Thời ấy, Lạc Long quân lui bước tới hồ Đông Đình thì gặp Âu Cơ sinh ra 100 người con., rồi sau đó tiếp tục chia tay chạy xuống tới Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và cuối cùng trụ lại ở vùng Bắc Bộ lập ra nước Văn Lang. Sử ta chỉ biết và ghi nhận từ đây qua cuộc chia tay 50-50 người con. Về thời gian, sử ta ghi nhận 18 đời Hùng Vương từ năm 2879 tới năm 258 trước Tây lịch nhưng lại bỏ quan lãnh thổ của nước Xích Quỷ. Quả thật, dân tộc Việt phải tiêu hao mất 2.622 năm cho cuộc rút lui di dân mất nước này, trong đó có một số đời vua Hùng Vương. Do có sự tích Phù Đổng Thiên Vương nên ta ghi nhận có một cuộc chống trả dữ dội với giặc Ân –Thương trên đường rút lui (nhưng nhà sử học Trần Trọng Kim lại không nhìn nhận hoặc không biết tới).

Tới cuối đời Hùng Vương thứ 18, đất nước mới Văn Lang (phần còn lại của Xích Quỷ) lại bị nhà Tần (Tần Thủy Hoàng – Trung Hoa) tiếp tục tấn công sau khi tiêu diệt xong 6 nước ở phía Bắc và xây Vạn lý trường thành ngăn Hung Nô dựng nghiệp đế thống nhất lãnh thổ Trung Hoa từ Hoa Bắc tới Hoa Nam hay miền Giang Nam. Cuộc xâm lược của nhà Tần không thành công do cuộc kháng chiến ngoan cường của dân Lạc Việt và do triều đình nhà Tần có nội biến. Nghi án lịch sử thời kỳ này không rõ ràng nên không biết vua Hùng Vương thứ 18 chấm dứt nghiệp đế là vì bị hy sinh hay vì bệnh qua đời hay vì bị Thục Phán đang tị nạn ở Âu Việt láng diềng mượn quân tiêu diệt để sáp nhập hai tộc Lạc Việt và Âu Việt thành Âu Lạc ? Thục Phán chính là con vua nước Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Hoa) trốn sang Âu Việt do bị Tần Thủy Hòang chiếm mất nước. Nhân lúc cuối đời Hùng Vương suy yếu nên Phán có cơ hội phục hồi đất nước trong điều kiện và tình hình mới trên lãnh thổ nước khác, lập ra Âu Lạc từ liên minh hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt để đối phó quân nhà Tần. (Theo nghiên cứu của học giả Bình Nguyên Lộc trong sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”, NXB Bách Bộc, Sài Gòn - 1971)..

Nghiên cứu của Bình Nguyên Lộc còn làm sáng tỏ nhiều nghi án lịch sử của tiến trình văn minh của dân tộc Việt. Nói về chủng tộc Lạc Việt, nhà nghiên cứu sử học và dân tộc học cho biết chủng này có nguồn gốc từ chủng Mã Lai (tên khảo cổ học gọi Austra – Indo – Melanesiens) hay Proto-malais – Cổ Mã Lai) có nền văn minh Đông Sơn (hiện vật trống đồng), có hai đợt di cư từ Đông Nam châu Á lên tận dãy núi băng tuyết Himalaya (Bắc Ấn Độ và Tây Trung Hoa) cách đây hàng chục ngàn năm. Chủng này đi lần thứ nhất tới Himalaya rồi lan tỏa ra nhiều khu vực khắp châu Á tới châu Mỹ, trong đó có một nhóm lai với chủng Mông Cổ (tên khảo cổ học gọi Mongoloid) đi sang đông hải gặp chủng tộc Hán (Hoa Hạ - gốc người vượn Bắc Kinh) hòa nhập với đợt di cư lần thứ hai hàng ngàn năm từ Nam Á lên Bắc Á, một số trụ lại ở Trung Hoa, có lộ trình di cư như sau :

-2.000 năm cựu thạch ở Himalaya

-5 năm tân thạch ở Hoa Bắc

-2.413 năm tân thạch ở Cổ Việt

-2.587 năm kim khí ở Việt Nam.

Cộng lại : 7.005 năm. Nói cho đúng và đủ thì tộc Việt (Cổ Việt) đã có một tiến trình lịch sử hình thành dài trên 7.000 năm. Từ Himalaya còn được viết tách ra Hi- malaya, có nghĩa lãnh thổ Malaya hay Malaysia ở vùng cao.

Thời đồ đá mới (Tân thạch) ở Hoa Bắc (vùng hoàng thổ - lưu vực sông Hoàng Hà), chủng Lạc Việt chỉ dừng lại ít năm rồi bị tộc Hoa Hạ đánh đuổi phải vượt sông Hòang Hà tới Trường Giang (sông Dương Tử) trụ lại vùng Hoa Nam – đất Kinh Man (từ gốc tích này mà ngày nay có tên dân tộc Kinh để chỉ dân Việt Nam) và vùng Giang Nam (dưới sông Dương Tử hình thành nên Bách Việt. Chính nơi đây Lạc Việt trong Bách Việt sinh tụ một vùng rộng lớn từ hai phía trên dưới sông Trường Giang qua vùng Ngũ Lĩnh tới Tây Giang, làm ra nền văn minh Lương Chử.

Một tài liệu khác cho biết thêm về Cổ Việt trong thời kỳ này :

Cho tới 5000 năm trước, trên lục địa Đông Á, người Việt cổ đã xây dựng nền nông nghiệp phát triển. Do phải chung tay trị thủy hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử nên các bộ tộc nông nghiệp phải liên minh với nhau và nhà nước cổ đại hình thành từ rất sớm. Thời kỳ này các tộc du mục ở bờ bắc Hoàng Hà và phía tây tăng cường cướp phá khu vực dân cư nông nghiệp trù phú. Do yêu cầu chống xâm lăng nên sự liên minh giữa các bộ lạc người Việt, cùng huyết thống, cùng tiếng nói và văn hóa trở nên chặt chẽ hơn, hình thành nhà nước do Thần Nông trị vì. Vương quốc của Thần Nông rất rộng lớn, gồm lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo tiến trình Bắc tiến của người Việt, lưu vực sông Dương Tử điều kiện tự nhiên thuận lợi và được khai thác sớm nên có sự phát triển trước, trở thành trung tâm lớn mạnh về kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự. Do vị trí đặc biệt của nó nên vùng Lương Chử (Hàng Châu – Triết Giang) trở thành kinh đô của các vương triều Thần Nông.

(Thân nông là Tổ nghề trồng lúa nước của dân Việt bởi vì vào thời kỳ đó, chỉ có dân Lạc Việt mới biết trồng lúa nước ở khu vực này vì họ thuộc chủng Nam Á có gốc tích ở vùng sông nước di cư lên phía Bắc), trong khi Hán tộc còn sinh tụ ở vùng Hoàng thổ phía Bắc sông Hoàng Hà chưa biết trồng lúa nước mà chỉ trồng lúa mạch (lương). Do vậy, sau khi Hán tộc biết vượt sông Hoàng Hà và sông Trường Giang thì họ mới biết trồng lúa nước và tổ là Thần Nông của Lạc Việt để lại - VL).

Khoảng năm 4879, Đế Minh, hậu duệ của Thần Nông chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi cai quản lưu vực nam Hoàng Hà và Kinh Dương Vương cai quản lưu vực Dương Tử. Như trong truyền thuyết, Kinh Dương vương lập nước Xích Quỷ, địa giới phía bắc tới nam Dương Tử, phía đông là Biển Đông, phía Tây giáp Ba Thục và phía nam tới miền Trung Việt Nam.

Trong thời kỳ này, các bộ lạc du mục phía bắc tăng cường cướp phá phía nam Hoàng Hà. Tình thế này buộc nhà nước của Đế Nghi và Kinh Dương Vương và sau này là Đế Lai và Lạc Long Quân tăng cường vũ trang và liên minh với nhau chống giặc.

 Khoảng năm 4698, liên quân của các bộ lạc Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở cuốc tấn công lớn vào Trác Lộc bờ nam Hoàng Hà. Liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân chống trả ngoan cường nhưng rồi thất bại. Đế Lai tử trận. Sau thất bại này, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Nghệ An. Tại đây ông được người địa phương đón tiếp, sau đó tôn con trưởng của ông lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lập kinh đô ở Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang. Dựa vào địa giới trùng nhau của Văn Lang và Xích Quỷ, có thể cho rằng, đây là việc dời đô và đổi quốc hiệu của triều đình Lạc Long Quân. Tại kinh đô Việt Trì, các triều đình của Hùng Vương tiếp tục lãnh đạo dân Văn Lang-Xích Quỷ xây dựng đất nước và chi viện cuộc kháng chiến trường kỳ của người dân lưu vực Hoàng Hà. Khoảng năm 4300, do cuộc xâm lăng của vương triều Hoàng Đế, nhà nước Hùng Vương không còn quản lý được vùng đất này, kinh đô Lương Chử bị bỏ phế. Văn hóa Lương Chử suy vong…Sau đó, người Hoa Hạ (Tộc Hán) thuộc nước Sở đã làm chủ cả vùng có nền văn minh Lương Chử, trong đó nổi bật có gốm sứ và ngọc Giang Tây nổi tiếng của Trung Quốc.

1. Về thời điểm: văn hóa Lương Chử nảy sinh, suy đồi trùng với thời gian truyền thuyết về việc xuất hiện vua Thần Nông rồi Đế Minh chia đất, phong vương cho Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Tiếp đó và việc hình thành nhà nước Văn Lang.

2. Về địa giới: văn hóa Lương Chử phân bố rộng trong địa giới của nhà nước Xích Qủy huyền thoại.

3. Truyền thuyết về nhà nước Xích Quỷ rất phổ biến trong các tộc người phương Đông. Điều này cho thấy, chỉ duy nhất nhà nước Xich Quỷ từng xuất hiện nơi đây trong quá khứ.

4. Dân cư Lương Chử là hai chủng người Việt cổ Indonesian và Melanesian. Đó cũng chính là hai chủng người Việt từ 40.000 năm trước đi lên khai phá Trung Hoa, đã mang công cụ đá mới Hòa Bình lên, rồi sáng tạo đồ gốm đầu tiên và cây lúa đầu tiên ở di chỉ Động Người Tiên phía Nam Dương Tử.

5. Qua nhiều ký tự được khắc trên ngọc Lương Chử cho thấy, vào thời Lương Chử, chữ của người Việt đã trưởng thành. Chữ Lương Chử thô sơ hơn Giáp Cốt văn Ân Khư và có trình độ tương đương với chữ khắc trên đá Cảm Tang, cho thấy, có sự thống nhất về văn hóa rộng lớn trong quốc gia Xích Quỷ ở phía nam Dương Tử. Chữ Lương Chử, Cảm Tang là tiền bối của Giáp Cốt văn Ân Khư (chữ cổ Trung Hoa).

Đó là lý do tại sao người Đại Việt trong thời gian sau Âu Lạc có trên 1.000 năm bị các triều đại phương Bắc tiếp tục cai trị chiếm đóng đất nước mà lại có nền giáo dục sơ khai lấy chữ Hán làm ngôn ngữ chính. Phải chăng do chữ viết sơ khai của ta từ nền văn minh Lương Chử phù hợp với chữ giáp cốt sau này của Hán tộc hoặc do Hán tộc bắt chước hay kề thừa chữ sơ khai Lương Chử mà lập ra hệ thống Hán tự ?

Thời kỳ Tân thạch 2.413 năm của Cổ Việt ở nước Xích Quỷ với nền văn minh Lương Chử đã bị nước Sở và các triều đại phương Bắc gốc Hán tộc chiếm lấy để phát buy về sau. Thời kỳ Kim khí (đồ đồng – trống đồng, đồ sắt – tên của nõ thần Kim quy, lưỡi cày, liềm hái Quốc Oai) từ 2.500 năm hơn của Việt Nam cho tới ngày nay được bắt đầu từ Văn Lang và Âu Lạc. Do đó, lịch sử nước ta tính bốn hay năm ngàn năm văn hiến được kể từ văn minh Tân thạch có nền văn minh Lương Chử của nước Xích Quỷ là xác thực và phù hợp với cách tính thời kỳ của văn hóa Đông Sơn (thế kỷ thứ VII trước Tây lịch tới thế kỷ thứ I sau Tây lịch – từ Văn Lang qua Âu Lạc tới Hai Bà Trưng).


Do đó, văn minh Hán tộc đã kế thừa hay cướp của Việt tộc cách đây hơn 5 ngàn năm và họ phát huy ngày càng mạnh khi được dân Mông Cổ và dân Mãn Thanh đồng hóa. Mông Cổ lập ra nhà Nguyên tiếp tục trấn áp Đại Việt dưới đời nhà Trần. Mãn Thanh tiếp tục xâm chiếm nhà Hậu Lê bị thất bại bởi quân Tây Sơn do Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giải phon kinh đô Thăng Long đầu năm 1789. Gia Long nhà Nguyễn thay thế nhà Nguyễn Tây Sơn chịu tùng phục triều đình nhà Thanh kéo dài tới năm 1859 thì bị thực dân Pháp xâm chiếm và chịu sự bảo hộ cho tới năm 1945, từ cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 thành công, thực dân Pháp rút lui, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh.

Mặc dù quân Pháp chiếm đóng Việt Nam và chia ra ba kỳ để cai trị nhưng quân Trung Hoa vẫn tiếp tục chiếm đóng các tỉnh giáp giới như Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Do đó, giữa Pháp và Trung Hoa có nhiều lần xung đột gây ra chiến tranh ở biên giới Việt –Trung và sau đó hai bên ký kết nhiều hòa ước để giải quyết. Sau trận đánh ác liệt ở Lạng Sơn và Tuyên Quang, quân Trung Hoa chết tới 600 người, Pháp mất gần 20 người, kể cả quân Pháp phải tiến đánh Đài Loan và tỉnh Phúc Kiến, hòa ước Thiên Tân (27/4/1885) ra đời. Từ đây, chấm dứt sự chiếm đóng của Trung Hoa và quy định lại ranh giới Việt – Trung với hình thể gần như ngày nay, kể cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc về nước Việt Nam do Pháp cai trị và bảo hộ. Chính hòa ước Thiên Tân năm 1885 giữa Cộng hòa Pháp với triều đình nhà Thanh là văn bản pháp lý về chủ quyền Việt Nam thuộc nước Pháp. Sau hiệp định Geneve 1954, Pháp rút khỏi Việt Nam và chủ quyền đất nước này thuộc về chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng thừa cơ hội nước đục thả câu, Việt Nam bận rộn với cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc đem hải quân tới đánh chiếm Hoàng Sa đang thuộc miền Nam. Đây là một hành động xấu xa, đê tiện và phản phúc của chính quyền Cộng sản Trung Quốc đối với chính quyền Cộng sản Việt Nam anh em.

Từ đó đến nay, Trung Quốc ngang nhiên chiếm đóng Hoàng Sa và không ngừng mở mang, phát triển nó từ việc lập chính quyền địa phương Tây Sa đến xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố và quy mô để tới nay, xây dựng sân bay, cầu cảng, lập căn cứ phòng thủ giữa biển Đông với lực lượng vũ trang và khí tài Quân sự hiên đại như hỏa tiển phòng không trước phản ứng của thế giới, trong đó có khối Asean mà báo đài đang đưa tin. Quần đảo Trường Sa ở tận phía nam biển Đông của Việt Nam, Trung Quốc vẫn không ngần ngại chiếm đóng một số đảo gần bên và công khai vẽ đường lưỡi bò để nhằm chiếm dụng tiếp tục khu vực biển Đông. Đây là một hành động ăn cướp ban ngày theo kiều “Cá lớn nuốt cá bé”.

Chính phủ Việt Nam lên tiếng lên án, thề giới trong đó có Mỹ la lối, lên án nhưng không có hành động nào, cả ngoại giao và quân sự. Giữa lúc đó, quan chứ Trung Quốc tới Hoa Mỹ ký kết nhiều dự án thương mại có lợi cho hai bên khiền cho Obama mừng rỡ khen ngợi mà quên đi chuyện Trung Quốc hoành hành ở Hoàng Sa, Trường Sơn và Biền Đông mặc cho “Sống chết mặc bây, miễn túi tao đầy tiền !” . Ai cụng lên tiếng “hai bên nên kềm chế, cần thương lượng hòa bình”. Thế giới cứ kêu gọi “kềm chế” trong khi Trung Quốc vẫn hành động sai trái. Rốt cuộc, ai la thì cứ la, ai chiếm được thì cứ chiếm ! Chuyện của ta thì ta giai quyết chớ không thể trông cậy người ngoài. Ngay như Liên Hợp Quốc là tổ chức quốc tế còn không thể nào bênh vực thành viên của mình là Việt Nam thì còn ai nhảy vào đây nữa ? Như vậy, Hoa Kỳ hay Liên Hợp Quốc cũng giống nhau thổi !

Nói tóm lại, theo dòng lịch sử và tiến trình văn minh tộc Việt có năm ngàn năm văn hiến, kẻ thù truyền kiếp của mình là các triều đại phong kiến phương Bắc và ngày nay là chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đang tiếp tục xâm chiếm hải đảo Việt Nam ở biển Đông, sau khi thực hiện mưu đồ đánh chiếm đường bộ qua biên giới không thành công vào mùa xuân năm 1979.

Tới bây giờ thì rõ ràng Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa và đang lâm le tới bao vây Trường Sa. Họ đã xây dựng sân bay, cầu cảng và đưa vũ khí hiện đại tới lập căn cứ quân sự và lập chính quyền Tây Sa thành một quận, huyện hay đô thị thì làm sao mà trả lại cho Việt Nam, trừ khi có phép “di sơn đảo hải” mới có thể ngoại giao đòi lại. Còn thì chỉ có đánh chiếm giành lại mới xong ! Làm cách nào thì do quân đội ra tay.

Thời Hùng Vương dân Việt đã mất phân nửa nước Xích Quỷ, còn lại phân nửa đặt tên mới là Văn Lang. Sau Văn Lang là bị 1.000 năm đô hộ, coi như mất nước lần nữa vì có tên mới là An Nam (An Nam đô hộ phủ) chỉ là một phủ bị đô hộ ở phía Nam của Trung Hoa. Sau thời kỳ này, 1.000 năm sau, dân Việt mới quật khởi, chiếm lại được đất nước nhỏ bé do anh hùng Ngô Quyền đánh tan quân Hán xâm lược trên sông Bạch Đằng. Thời kỳ độc lập, tự chủ mở ra từ đó qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn cho tới thực dân Pháp xâm lược và đô hộ gần 100 năm (1859-1945). Trong khi đó, kẻ thù phương Bắc vẫn bám sát biên giới và chiếm đóng mấy tỉnh biên giới do tính tham lam cố hữu. Hơn nữa, đối với dân Việt, đó là kẻ thù truyền kiếp luôn chực chờ “xơi tái” dân ta nước Việt khi có cơ hội. Và cơ hội tốt cho họ là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, họ nhanh chóng cướp thời cơ, đánh cướp luôn quần đảo Hoàng Sa.

Một quốc gia lớn luôn luôn chực chờ xâm chiếm quốc gia nhỏ liền kề có phải là kẻ thù xâm lược hay không ? Đối với họ, đảng cộng sản anh em chỉ là danh nghĩa và bình phong. Ngoại giao chỉ là công việc quan hệ hai nước trong đối xử chớ không thể đòi được bất kỳ một tấc đất nào. Còn thế giới kêu gọi bên bị đánh chiếm phải bình tĩnh khoanh tay ngồi chờ bị mất thêm là chuyện hoang đường. Ai sẽ là người giúp Viêt Nam lấy lại đất đai, hải đảo đã bị mất ? Lại chuyện hoang đường ! Chỉ có dân Việt Nam mà thồi ! ./.


1-Nước Xích Quỷ với nền văn hóa Lương Chử :

2-Nước Văn Lang với các giai đoạn phát triển mới Phùng Nguyên, Đồng Dậu, Gò Mun và Đông Sơn :

3-Nước Âu Lạc bị ngoại tộc chiếm đóng :

4-Nước Đai Việt – thời kỳ độc lập, tự chủ:

5-Nước Việt Nam – thời kỳ nửa phong kiến và thực dân :

6-Nước Việt Nam - thời kỳ đấu tranh chống Pháp và Mỹ.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 27.02.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004