BIÊN DỊCH



TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




NGUYỄN NHẬT DUẬT











MALCOLM LOWRY
VỚI DƯỚI CHÂN NÚI LỬA



Với Ulysses của James Joyce, cũng như với A la recherche du Temps Perdu của Marcel Proust, tiểu thuyết đã chinh phục được quyền tự do kết cấu, qua đó sự sáng tạo tác phẩm không lệ thuộc một đề tài, một câu chuyện kể nào cả. tác phẩm của nhà văn là một sự phối hợp, một công trình kiến trúc ngôn ngữ, như bản nhạc là một công trình điều âm, chứ không phải là một sự tái hiện thực tế đời sống. Nếu nói cho cùng văn chương đã do con người tạo nên không thể không mang dấu vết những chi tiết sống của con người thì những chi tiết đó cũng được thăng hoa, chuyển hoá, khiến cho hiện thực và biểu tượng -- sản phẩm của trí tuệ sáng tạo -- hoà lẫn với nhau thành một chỉnh thể thống nhất trong bản thân tác phẩm. Và tác phẩm thật sự có giá trị, lưu lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng sâu sắc, độc đáo, mới mẻ, nhất thiết phải hơn là một phiên bản trung thành của đời sống , ít nhất nó cũng phải khác với đời sống . Hiện thực trong tác phẩm nhất thiết phải là hiện thực của cuộc sống chăng ? Không, không hẳn phải thế ! Tác phẩm hiện thực nhất cũng chứa đựng trong nó hiện thực cuộc sống đã được trí tuệ của nhà văn chuyển hoá thành ngôn ngữ, thành một sự kết cấu bằng văn tự đã được chọn lọc qua tâm tưởng của người sáng tác.
Trong chiều hướng vừa nêu, hiện thực và biểu tượng đã được phối hợp nhuần nhuyễn để tạo nên một công trình sáng tạo tiểu thuyết mang ý nghĩa bí truyền : Under the Volcano ( Dưới chân núi lửa ) của nhà văn người Anh Malcolm Lowry (1909-1957). Tác phẩm được xuất bản tại Hoa Kỳ, năm 1947.
Khởi đầu cuốn sách, người đọc đã đưọc đạt đúng trước ngày cuối cùng của nhân vật chính. Ngày cuối cùng sống trên đời của Geoffrey Firmin, lanh sự nước Anh ở Quauhnahnac ( nước Mê-xi-cô ). Ngày cuối đời đó của Geoffrey Firmin là ngày 2 tháng 11 năm 1938, ngày của tử vong nhân. Đó là ngày cuối của tấn kịch đã từ từ được thắt nút trong câu chuyện về một cặp vợ chồng nay đã chia tay. Ở một nơi trên đất nước Tây Ban Nha, từ nhiều năm trước họ đã gập nhau, yêu nhau và kết hôn với nhau. Chàng, lãng sự nước Anh, vóc dáng to lớn, tóc vàng tư thế đáng trọng nể. Nàng, Yvonne, một cô gái Hoa Kỳ, đam mê mãnh liệt, đầy nữ tính. Lưá đôi sau nhiều năm đã bất hoà và đi đến ly dị. Điều đó đã bị tiết lộ qua lời kể của một người bạn của gia đình, đồng thời là người kề cận lãnh sự, là Jacques Laruelle, một nhà làm phim người Pháp đã lưu lạc đến cái thành phố nhỏ này ở giữa lòng đất nước Mê-xi-cô. Chính Laruelle đã là tình nhân của Yvonne khi nàng bị những gay go trong gia đình làm cho lạc hướng. Laruelle đã đọc một cuốn sách lấy ra từ thư viện của riêng lãnh sự, trong đó chàng đã để những bức thư tình chàng viết mà không gửi cho Yvonne, người đã ra đi và biệt tích. Từ cái nền bất định đó của mấy chục trang đầu tiên, giữa những lớp sương mù, dần dần hiện ra sự thật: Geoffrey Firmin uống rượu. Từ sáng sớm tinh sương khi chàng bước chệnh choạng ra khỏi một vũ hội từ thiện địa phương cho đến lúc ngày tàn chàng bị sát hại. Geoffrey đã uống rượu téquila và rượu mescal (hai thứ đặc sản của Mê-xi-cô) nhiều đến nỗi người đọc phải bừng lên trong niềm khao khát muốn biết thật ra hương vị và "đức tính" hai thứ rượu này như thế nào. Rượi có thể là một đam mê cũng toàn diện như tình yêu đối với một người nữ hay đối với Thượng Đế. Thật ra, đam mê rượu nằm ở giữa hai đam mê kia, vì nó đã bít đường trở về với tình yêu thứ nhất nhưng nó hướng về việc khám phá ra đường lối đi tới tình yêu thứ hai. Trong một thế giới đã mất địa bàn, rượu cũng là một bánh lái hữu hiệu. Trong bài tựa cho bản dịch tiếng Pháp, Lowry đã nêu bật nhiều ý nghĩa khác nhau của tác phẩm và đặc biệt nhấn mạnh một chi tiết là trong giáo lý Kabbale (phép thần thông, pháp thuật bí nhiệm) của người Do Thái, "sự lạm dụng những quyền năng ma thuật được so sánh với sự say sưa hay với sự lạm dụng rượu" và "những cơn hấp hối của người nghiện rượu giống y nhu những cơn hấp hối của nhà thần bí đã lạm dụng quyền năng của mình".
Sau rượu từ sáng sớm, Geoffrey Firmin bắt đầu ngày cuối đời mình. Đó là ngày Yvonne đã bỏ chàng từ một năm trước nay trở lại thăm chàng ở Quauhnahuac. Nàng gặp lại ở đó người nhân tình cũ Laruelle. Ngày hôm trước, người em cùng cha khác mẹ của Geoffrey là Hugh Firmin cũng đến thăm chàng. Trong vài giờ đồng hồ, Hugh tìm cách quyến rũ Yvonne. Toàn thể tác phẩm được cấu thành 3 biến cố : Sự trở về của một người vợ đã ly dị, sự viếng thăm của một người em khác mẹ, và rồi màn kịch giống như trong truyện trinh thám. Mười hai giờ đồng hồ trong đó tất cả các sự kiện nối tiếp nhau, lập lại nhau, các định mệnh được tung ra lần cuối, cho đến chương 12 -- chương cuối của tác phẩm -- và vào giờ cuối cùng Geoffrey bị hạ gục do một ngộ nhận rắc rối trong một hoàn cảnh thật tệ hại, nhưng chàng có thể chết trong tình trạng hoà giải với chính mình. Nhìn qua toàn cảnh của tác phẩm, có thể nói đây là một tiểu thuyết mà ở đó tình yêu và rượu giữ vai trò then chốt.
Đã hẳn tiểu thuyết tình hiện diện sừng sững không thể quên được dưới ngòi bút của Malcolm Lowry và sự miêu tả chứng nghiện rượu bới nhà văn này đã thể hiện tài năng vô song của ông. Những tiếng gọi hoài công của Yvonne, những tiếng kêu tuyệt vọng của Geoffrey -- ấy là chưa kể tới Hugh va Laruelle --, ai nghe mà không xé lòng ? Nhưng chỉ những lời thật đơn giản nàu của Yvonne : " Lẽ ra cả hai chúng mình đã rất hạnh phúc " cũng đủ vượt khỏi câu chuyện : Không mấy khi tình trạng bất khả của lứa đôi được diễn tả một cách khốc liệt như thế. Cũng vậy, chứng nghiện rượu nơi Geoffrey Firmin không chì đơn giản là thói hư tật xấu, nhược điểm của cơ thể. Bác sĩ Virgil (trong tác phẩm) gọi đó là "bệnh cuả tâm hồn" và Yvonne cũng nhìn nhận: "Dù sao đi nữa, đây cũng không phải là tật nghiện rượu". Còn tiểu thuyết tình, ở đây chúng ta gặp tiểu thuyết về tình yêu. Làm sao tình yêu trần tục nhiễm vào Geoffrey được khi mà chàng có cái nhìn xuyên qua hiện thực biểu kiến, chàng đọc các nhà thấu thị và ước mơ sẽ viết một cuốn sách về trí thức bí ẩn ? Tình yêu ở đây là tình yêu gì và cơn say ở đây là cơn say đối với cái gì? Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã cho thấy Yvonne và Geoffrey mãi mãi chia lìa, bằng cách miêu tả tượng trưng, một hòn đá bị vỡ đôi. Hòn đá mang tên "la Despedida" (tuyệt vọng). Geoffrey Firmin hiểu rõ ẩn nghĩa của hình tượng này : trong đó sẵn chứa bản án rồi. Truyền thống Kabbale trong Do Thái giào chỉ rõ : AZdam nguyên thủy được Thượng Đế tạo ra có cả hai giới tính : nam tính và nữ tính đâu lưng nhau. Thế là Thượng Đế quyết định tách đôi để lưỡng tính đối diện nhau. Vậy nên phải có một nguyện tắc trung gian : Thượng Đế tạo ra tình yêu. Nếu thiếu tình yêu, sự thống nhất ban đầu sẽ bị phá vỡ, mỗi nửa sẽ chịu đựng trong tuyệt vọng, quằn quại khao khát tìm lại được nửa kia. Trái lại, nếu hai nửa giao hoà trong tình yêu, sự kết hợp chúng ảnh hường đến mọi cảnh giới và kết thúc trong hoan lạc : mọi cảnh giới nảy sinh. Quan niệm bí truyền về Toàn Thể được tìm lại ở đây : Thượng Đế là nam tính, Vũ Trụ là nữ tính, Toàn Thể do sự kết hợp giữa Thượng Đế và Vũ Trụ tạo thành; còn Hỗn Độn và Hư Vô sẽ do sự chia lìa giữa Thượng Đế và Vũ Trụ gây nên. Bởi thế, vạn vật hữu hình hữu hoại sẽ vươn tới được Toàn Thể hay rơi vào Hỗn Độn là tùy thuộc ở sự tuân phục tình yêu hay không .
Thư viện riêng của Geoffrey Firmin chứa những sách chuyên khảo về ma thuật, thuật luyện kim, về phép gọi hồn,vân vân, bên cạnh các sách thánh kinh. Tất cả đó được hòa trộn trong "một tinh thần say rực rỡ". Say do Tri Thức . Rõ ràng là Geoffrey thông tỏ thuyết trực tri thần bí : Toàn Thể và Nhất Thể chỉ nằm trong sự tái hợp hai phân thể phân ly nhờ dựa vào tình yêu. Không có tình yêu làm trung gian, người nam và người nữ không thể nhìn mặt nhau, và họ cảm nhận một cách thống thiết sự đoạn tuyệt giữa Vũ Trụ và Vô Tận. Truyện của Malcolm Lowry biểu hiện quan niệm truyền thống về tội lỗi: vườn Địa Đàng đã mất, và từ đó về sau nó là đất cấm. Geoffrey thấy mọi yếu tố của sự phóng trục tái xuất hiện trong cơn say của mình : cái gì thiên đường là bụi rậm, sự ruồng bỏ; trong một bụi rậm, đây là một chai rượu tequila, sự cám dỗ : ở đó không thiếu vắng con rắn; và sự giám sát mang dáng vẻ ông Quincey, người láng giềng tưới vườn. Các chương 2 và 3 của tác phẩm nêu bật những nét của sự lưu đầy và sự đoạn tuyệt mối quan hệ với thế giới : "Anh không còn biết yêu quý những thứ này nữa. Công viên có những chữ đề : "Các bạn có thích vườn này không ? Nó thuộc về các bạn rồi đấy ! Hãy cấm con các bạn phá vườn !" Geoffrey biến đổi câu cuối thành :"Chúng tôi trục xuất những kẻ phá hoại." Từ đó chủ đề cuốn sách của Lowry sáng rõ; vườn ĐỊa Đàng đã mất; bị phá hủy và là cấm địa. Trong số những người chứng kiến Geoffrey bị sát hại có " Quản đốc các công viên".
Yvonne không có tri thức bí truyền. Nàng giải thích việc tàn phá vườn theo bản năng. Nàng ước mơ tái lập nó ở một nơi khác. Ở một nông trại xa xôi, nàng có lẽ sẽ timé được tình yêu và sẽ cứu được Geoffrey. Nơi Yvonne và nơi Geoffrey đè nặng hậu quả của tội lỗi : bỏ rơi đồng loại. Yvonne đã bỏ rơi Geoffrey. Còn Geoffrey trong khi chỉ huy một tàu săn đuổi các tàu ngầm địch thời Thế Chiến thứ Nhất đã để mặc cho thủy thủ đoàn của mình tàn sát các tù binh địch, chàng đã làm ngơ không can thiệp chút nào. Cả Yvonne và Geoffrey đều ý thức rõ mình là người ích kỷ. Hơn nữa, trường hợp làm ngơ của Geoffrey trước vụ tàn sát tập thể tù binh kia có thể đượ coi là vô tội không, khi chính chàng là người chỉ huy trên tàu? Lại nửa, ở chương thứ 8 của cuốn sách, tác giả miêu tả một thổ dân nằm hấp hối trên đường, bị một đồng bào của anh ta sát hại. Yvonne quay mặt đi, nàng không thể chịu nổi "khi thấy máu chảy". Còn Geoffrey bảo Hugh đừng can thiệp, hãy đợi cảnh sát tới giải quyết. Chủ đề ở đây rõ rệt : Lòng bác ái không được tôn trọng, hệ quả của sự thiếu vắng tình yêu thương con người: đó là một ám ảnh lớn của tác phẩm. Cái chết của Geoffrey Firmin cuối cùng đã lập lại cái chết của người thổ dân. Chính chàng cũng bị sát hại, chết, bị bỏ rơi bên đường. Không phải chàng không nhận được bài học cuối cùng. Dù khốn khổ, lão già chơi vĩ cầm đã cúi xuống Geoffrey và gọi chàng : "Companero" (anh bạn ơi). Trước tiếng gọi trắc ẩn đó, Geoffrey cảm thấy dâng lên trong lòng niềm vui cuối cùng, "điều đó khiến chàng sung sướng". Lowry viết tiếp: "Bây giờ, chàng đang chết dần bên vệ đường, nơi có lẽ sẽ chẳng người nhân ái nào dừng lại". Chu kỳ khép lại ở đây. "No se puede vivir sin amar"-- cuộc sống là bất khả nếu không có tình yêu. Và nếu chúng ta không yêu thì tức là chúng ta không sống, và chúng ta ở trong nỗi chết. Geoffrey đã nói :"Điều tệ hại hơn hết là cảm thấy tâm hồn mình đã chết", và chàng nói thêm: "Những bí mật của tôi ở trong nấm mồ." Toàn bộ hành động chủ yếu của tác phẩm chỉ diễn ra trong một ngày duy nhất : Ngày của tử vong nhân. Những người đi đưa tang, những tục lệ tang tế, một xác chết đưa lên xe lửa, những đám tang, rồi đấy một thổ dân chết, những con chó chết, Yvonne cũng có một đứa con và nó chết, những bóng ma lang thang trong sòng bài, một quán rượu mang tên "Nấm Mồ"; Yvonne muốn săm mình, Hugh cản: "Họ sẽ đưa chị vào lòng đất đấy"; những con kên kên trên trời cao như những tín hiệu của thần chết... Người đọc được dẫn vào một thế giới ngập ngụa chết chóc. Geoffrey đã nói: "Tên của xứ sở này là địa ngục". Địa ngục của Geoffrey cũng có nhiều tầng, chẳng kém gì địa ngục của Dante Alighieri trong Divina Commedia (Thần Khúc), cho nên Lowry đã mệnh danh tác phẩm của mình là "Thần Khúc Say". Từ các tầng địa ngục, từ không gian đó, tác phẩm của Lowry còn đưa người đọc đến khái niệm về bánh xe thời gian, tức là về sự xoay vần của định mệnh. Bên cạnh James Joyce và T.S.Eliot, người đọc thấy được Lowry quan niệm sự liên tục bền bỉ của thời gian -- định mệnh liên tỉ -- là dịp để cho mọi sự nhảy múa không hỗn độn, bằng những dạng đối lập, tương liên và khẳng định tồn tại của vạn hữu trong vũ trụ. Nietzsche đã viết : "Phải chữa rất nhiều hỗn độn nơi mình mới sản sinh ra được một ngôi sao nhảy múa". Nơi Geoffrey Firmin có một niềm khao khát không tiêu mòn được. Không phải là khao khát rượu. Mà là khao khát cái tồn tại, cái tĩnh, khao khát hữu thể. Rượu, đối với chàng, không phải là thói hư tật xấu, mà là một phương tiện nhận thức. Bằng rượu, chàng hy vọng thoát ra khỏi chính mình, thoát ra khỏi thời gian tính bị tội lỗi điều khiển, thoát ra khỏi sử tính và ý thức về lịch sử. Bằng rượu, chàng thấy, làm cho mình thấy rõ, bằng đôi mắt của người thấu thị , theo nghĩa Rimbaud dành cho từ này : Với những nhà văn lớn lao hiện đại, như Joyce, Proust, T.S.Eliot, W.B.Yeats, Henry Miller, vân vân, ý chí quyền lực nhường chỗ cho ý chí xuất thần. Sự xuất thần được Geoffrey Firmin đeo đuổi một cách can trường đáng phục. Bởi vậy không thể coi Under the Volcano chỉ như một chứng thư "về" rượu trong khi nó là một tác phẩm thần bí. Nguyên ký sự phản hồi theo chu kỳ là chính tác phẩm. Bi kịch gắn với sự trở về của Yvonne, sự sát hại Geoffrey gắn với sự sát hại người thổ dân, và chàng để mặc cho người ta sát hại mình, chẳng quan tâm tới sự cứu giúp ai cả, bởi vì sự lập lại định mệnh một cách trang trọng mở cho chàng một thời gian thoát ra khỏi tội lỗi. Tuy nhiên, không có gì trong bối cảnh, dù phong phú, sinh động, thậm chí đầy màu sắc nữa, đã làm cho sự cấu tạo tác phẩm theo kiểu bí truyền lộ rõ một cách trơ trẽn. Nó có thể được chúng ta đọc trên hai bình diện : hiện thực văn chương và biểu tượng triết học. Thế nhưng nó vẫn dồi dào những hàm nghĩa vô hình, những ám chỉ và hiểu ngầm mà Joyce thường ưa thích.
Vơí cấu trúc ẩn hiện chập chờn mà lại vững chãi, tinh vi, như Divina Commedia của Dante Alighieri và Ulysses của James Joyce, Under the Volcano là một kiệt tác văn chương đầy màu sắc kỳ ảo và bất ngờ như một vạn hoa kính bằng ngôn ngữ. Marcel Proust " đi tìm thời gian đã mất" và, sau ông, Malcolm Lowry đi tìm ý nghĩa của thế giới mà từ khởi điểm thời gian đã bị tước đoạt mọi ân sủng, thế giới luôn luôn ám ảnh những nhà văn và nhà tư tưởng hiện đại trong tuyệt đối của xao xuyến siêu hình.



NGUYỄN NHẬT DUẬT

VĂN TUYỂN KHÚC ĐOẠN SẼ QUA ĐI



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC