Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VĂN MIẾU








V ăn Miếu - Quốc Tử Giám ngày trước là trung tâm giáo dục cấp cao của thời phong kiến. Căn cứ theo Phan Kế Bính trong Việt nam Phong tục thì Văn Miếu tại Hà Nội được xây dựng lên từ đời vua Lý Thánh Tôn vào thế kỷ thứ 11; tuy nhiên một số tài liệu khác (Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính) thì ngôi Văn Miếu nầy đã được xây dựng lên từ đời Sĩ Nhiếp. Dĩ nhiên qua nhiều thế kỷ, chiến tranh tàn phá cho nên đã không còn di tích nào rõ rệt để minh định.

Văn Miếu thời trước đã được xây dựng và kiến trúc khá chu đáo, thẩm mỹ. Khi Thái sư Tô Hiến Thành hưng công, dựng lên ngôi Văn Miếu (Hà Nội) thì ngài đã sai những nghệ công nổi tiếng trong nước sang tận Trung Hoa nghiên cứu chi tiết để phác họa điện đồ. Họ đã khuôn rập theo những nét đại cương về kiến trúc, điêu khắc và trang trí của đền thờ đức Khổng Tử tại quê hương của ngài (Khổng Tử), ở trong địa hạt của làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, thuộc nước Lỗ (nay thuộc địa phận của phủ Duyễn (hay Diễn) Châu, tỉnh Sơn Đông).

Một số chứng tích khác, căn cứ theo văn học Sử Việt Nam (Đào Duy Anh) thì Văn Miếu được xây dựng vào đời Hậu Lý. Nhân vật có công trong việc xây dựng này là Thái sư Tô Hiến Thành hưng công.

Văn Miếu được xây lên trong địa hạt của xã Minh Giám (sau đổi thành Thánh Giám) huyện Thọ Xương (cũ). Cũng vì tên của xã nầy cho nên còn được gọi là đền Giám (theo Toan Ánh). Cũng như những ngôi Văn Miếu khác trong nước, tại đây thờ đức Khổng Tử là chính; ngoài ra còn có những vị môn đệ xuất sắc của Ngài. Phải kể đến: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử (được liệt vào hàng Tứ Phối). Về sau, đời vua Trần Nhân Tông lại còn thờ: Tử Cống, Tử Hạ, Mẫn Tử Khiêm, Nhan Uyên... nhà những danh nho được liệt vào hàng Thập Triết; chính trong Văn Miếu lại còn bài vị của 72 vị đại đệ tử của Khổng Tử (thất thập nhị hiền).

Cũng cần phải đề cập đến hai bên về phía Tả mạc và Hữu mạc, lại còn thờ 120 vị cao hiền, tiên hiền và tiền nho (hiểu theo nghĩa thờ phượng của người Trung Hoa) đời nhà Đường, nhất là đời nhà Tống. Dưới thời phong kiến, khi Nho giáo thịnh hành, thì Văn Miếu là nơi xiển dương Nho giáo trong phép trị nước. Công trình kiến trúc, điêu khắc cũng như việc thờ cúng, lễ bái quanh năm rất chu đáo; thông thường thì mỗi năm có hai kỳ Xuân Tế và Thu Tế, nhà vua cũng như những quan đại thần, văn cũng như võ đều thi hành trọng lễ; tất cả đều thân ra tế; ngoại trừ những trường hợp bận rộn, thì phải cử các đại thần (bộ Lễ) hay Tứ trụ đại thần đến tế.

Mục đích là để tỏ rõ lòng thành kính vị "Vạn thế sư biểu" theo lối ngợi ca của Trung Hoa. Điện thờ nầy còn bảo lưu cho đến nay. Thành thử ngôi Văn Miếu tại Hà Nội được kiến trúc theo kiểu hình bình hành (tứ kiến chi đồ), trên một diện tích khang trang, rộng rãi. Chiều ngang đo được 75 thước, chiều rộng đo được 350 thước. Chung quanh Văn Miếu lại còn thêm hai lớp La Thành: Nội La Thành và Ngoại La Thành.

Chung quanh có nhiều cây cổ thụ, cây lá um tùm, quanh cảnh nhờ vậy thêm phần trang nghiêm. Nhìn chung cảnh quan nơi đây, thì quần thể Văn Miếu được chia làm 5 lớp theo kiểu "trùng thiềm, điệp ốc", ngăn chia nhau bởi những giả thành. tất cả có năm cửa chính thẳng hàng để ăn thông vào nhau. Mặt tiền của ngôi Văn Miếu thời đó nhìn thẳng ra khu phố Sinh Từ ngày nay; đằng sau là đường đi về Thái Hà Ấp. Phía ngoài cùng, ngay đường Sinh Từ là cửa Tam Quan, tức là lớp đầu tiên. Qua lớp thứ nhì thì có cửa Đại Trung Môn; hai bên Ðại Trung Môn lại có hai cửa tương đối nhỏ hơn, có tên là Đại Tài Môn và Thành Đức Môn. Theo tài liệu trong Đại Việt Sử Ký toàn thư và Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục đã ghi ba sự kiện về giai đoạn sơ khởi của Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở kinh thành Thăng Long dưới triều vua nhà Lý như sau:

Tháng 8, mùa thu năm Canh Tuất (1070) lập Văn Miếu thờ Thánh Nho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tranh Thất Thập Nhị Hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử cũng học tại đây.

Năm Ất mão ( 1075) vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên "Minh Kinh bác học" và Nho học tam trường".

Năm Bính Thìn (1075) lập Quốc Tử Giám và chọn quan viên văn chức, người nào viết chữ thì cho vào đấy học tập. Những sự kiện trên đã định hướng nền giáo dục trong thời bấy giờ và tư tưởng chính thống cho nền tư tưởng, học thuật trong thời đại bấy giờ chẳng những tại kinh đô Thăng Long, mà chung cho cả nước.

Kể từ đó trở đi cho đến đời nhà Nguyễn (1808) lại lập thêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại kinh thành Huế. Như vậy, Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long, trung tâm Nho học cấp cao cũng đã trải qua gần 1,000 năm. Trải qua nhiều thời gian thăng trầm cho đến nay, với thiên nhiên khắc nghiệt của vùng nhiệt đới, vật liệu kiến trúc không chịu được với thời gian, Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long đã bao phen hưng phế, đổ nát, lại qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, khu trường Quốc Tử Giám chỉ còn là nền đất bằng.

Văn Miếu thì còn được trọn vẹn hơn, ghi dấu chứng tích về kiến trúc, điêu khắc, vật liệu xây dựng qua nhiều đời, cũng như đã ghi lại những trang sử sống động về lịch sử Nho Học tại Việt Nam, nơi un đúc nhiều thế hệ nho sĩ, những trí thức Việt Nam ngày trước. Nơi đây vẫn còn là nơi phong cảnh tươi đẹp, di tích cổ kính, không gian tĩnh mịch giữa đô thành náo nhiệt.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám và Nho học

Nghiên cứu xuất xứ của Văn Miếu - Quốc Tử Giám phải truy nguyên từ Trung Hoa. Ở đó, Văn Miếu thờ đức Khổng Phu Tử được tôn vinh là Vạn thế sư biểu, được dựng lên trên nền nhà cũ của ông tại Khúc Phụ (nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông); còn Quốc Tử Giám Trung Hoa thì tại kinh đô Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay).

Tại Việt Nam, vào triều Lý, dựng lên Văn Miếu ở kinh thành để thờ đức Khổng Tử, rồi sau đó dựng tiếp Quốc Tử Giám ở sau Văn Miếu để dạy Nho học. Ở kinh thành Thăng Long, vua Lý đã tạo nên nét riêng: gắn bó giữa nơi thờ phụng Khổng Tử và trường dạy Nho Học cấp cao nhất ngày trước.

Trong nền học thuật và tư tưởng của chế độ phong kiến nước ta trước đây, trong hoạt động cũng như trong đời sống thực thi Nho Giáo "tiến vi quân, đạt vi sư" của Nho Giáo, hình ảnh, phẩm cách tư tưởng và trí tuệ của Khổng Tử luôn luôn được quan lại triều đình cổ vũ và soi sáng cho họ. Thành thử, Văn Miếu trở thành nơi hết sức tôn nghiêm, nhưng lại gần gủi với nho sĩ trong nước.

Danh xưng: Trong danh từ Văn Miếu, chữ "Văn" lấy chữ đầu của "Văn Tuyên Vương", vì Khổng Tử được tôn phong là "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương". Như vậy, Văn Miếu là gọi tắt của Văn Tuyên Vương Miếu.

Quốc Tử Giám thì lại có lịch sử lâu đời hơn. Sách Mạnh Thư, thiên "Đằng Văn Công Thượng" cho biết như sau: "Đời Hạ, Thương, Chu (khoảng thế kỷ thư XX đến đầu thế kỷ XVII trước Công nguyên) đã lập trường học với nhiều tên khác nhau, như "Tường", "Tự", Hiệu"... đều là nơi dưỡng giáo nhân tài trong nước Trung Hoa. Tất nhiên những trường học trong thời đó dạy cả văn chương lẫn võ nghệ.

Nhưng sách Mạnh Tử - cũng trong chương đó - đã kết luận như sau: Mục tiêu của các nhà trường là "việc học ba đời đều để làm sáng nhân luân". Khi định nghĩa và nêu phạm vi "nhân luân" thì ông lại nói đến ngũ luân tức là quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ và bằng hữu. Những quan hệ xã hội huyết thống của con người ở trình độ thoát khỏi thời kỳ mà Nho học thường gọi là "hồng hoàng", "hồng hoang"... để chuyển dần sang thời kỳ sau được gọi là "hữu biệt"...

Sách "Lễ Ký" cũng đã từng nói đến "Tự" vào thời nhà Hạ thì có "Đông Tự" và "Tây Tự". Đến thời nhà Chu, nền giáo dục tại Trung Hoa đã chia ra Quốc họcvà Hương học. Quốc học là trường học tổ chức tại kinh kỳ của Chu Thiên Tử. Hương học là trường học ở các điạ phương từ làng xã trở lên. Nhỏ hơn "Hương" thì được gọi là "Toại" (Toại học).

Thiên "Học Ký" trong sách "Lễ Ký" cũng ghi thêm rằng: Trường dạy nhà thì có Thục; đảng thì có Trường, tại thì có Tự, nước thì có Học. Như vậy trong giai đoạn nầy thì việc phân công, phân cấp về tổ chức giáo dục trong cả nước đã khá rõ ràng. cao nhất trong nước thì có "Quốc Học".

Như vậy danh từ Quốc Học từ đời nhà Chu vẫn được các thời đại về sau ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam thường dùng đến, với danh từ là "Quốc Học Viện". Về cách phân chia các cấp học cũng đã được tách ra rõ dần; đại cương phân làm hai cấp: tiểu học và đại học. Đại học thì có nhiều tên gọi khác nhau: Đại học của Chu Thiên Tử gọi là "Bích Ung"; đại học của các nước chư hầu thì gọi là "Phán Cung"; theo thông lệ thì hai loại nhà học nầy thường có xây một cái giếng lớn ở trước; thành thử nhà Đại Học còn được gọi là "Phán Thủy".

Nhiều sách sử và nhiều thiên luận thuyết viết về Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở kinh thành Thăng Long, cũng thường tả về vẻ đẹp của "Thiên Quang Tỉnh" (Giếng Ánh sáng mặt trời) với nước trong veo,in hình trời xanh, mây bạc; gác Khuê Văn là ánh sáng của văn chương.

Những triều đại sau nầy khi xây dựng hay tu sửa Văn Miếu - QuốcTử Giám đều chú ý đến việc bảo tồn "Thiên Quang Tỉnh". Vì nhà Đại Học và Văn Miếu nằm trong một chỉnh thể thống nhất, nên giếng mới đặt tại khu vực nầy; hai khu bia tiến sĩ ghi lại thành quả của việc học tập và khoa cử Nho Giáo mới dựng lên hai bên bờ giếng.Tại Văn Miếu của Thăng Long ngày xưa, chuông đồng cũng được gọi là "Chuông Bích Ung".

Những danh xưng về "Học", "Bích Ung", "Phán Cung" (Phán Thủy) của nhà Đại Học thời cổ còn qua các tên Quốc Tử Học, Quốc Tử Tự; mãi cho đến đời nhà Tùy thì mới đổi thành "Quốc Tử Giám"...

Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại Việt Nam

Cũng như những thay đổi danh xưng tại Trung Hoa, trong lịch sử phong kiến tại Việt Nam, nhà Đại Học cũng thay đổi tên gọi nhiều lần: thời nhà Lý thì gọi là Quốc Tử Giám; thời Trần thì gọi là Quốc Tử Viện, sau lại đổi là Quốc Học Viện; thời Lê gọi là Quốc Tử Giám; còn thời nhà Nguyễn buổi đầu thì gọi tên là Quốc Học, sau lại chuyển đổi tên là Quốc Tử Giám.

Dù có những thay đổi danh xưng như đã trình bày trên, nhưng Quốc Tử Giám là tên gọi phổ thông nhất. Tại Hà Nội, dân chúng thường quen gọi tên là "Nhà Giám"; có khi chỉ gọi tên suông là "Giám" nhưng theo họ vừa nôm na lại vừa trang trọng. Văn Miếu - Quốc Tử Giám vừa là nơi tưởng niệm và tôn xưng những bậc tiền hiền, cũng vừa là nơi đào tạo nho sĩ các cấp, vừa là cơ quan phối hợp chỉ đạo học hành và khoa cử ở toà Kinh Diên – nơi đặc giáo Vua và các Thái Tử. Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ngay từ khi ra đời đã được các triều đại vua chúa trước đây quan tâm xây dựng, tu bổ không ngừng, qua mỗi biến chuyển của đất nước.

Những cuộc nghiên cứu về cảnh quan vùng nầy cho biết: Quy mô địa lý ngày nay của Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn còn như là thời khởi thủy của nó, dù những tu bổ thường xuyên. Những dấu vết cũ như tấm biển đề "Hạ Mã", "Văn Miếu Môn" cho đến khu vực "Nhà Giám" đã đổ nát vẫn còn được bao bằng tường xây gạch vồ - loại gạch phổ biến của thời Hậu Lê. Tuy hệ thống tường, qua bao nhiêu lần tu sửa, nhưng khuôn viên của toàn khu thể hiện sự hợp lý của cơ cấu chung nầy.

Kiến trúc ban đầu của Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Ý thức xây dựng: Vua Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi, đã chọn thành Đại La làm chỗ đóng quân và đổi tên là thành Thăng Long. Nhiều triều đại Lý, Trần, Lê đều muốn hoạch định xây dựng quốc gia Đại Việt "không thua kém gì Trung Hoa" (bất tốn Hoa Hạ), phải sớm quyết định chọn lựa hệ thống tư duy làm nền tảng, xây dựng nên một nền văn hoá tinh thần; định ra một thể chế tổ chức xã hộivà một nền giáo dục để đào tạo nhân tài xây dựng, theo mô hình của xã hội Trung Hoa. Do đó, không còn con đường nào khác là lấy Nho Giáo làm nội dung chủ yếu của nền giáo dục quốc gia thời đó.

Tuy nhiên, những triều đại Lý, Trần, Lê đã có những chọn lựa thận trọng để hoà hợp với tinh thần dân tộc. Một mặt thì vẫn trân trọng giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong đời sống vật chất và tinh thần của làng xã, quần chúng, xã hội, cần duy trì vai trò của Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của người Việt; nhưng mặt khác thì chính thức tiếp nhận tinh hoa Nho giáo, vận dụng hữu hiệu những giá trị tinh thần của hệ tư tưởng Nho giáo, để xây dựng nền tảng quốc gia phong kiến tập quyền, xây dựng nền tự chủ, độc lập quốc gia hùng mạnh đương đầu với những sức xâm lăng từ bên ngoài luôn luôn rình rập. Cũng trong thời kỳ xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nhà Lý lại cho ban bố đạo Luật thành văn đầu tiên.

Văn Miếu qua các thời đại

Đời Lý: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: "Năm Canh Tuất, Thần Vũ năm thứ 2 (1070) muà thu, tháng tám, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ hình 72 người hiền, cử Hoàng Thái tử đến học...". Thờ người lập ra Nho giáo và mở trường dạy người theo Nho giáo là việc làm tất yếu và gắn liền với nhau, nên đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông đã cho lập Quốc Tử Giám để làm nơi học tập Nho học cho các quan viên văn chức và cử các quan "có học" đến trông nom và dạy dỗ...

Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì: Dưới triều Lý, Trần, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được sửa chữa và mở rộng nhiều lần vào những năm 1156, 1171, 1234, 1253.

Đời Trần: Năm 1236, nhà Trần gọi trường học đó là Quốc Tử Viện; sau lại gọi là Quốc Học Viện. Năm 1252, lại cho chọn cả con em thường dân nào có hạnh kiểm tốt và tư chất thông minh đến đây để theo học. Năm 1253, để giúp đỡ cho việc học hành chu đáo, đã lập thêm Ký túc xá và Thư viện. Những việc làm nầy chứng tỏ Quốc Học Viện thời Trần không chỉ hạn chế trong phạm vi con cái của triều đình quan lại, mà lại còn mở rộng ra đến các em ở các lộ, các phiên trấn xa kinh đô nữa.

Đời Lê: Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi nước, vua Lê Thái Tổ đã quan tâm ngay đến việc học tập, để đào tạo nhân tài giúp nước sau nầy. Nhà vua đã xuống chiếu lập ra "nhà Học" ở các phủ, huyện, sửa sang và mở rộng Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đổi tên là Thái Học Viện.

Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn thì: " Năm Mậu Thân, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1428) nhà vua đã hạ chiếu khắp trong nước xây dựng những nhà Học, đào tạo ra nhân tài; trong kinh đô thì có Quốc Tử Giám, bên ngoài thì lại có nhà Học tại các phủ. Nhà vua thân hành chọn con cháu các quan và thường dân tuấn tú sung bổ vào học các cục chầu cận, chầu ở ngự tiền và sung vào giám sinh Quốc Tử Giám, lại hạ lệnh cho viên quan chịu trách nhiệm tuyển rộng cả con em nhà lương gia ở dângian sung vào sinh đồ ở các phủ để dạy bảo...".

Đến năm 1483, vua Lê Thánh Tông đã sai quan lại đại trùng tu lại toàn khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Tháng hai năm 1484, lại sai Lễ bộ Thượng Thư là Quách Đình Bảo soát lại danh sách Tiến sĩ từ khoá thi năm Nhâm Tuất (1442), sai Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Đào Cử... soạn bài Ký đề bia Tiến sĩ và sai khắc tên các Tiến sĩ vào bia đá, dựng lên 10 tấm bia cho 10 khoá thi ở hai phía đông và tây, dựng thêm hai dãy nhà che bia, đồng thời làm thêm nhà Học giành riêng cho các Giám sinh.

Năm 1511, vua Lê Tương Dực sai quan lại sửa điện Sùng Nho, làm hai nhà giải vu, sáu nhà Minh Luân, nhà bếp, nhà kho, làm thêm hai nhà phía đông và phía tây, tả hữu, mỗi gian đều để một tấm bia.

Năm 1536, đời nhà Mạc, vua Mạc Đăng Doanh sai trùng tu lại Văn Miếu. Năm 1537, công việc hoàn tất, vua Mạc Đăng Dung đến làm lễ dâng hương ở Văn Miếu và viếng thăm nhà Thái Học, sai chỉnh đốn thêm những nhu cầu cần thiết tại đây. Nhưng sau đó thì tình hình nội chiến diễn ra triều miên. Sau hơn một trăm năm không được tu bổ, nhiều nơi đã bị suy sụp khá trầm trọng. Thành thử năm 1662, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã đưọc vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tạc cho đại tu toàn thể. Lần trùng tu nầy đã được thực hiện dưới sự điều hành của Tham tụng Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông Các Đại Học sĩ Yên Quận Công Phạm Công Trứ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi:- "Điện đường của nhà Quốc Học, cung tường trong ngoài nhiều chỗ dột nát, Phạm Công Trứ sửa sang thêm rất quy mô trở nên lộng lẫy... Từ đó, Nho phong được thêm gióng giả, nhân tài nhiều người thành tựu...".

Đầu thế kỷ XVII, Trịnh Cương cũng đã cho tu bổ cả Quốc Tử Giám và Võ Học Sở, nơi dạy văn và nơi dạy võ; sau đó, đã cho vời các triều sĩ vào sân phủ, bảo làm bài ký Quốc Tử Giám và bài ký Võ Học Sở. Bài Ký về Quốc Sử Quán của Trần Danh Đỉnh được xếp vào hạng nhất và được thưởng 5 quan. Bài Ký nầy có đoạn viết: “ Quốc Tử Giám được thiết lập từ lâu đời rồi, nhưng có phải chỉ đặt ra cho có hình thức suông? Bởi vì, đối với công lao của đức Khổng Tử gây dựng, tất phải lấy Quốc Tử Giám làm chỗ đất tônsùng; đối với việc giáo hoá văn minh trong thiên hạ, tất phải lấyQuốc Tử Giám làm bầu trời chấn hưng thi thố; vậy lại há không nênmở mang thiết lập chỗ đất cội gốc hay sao?"...

Hay có đoạn lại chép thêm như sau: -" Nhà Giám là chỗ để gây nuôi nhân tài mà thiên hạ không thể không có công của Nho giáo; bấy giờ mới ra lệnh cho thợ sửa sang, xây dựng: cửa ngõ đạo đức dẫu vẫn nhất nhất y theo tường vách nền cũ, nhưng xà nóc nhân nghĩa quy mô mới nổi bật vẻ cao rộng hơn, đẹp đẽ hơn. Sân và cột thì bề thế khang trang, cung thất thảy đều tráng lệ. Trên để tôn sùng đạo thống thánh hiền dưới đẩ gây dựng nhân tài tuấn tú. Lúc nhà Chúa ngự kiệu đến thăm Quốc Tử Giám thì những người cho nhà Giám là chỗ đắc sở của mình đều như nước cuồn cuộn đổ đến. Lúc đặt quan giảng dạy thì những người xin vào học đều có vẻ bay nhảy, phởn phơ, hả hê..." (Lịch Triều Tạp Kỷ).

Đến năm 1762, Trịnh Doanh lại cho tu sửa lớn Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Năm 1767, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Thị Thư, tham gia biên tập Quốc Sử kiêm chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Với chức vụ Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, Lê Quý Đôn đã miêu tả Quốc Tử Giám trong "Kiến Văn Tiểu Lục" như sau: Cửa Đại thánh ba gian hai chái, lợp bằng ngói đồng; đông vu và tây vu hai dãy đều bảy gian, đằng sau cửa nhỏ một gian; điện Canh Phúc một gian hai chái, nhà bếp hai gian; kho Tế Khí ba gian, hai chái; cửa Thái Học ba gian có tường ngang lợp bằng ngói đồng ; nhà bia phía đông và phía tây đều 12 gian; kho để ván khắc sách bốn gian; ngoài Nghi Môn một gian, có tường ngang; nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 11 gian; ở phía đông nhà Minh Luân ba gian phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và tây đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian ba người...

Năm 1785, chúa Trịnh sai Hành Tham Tụng Bùi Huy Bích trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đây là đợt trùng tu sau cùng dưới triều nhà Lê.

Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có ghi như sau: " Lúc ấy trong nước có nhiều biến cố, nhà Học bị đổ nát. Bùi Huy Bích muốn xây dựng nền văn học để giữ lòng ngưởi, bèn xin cố sức sửa sang tu bổ lại. Huy Bích lại thường đến nhà Giám giảng bài sách, luyện tập văn bài, khen thưởng khuyến khích người Nho học hiền tài, ức chế người cầu may thi đỗ. Vì thế đương thời nhiều người rất khen ngợi..."

Nhưng rồi sau đó, nhiều năm chiến tranh đã diễn ra liên tiếp tại kinh thành Thăng Long cho nên Văn Miếu - Quốc Tử Giám dã bị hưhại đổ nát.

Đời Tây Sơn khi vua Quang Trung ra Bắc dân chúng sở tại đã dăng số xin triều đình sửa sang tu bổ. Nhà vua đã phê vào tờ sớ hai câu thơ bằng chữ Nôm như sau: "Nay mai dựng lại nước nhà, Bia Nghè lại dựng trên toà muôn gian..."

Đời Nguyễn: Năm 1804, sau khi vua Gia Long lên ngôi, đã chuyển kinh đô vào Huế, Văn Miếu chỉ còn lại ở trấn Bắc Thành. Quốc Tử Giám được chuyển vào Huế. Năm 1805, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã cho tu sửa Văn Miếu và xây dựng thêm Khuê Văn Các. Về hai tấm bia trong hai bi đình trên sân Văn Miếu (Huế) ghi khắc các nội dung khá đặc biệt: Tấm bia bên trái khắc bài Dụ của vua Minh Mạng đề ngày 17 tháng 3 năm 1836 nói về các thái giám trong nội cung thì không được liệt vào hạng người có thể tiến thân; còn tấm bia bên phải khắc bài Dụ của vua Thiệu Trị đề ngày 2 tháng 12 năm 1844 nói rõ rằng bà con bên ngoại của vua không được nắm những vai quan trọng trong triều đình.

Hai nội dung nầy khiến cho ta suy nghĩ. Thái giám là những công bộc phục vụ trong cung, chịu nhiều hành hạ về thể xác, để sống chung quanh những mỹ nhân phục vua cho vua lại mất hết con đường tương lai trong công danh; còn những người bên ngoại lại không được làm quan? Phải chăng đây là di sản của chế độ trọng nam khinh nữ?

Những điều nầy lại được trình bày trong Văn Miếu dĩ nhiên là để ám chỉ những phạm trù kỵ húy trên con đường tiến thân. Còn lại 32 tấm bia tiến sĩ khác thì dựng thành hai dãy ở hai bên sân Văn Miếu, quay mặt vào nhau.

Về hình thức, tất cả 32 tấm bia nầy đều có hình rùa đội bia lên,bằng đá thanh hay đá cẩm thạch. Chiều cao của rùa bằng nửa chiều cao của bia, để làm nổi bật thân bia, nhìn được từ xa. Tuy không cao bằng những bia xây ở Văn Thánh miền Bắc, nhưng tất cả được xây điều đặn, cân đối hơn, dù thời gian tạo bia từng triềuvua khác nhau.

Xét về dạng thức của bia, trong khi những tấm bia ở Văn Thánh Hà Nội đều có đầu tròn, chuốc thẳng từ trên xuống dưới, xuống lưng ruà, thì Văn Miếu Huế lại chú trọng nhiều về trang trí từ trán bia chạy xuống thân bia và tai bia, cho nên tính nghệ thuật nơi đây phong phú hơn. Dạng thức nầy cho đến thời kỳ vua Lê trung hưng ở miền Bắc vẫn chưa có. Nếu xét toàn thể, dạng bia nầy đã khởi đầu từ tấm bia ở chuà Thiên Mụ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) dựng vào năm 1715.

Suốt thế kỷ XVIII, dạng bia nầy được dựng nhiều ở Đàng Trong cho nên triều vua Nguyễn thế kỷ XIX đã có nhiều kinh nghiệm phong phú để hoàn thành những tấm bia nổi tiếng.

Trên bia ghi đầy đủ tên tuổi và quê quán của 293 vị tiến sĩ đậu chánh bảng trong kỳ thi Đình, đồng thời cũng là những vịgóp nhiều công sức cho triều chính. Phải kể đến: Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Kham, Đinh Văn Chấp, Phạm Xuân Nghị, Dương Khuê, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Đào Nguyên Phổ, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng... Giá trị của những bia Văn ở Văn Miếu Huế được xác định rõ kỹ thuật khắc đá Việt Nam đến triều vua Nguyễn thì đã đạt được trình độ cao nhất, dù với những dụng cụ thủ công. Những lối chạm khắc, trang trí, viết chữ, hoa văn, phù điêu đã được kiện toàn đồng bộ.


Những công trình kiến trúc

Suốt trong lịch sử thời đại phong kiến tại Việt Nam, nhà Đại Học đã thay đổi nhiều lần: thời Lý là Quốc Tử Giám, thời Trần là Quốc Tử Viện sau đổi tên là Quốc Học Viện; thời Lê thì trở lại tên Quốc Tử Giám; còn thời Nguyễn buổi đầu gọi là Quốc Học, sau lạiđổi thành Quốc Tử Giám. Dù có sự thay đổi tên của cơ quan giáo dục nầy, nhưng sau cùng thì danh xưng Quốc Tử Giám vẫn được gọi phổ biến nhất.

Phần ngoại vi: Toàn bộ cơ cấu xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời nguyên thủy của nó được phân định như sau:- Phía ngoài ngoại vi tường bao, có hai tấm biển "Hạ Mã" ở hai bên xác định "mốc xuống ngựa" trước cổng để tỏ lòng tôn kính của dân chúng với cơ sở quan trọng nầy. Bốn cột trụ vuông (hai trụ trong cao, hai trụ ngoài thấp) ngang hàng với hai biển "Hạ Mã" xác định phạm vi đường đi với vườn ngoài trước cổng Văn Miếu.

Khu nầy gồm có vườn ngoài và đường đi. Bên cạnh là Hồ Văn. Đỉnh cột ghi khắc hoa văn được cách điệu, với chiều cao dựng thẳng, tất cã tạo nên cảnh quan rộng rãi, thoáng đảng.- Từ hàng trụ qua khu vườn ngoài đến "Văn Miếu Môn" (cửa Văn Miếu) xây theo kiểu tam quan. Cửa chính giữa tam quan thì cao rộng, với hai cánh gỗ kín, tạo thêm vẻ thâm nghiêm của ngoại diện. Ngày trước, chỉ những ngày đại lễ hay có trọng sự thì cửa chính mới mở; ngày thường đi vào bằng hai cửa phụ là Tả Môn và Hữu Môn. Hai cửa nầy nối tiếp với dãy La thành bao quanh. Tầng trên cửa tam quan trùm lên cửa chính giữa, gồm ba ô cửa vòm; phiá trên có mái uốn cong. Toàn khu tam quan bề thế vững vàng và trang nghiêm.

Hoạ thức: Về phần ngoại diện nầy, các trang trí, họa thức khá đa dạng. Trên nóc cổng là bức phù điêu đắp nổi cảnh trời mây nước bao la. Hai bên cổng cũng đắp bức phù điêu với hình Tứ linh. Hai bức phù diện tả và hữu, một bức trình bày cảnh "Ngư long hội tụ" (Cá sẽ hóa rồng), ý nói cảnh "Thanh vân đắc lộ" trong tương lai của các Giám sinh; bức kia đắp phù điêu thì tả cảnh "Mãnh hổ hạ sơn" (Cọp mạnh xuống núi).

Theo giải thích của Cương Mục thì: bức họa tượng trưng cho kẻ sĩ tu rèn ở toà Quốc Học sẽ trở thành bậc sĩ phu, đầy uy thế, sau nầy đứng ra giúp nước.

Tượng và câu đối: Phía bên trong của phần ngoại vi có 5 pho tượng nhỏ được đắp nổi: một vị cầm bút; một vị cầm nghiên; một vị cầm cờ; một vị cầm đèn nến; một vị cầm quạt. Bên cạnh mỗi nhân vật có một tiểu đồng theo hầu. Năm vị nầy tượng trưng cho cảnh những giám sinh vào nhà Giám học để chờ ngày nhập thế, phò vua, giúp nước, hiểu theo nghĩa thời kỳ phong kiến.

Ngoài ra chung quanh còn có nhiều câu đối. Hệ thống những câu đối ở tại khu vực của Văn Miếu là những lời hay, ý đẹp, giá trị sâu xa, nói lên văn khí hào hùng, sức mạnh bền bỉ cao lớn của đạo Nho. Vẻ đẹp và uy thế tiêu biểu của Văn Miếu, nhà Quốc học là những lời khuyên dạy, nhắc nhở giới sĩ phu phải cố gắng học hỏi đạo Thánh Hiền, học đạo và hành đạo:

Đông, tây, nam, bắc giao tư đạo,Công, khanh, phu, sĩ xuất thử đồ. Nghĩa là: Đông, tây, nam, bắc đều đạo ấy, Công, khanh, sĩ, phu từ đường nầy. Việc học tập Nho giáo phải qua từng giai đọan:

Đạo nhược lộ nhiên, đắc kỳ môn nhi nhập,Thánh tức thiên dã, bất khả giai nhi thăng. Nghĩa là: Đạo như con đường, gặp cửa thì vào,Thánh tức là trời, không thể theo bậc mà lên.Nho học là biển học mênh mông, phải kiên tâm trì chí:

Sổ nhận cao kiên, tài đắc hứa đa đạo lý,Vạn cổ chiêm ngưỡng, y nhiên nhất đại cung tường. Nghĩa là: Cao chắc bao nhiêu, mà chở được nhiều đạo lý, Chiêm ngưỡng muôn đời, vẫn một nhà học lớn ấy. Theo việc ứng xử trên đời đạo đức cương thường bao giờ cũng là nền tảng chính yếu:

Cương thường đống cán tồn thiên địa,Đạo đức cung tường tự cổ kim. Nghĩa là:Rường cột cương thường tồn tại trong trời đất, Trường học đạo đức vẫn từ xưa đến nay.

Để tuyên dương ý nghĩ to lớn của Nho giáo, nhận định của Văn Miếu và Quốc Tử Giám là phải duy trì tôn chỉ Nho giáo: Doanh hoàn trung giáo mục, ngô đạo tối tiên, vạn vũ cho xa đồng khởi kính,Toàn cảnh hội văn từ, thử đaị vị thủ, thiên thu cần tảo thượng lưu phương. Nghĩa là: Việc giáo dục trong trời đất, đạo của ta là trước nhất, mọi nơi đều phải kính phục, Trong các Miếu Văn, Miếu nầy là Miếu đứng đầu, nghìn năm hoa qúy vẫn còn thơm.

Thành thử nhiệm vụ của người Nho sĩ rất quan trọng trong xã hội bất cứ trong hoàn cảnh nào: Sĩ phu báo đáp vị hà tại, triều đình tạo tựu chi ân, quốc gia sùng thượng chi ý, Thế đạo duy trì nhi thị thử, lễ nhạc y quan sở tuy, thanh danh văn vật sở đô. Nghĩa là:Bậc sĩ phu phải báo đáp thế nầo đây với ơn đào tạo, sử dụng của triều đình, với ý sùng thượng của nhà nước,Thế đạo duy trì như thế, nơi tập trung của lễ nhạc áo mũ, nơi đô hội của thanh danh văn vật...

Trên đây là những câu đối chính, tương truyền là của Lê Quý Đôn và Phạm Công Trứ viết lên trong những đợt trùng tu triều nhà Lêcòn bảo lưu cho đến nay.Những điệu thức trang trí và văn tứ đều bao hàm một giá trị tinhthần sâu xa, tiêu biểu cho ý thức hệ Nho giáo thời phong kiến.

Khu vực chính của Văn Miếu Qua khỏi Văn Miếu môn, là khu vườn "nhập đạo" lấy theo tư tưởng trong sách Mạnh Tử mà ra. Qua khỏi khu Nhập Đạo, du khách sẽ tới cửa "Đại Trung Môn"; hai bên có hai cửa nhỏ có tên là "Đạt Tài Môn" và "Thành Đức Môn", tức là hai giá trị "Đức" và "Tài" chính là mục tiêu đào tạo của trường Quốc Tử Giám, nói lên phẩm hạnh của Nho sĩ trong mọi thời đại cần phải có.

Qua khỏi Đại Trung Môn thì đến Khuê Văn Các. Đây cũng là cổng lớn, bên dưới xây bốn cột bằng gạch hình vuông. Trên 4 cột nầy làmột gác bằng gỗ, 4 phía có 4 của sổ tròn. Gác nầy cũng có hai mái lợp ngói và có "rồng chầu mặt nguyệt" ở trên nóc. Hai bên Khuê Văn các còn có 2 cửa Bi văn và Xúc văn cùng để đi vào sân bia. Bi và xúc là hai quẻ trong Kinh Dịch nói về sự nuôi dưỡng văn chương.

Trước Khuê Văn Các là Thiên Quang Tĩnh, nhìn qua Thiên Quang Tĩnh là Đại Thành Môn; hai bên bờ tả hữu của giếng Thiên Quang là hai dãy bia Tiến sĩ đề danh. Việc dựng bia Tiến Sĩ do vua Lê Thánh Tông khởi xướng vào năm 1484 và được thực hiện vào hai năm sau đó; từ đó mỗi kỳ thi Đình lại được bổ túc thêm vào.

Hai khu vườn bia hiện nay còn khoảng 82 bia đời Lê Sơ, đời Mạc và đời Lê Trung Hưng. Nếu so với những khoa thi thì con số 82 bia nầy vẫn còn thiếu và có những dấu vết bia đã bị tàn phá qua thời gian. 82 bia Tiến Sĩ là thể hiện số người học giỏi, đỗ cao, cũng là chứng tích thành quả của Nho học từ đời nhà lê trở về sau nầy. Văn bia là những áng văn hàm súc thể hiện tài phóng bút của người viết, phản ảnh tư tưởng quý trọng những hiền tài trong nước và Nho giáo thuờng gọi họ là "nguyên khí của đất nước".

Những văn bia được che chở do những nhà bia nhưng nay thì đã hư hỏng khá nhiều. Hai khu nhà bia trước đây còn lưu lại hai bi đình nhỏ; có hai câu đối được giữ lại cho đến nay, nội dung ca ngợi quan cảnh học tập ngày xưa và sự trường tồn của những nhà khoa bảng: Xa thư cộng đạo kim thiên hạ, Khoa giáp liên đề cổ học cung. Nghĩa là:- Thiên hạ ngày nay xe cùng khổ, chữ cùng lối cung chung đạo, Nhà học xưa liên tiếp ghi tên các nhà khoa bảng.

Hay là trong hai câu sau đây: - Khoa giáo trung lai danh bất hủ, Cung tường vọng ngoại đạo di tôn. Nghĩa là: Trong khoa giáp, tuổi tên lưu mãi, Từ nhà trường, nhìn ra đạo càng cao...

Qua khỏi cửa Đại Thành Môn thì vào sân của nhà Đại Bái. Đại Bái Đường là một toà nhà có 9 gian, chạy song song với toà Thượng Điện. Hai dãy Tả vu và Hữu vu vuông góc với Đại Bái Đường; hai dãy nầy vốn là nơi để các khám thờ "Thất Thập Nhị Hiền" tức là 72 vị đệ tử lỗi lạc của đức Khổng Tử.

Tại Đại Bái Đường, ngoài những vẻ đẹp của nghệ thuật kiến trúc, còn là hệ thống văn tự để suy tôn đức Khổng Tử và Nho Giáo. Những đại tự tại đây như: Vạn thế sư biểu (Vị thầy tiêu biểu muôn đời) Đức tham thiên địa (Đức Nho giáo tham gia cùng trời đất). Đạo quán cổ kim (Đạo Nho trùm khắp cổ kim). Phúc tư văn (Phúc của nền văn ấy (tức là đạo Nho).

Việc thờ phụng trong Văn Miếu cũng giản dị. Từ ngày thành lập, vua Lý Thánh Tông đã cho đắp tượng Chu Công và Tứ Phối, vẽ tranh về tượng Thất Thập Nhị Hiền, bốn mùa cùng tế. Trong điện thờ, ngày nay vẫn còn đủ bài vị Chu Công, tượng Khổng Tử và Tứ Phối: 1- Phục Thánh (Nhan Hồi hay Nhan Uyên) 2- Tông Thánh (Tăng Sâm) Thuận Thánh (Khổng Cấp). Á Thánh (Mạnh Tử).

Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì: đến đời nhà Trần, lại còn phối thờ các nho sĩ người Việt như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Đỗ Tư Bình; nhưng đến thời nhà Lê thì hai nhân vật Trương Hán Siêu và Đỗ Tư Bình đã bị chỉ trích; chỉ còn lại việc thờ Chu Văn An.

Văn Miếu và Đại Thành Điện là hai dãy nhà dài bằng nhau, mỡi dãy có 5 gian 2 chái, xây cất theo kiểu các ngôi đình lớn ở xứ ta trước đây. Các điện nầy đều có mái lợp ngói, hơi cong. Trên nóc và các góc mái đều có hình rồng. Sau Văn Miếu có một cửa hậu đi vào khu vực Quốc Tử Giám. Khu vực nầy phía trước có một sân rộng, có miếu thờ Thổ thần và 4 cái nghiên mực bằng đá tiêu biểu cho sự học hành.

Kiến trúc chính của khu nầy là điện Khai Thành. Điện nầy gồm có 2 dãy nhà 3 gian 2 chái cất liền nhau thành một lớp học rộng để làm chỗ giảng sách. Hai bên sân ở phía trước điện có hai nhà ngang dùng làm chỗ cho nhân viên trông coi trường. Quốc Tử Giám ngoài cửa mở về phía Văn Miếu còn có một cửa nhỏ mở về phía Đông để học trò ra vào gần hơn và phải đi qua khu Văn Miếu.



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 26.02.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004