Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Arnold Schoenberg     (1874-1951)


 

NHẠC SĨ ÁO VỚI TRƯỜNG PHÁI 12 ÂM 


                  ARNOLD SCHÖNBERG                            







A rnold Schoenberg sinh ngày 13 tháng 9 1874  trong một gia đình Do Thái trung lưu ở Obere Donaustraße 5  Leopoldstadt  của Vienna. Cha ông Samuel, một người gốc  Bratislava  là chủ một cửa hàng và mẹ là giáo viên dạy piano. Ngay từ khi 8 tuổi, ông đã học chơi violin, viola, cello và đã tự tìm tòi sáng tác các trio, duo để hòa tấu cùng các bạn mình. Sau này Schönberg học thêm với nhạc sỹ khá nổi tiếng của Áo lúc bấy giờ là Alexander von Zemlinsky trong một thời gian ngắn.  Ông là một trong số hiếm hoi các nhạc sỹ thành danh bằng con đường tự học.

Ngay từ nhỏ Schönberg đã đặc biệt ngưỡng mộ Brahms, Wagner cũng như các nhà soạn nhạc thời kỳ hậu lãng mạn là Richard Strauss và Gustav Mahler. Các sáng tác thời kỳ đầu của Schõnberg như  Gurre-Lieder và Verklärte Nacht, Op. 4 chịu khá nhiều ảnh hưởng của các nhà soạn nhạc này.

 Gurre-Lieder là một oratorio rất nổi tiếng viết cho ca sĩ solo, hợp xướng và dàn nhạc chịu nhiều ảnh hưởng của Wagner, Strauss và Mahler. Tác phẩm gồm 3 phần lớn và phần thứ tư có tiêu đề “Des Sommerwindes wilde Jagd” dựa trên lời thơ của nhà văn Đan Mạch Jens Peter Jacobsen. Thực ra vào năm 1900 ông đã viết một số lied cho tenor, soprano với phần đệm piano để tham gia một cuộc thi sáng tác, sau đó ông quyết định phối lại cho hợp xướng và dàn nhạc cũng như viết các khúc dạo liên kết chúng lại với nhau. Tác phẩm được hoàn thành năm 1911 và được công diễn lần đầu tại Vienna vào ngày 23 tháng 2 năm 1913 dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Franz Schreker. Tác phẩm được nhạc trưởng Leopold Stokowski thu âm lần đầu  tiên và đây cũng là tác phẩm yêu thích của các nhạc trưởng sau này như Simon Rattle, Ricardo Chaily, Pierre Boulez

Verklärte Nacht, Op. 4 viết năm 1899 cho 6 đàn dây là một trong những sáng tác đầu tiên của Schönberg lấy cảm hứng từ bài thơ cùng tên của Richard Dehmel. Khi được trình diễn lần đầu vào ngày 18 tháng 3 năm 1902, tác phẩm một chương này gây ra phản ứng khá mạnh từ các nhà phê bình âm nhạc Vienna bởi những quãng nghịch và vì toàn bộ tác phẩm không hề có một giọng trung tâm. Tuy nhiên tác phẩm với sức biểu cảm mãnh liệt này lại giành được không ít cảm tình từ giới yêu nhạc và Schönberg quyết định phối lại cho dàn nhạc dây và nó trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể kỷ 20.

Ngày 7 tháng 10 năm 1901, Schönberg kết hôn với Malthide Von Zemlinsky, em gái của người bạn cũng như thầy của mình và họ chuyển đến sinh sống tại Berlin. Đây là quãng thời gian vô cùng khó khăn với đôi vợ chồng trẻ. Schõnberg phải kiếm sống bằng việc phối khí các opera cũng như operetta của các nhà soạn nhạc khác và phải tạm dừng sáng tác Gurre-Lieder.

Tại Berlin, Schönberg cũng tham gia chỉ huy các buổi hòa nhạc của một nhóm các nghệ sỹ tiến bộ của Berlin lúc bấy giờ có tên là Uberbrett và nhận dạy thêm tại Stern Conservatory. Cũng chính tại đây ông gặp nhà soạn nhạc danh tiếng của thành Vienna Richard Strauss và Strauss đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác  bản thơ giao hưởng Pelleas und Melisande (1902) dựa trên vở kịch của Maurice Maeterlinck.

Năm 1903, Schönberg trở về Vienna,  ông đã gặp Mahler khi Mahler đến xem buổi diễn tập Verklärte Nacht của nhạc trưởng Rose. Tình bạn giữa Gustav Mahler và  Arnold Schönberg là một mối quan hệ khá đặc biệt vì mặc dù rất quý mến và thường xuyên qua lại với nhau nhưng họ chưa bao giờ có cái nhìn chung về âm nhạc. Phương pháp sáng tác của Schönberg ảnh hưởng mạnh mẽ  đến các học trò của ông như Alban Berg, Anton Webern, Hanns Eisler… và là tiền đề cho các nhạc nhạc sỹ hiện đại sau này như Pierre Boulez, Karlheinz Stockhausen, Luigi Nono, Milton Babbitt... Schönberg còn là tác giả của hai cuốn sách khá nổi tiếng được sử dụng khá rộng rãi trong các nhạc viện là “Theory of Harmony” (Lý thuyết hòa âm) và  “Fundamentals of Musical Composition” (Nguyên tắc cơ bản của sáng tác âm nhạc). Các nhà soạn nhạc khác như Nikolai Roslavets, Josef Matthias Haue cũng đã phát triển hệ thống 12 âm cùng lúc với ông, thậm chí Charles Ives đã có những  thử nghiệm  từ trước đó.

 Là nhạc sỹ tiên phong của thời đại mình, Schönberg đã phải chịu rất nhiều chỉ trích, thậm chí tẩy chay của các đồng nghiệp.  Năm 1918 ông cùng các học trò mình lập ra tổ chức “Society for Private Musical Performances” (Hiệp hội trình diễn âm nhạc tư nhân), nơi giao lưu cũng như biểu diễn các tác phẩm đương đại. Tổ chức này thực sự là nơi nâng đỡ nhiều nhạc sỹ trẻ tài năng như Alban Berg, Webern cũng như giới thiệu các nhạc sỹ ít được biết đến tại châu Âu lúc bấy giờ như Scriabin, Debussy, Mahler ...

 Ngày 30 tháng 1 năm 1933,  Hitler lên nắm quyền và bắt đầu chiến dịch bài Do Thái. Mặc dù là một nhân vật nổi bật trong giới âm nhạc Áo lúc đó, Schönberg vẫn bị buộc phải nghỉ dạy tại nhạc viện. May thay đúng lúc đó Schönberg được nhạc viện Malkin ở Boston mời sang Mỹ giảng dạy và thậm chí còn tổ chức một cuộc thi sáng tác mà những người thắng cuộc sẽ được cấp học bổng để theo học với ông.

Ngày 31 tháng 11 năm 1933, ông cùng gia đình đặt chân đến New York và nhận đuợc sự quan tâm đặc biệt của báo giới bởi với người Mỹ ông được biết đến như là nhạc sỹ “nổi loạn” của thành Vienna .Tại Mỹ ông có buổi biểu diễn đầu tiên với Boston symphony Orchestre vào tháng 1 năm 1934 và ít lâu sau đó chỉ huy chính tác phẩm Pelleas und Melisande – dựa theo vở kịch đề tài tình yêu Pelléas và Mélisande của tác giả Bỉ viết tiếng Pháp Maurice Maeterlinck - của mình trước giới yêu nhạc ở Boston. Tuy nhiên do không chịu được cái lạnh ở miền Tây, ông chuyển đến Los Angeles, dạy tại University of California và bắt đầu  sáng tác trở lại.

Arnold Schönberg cho xuất bản 4 tứ tấu.  Qua các sáng tác này ta có thể thấy rõ sự thay đổi trong ngôn ngữ âm nhạc của ông.

 Tứ tấu đàn dây No. 1 viết trong giai đoạn 1904 đến 1905 chỉ có một chương duy nhất với những cảm xúc mãnh liệt của chủ nghĩa lãng mạn gợi nhớ đến âm nhạc của Wagner và Brahms.

Bản tứ tấu số 2:  Chương 3 và 4 khá đặc biệt khi có thêm giọng soprano hát lời thơ của Stefan George. Ba chương đầu của bản tứ tấu này đều có giọng trung tâm với ngôn ngữ quen thuộc của chủ nghĩa hậu lãng mạn (Post Romantic) nhưng chương cuối cho thấy những cách tân ban đầu của Schönberg trong việc phá bỏ hệ thống giọng điệu.

 Bản tứ tấu số 3 viết khi Schönberg đã định hình ngôn ngữ 12 âm của mình với giai điệu khó nắm bắt sự cách tân trong sử dụng tiết tấu, một nét  đặc trưng của âm nhạc hiện đại.

Bản tứ tấu số 4 cũng sử dụng ngôn ngữ 12 âm nhưng Schönberg chú trọng đến phần giai điệu hơn và gần với ngôn ngữ  “free atonal” mà học trò của ông là Alban Berg thường dùng.

Năm 1941, Schönberg chính thức trở thành công dân Mỹ. Năm 1945 ông bị đau tim nên phải ngừng dạy học và chỉ tập trung vào sáng tác. Ông mất ngày 13 tháng 7 năm 1951 tại Mỹ.

                                  

     VẠN SỰ KHỞI ĐẦU NAN

Nếu Mahler là đại diện tiêu biểu của thời hậu lãng mạn thì Schönberg luôn muốn sáng tạo nên một thứ âm nhạc hoàn toàn mới, hoàn toàn đoạn tuyệt với chủ nghĩa lãng mạn hay chủ nghĩa dân tộc như các nhạc sỹ cùng thời lúc bấy giờ. Có thể nói Schönberg là người đưa âm nhạc sang một giai đoạn phát triển mới khi phát triển ngôn ngữ âm nhạc phi giọng điệu (atonal music) bằng hệ thống 12 âm (hay còn gọi là serial technic). Các nhà soạn nhạc khác như Nikolai Roslavets, Josef Matthias Haue cũng đã phát triển hệ thống 12 âm cùng lúc với ông. Tuy nhiên phải đến Shoenberg, kỹ thuật 12 âm thực sự mới lên đến đỉnh cao và tạo nên một trào lưu, trường phái. Schönberg kể những gian nan ban đầu: “Trong suốt 13 năm phát triển phong cách riêng của mình, vốn rất xa lạ với mọi người, tôi đã phải đấu tranh cho mỗi tác phẩm mới của mình.” Âm nhạc của Schönberg bắt đầu được đón nhận trở lại với  Thơ giao hưởng Pelleas und Melisande  được biểu diễn lần đầu tại Berlin và đặc biệt là oratorio Gurre-Lieder ra mắt tại Vienna vào ngày 13 tháng 2 năm 1913 được tán dương nhiệt liệt.

Ngày nay, Schönberg được nhắc đến không những là một trong những nhạc sỹ tiên phong của thế kỷ 20 mà còn là nhà sư phạm lỗi lạc đã tạo nên một trường phái  kỹ thuật 12 âm – trường phái riêng biệt trong lịch sử âm nhạc,  tạo nên thế hệ nhạc sỹ trẻ đầy tài năng cho châu Âu và nước Mỹ.

 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 26.02.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004