Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






NGUYỄN BỈNH KHIÊM -

NHÀ THƠ LỚN BÓNG TRÙM NHIỀU THẾ KỈ






Ủy viên Hội đồng Thơ Hội nhà văn Việt Nam




Bài đọc tại buổi Lễ kỉ niệm Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm tại Văn miếu Mao Điền tỉnh Hải Dương do 2 tỉnh thành Hải Dương và Hải Phòng tổ chức ngày 12 /01/2010 ( 28/11/ Kỉ Sửu) tại sân Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã thi đỗ Hội Nguyên, Đình Nguyên rồi được chọn là Trạng Nguyên năm 1535, nhân 425 năm ngày mất của ông.



N guyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỉ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc. Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập theo ông cho biết là có khoảng 1000 bài, nay còn khoảng 700 bài. Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập, chính ông ghi rõ là ông sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, chúng ta không biết có bao nhiêu bài, hiện còn khoảng 170 bài, trong đó vài chục bài lẫn với thơ Nôm Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Có nhà nghiên cứu cho rằng những bài này là từ thơ Nguyễn Trãi chép sang, căn cứ vào tính khu biệt của thơ hai đại gia. Nếu có thì điều ấy cũng dễ hiểu, vì cuộc đời và tâm trạng của hai ông có một số nét tương đồng, và thơ của hai thi hào mà chúng ta đọc hiện nay, đều do người đời sau sưu tập lại.

Ngày nay, đọc lại thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta thấy nổi lên rất rõ bốn điều sau:


Một: Nội dung quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chữ nhàn. Chữ nhàn cũng đã xuất hiện trong thơ Chu An, Nguyễn Trãi, và một số nhà thơ khác. Đây là một xu hướng sáng tác văn chương của các sĩ phu ở nhiều thời kì, thể hiện sự bất hợp tác với chính quyền phong kiến và sự phủ nhận hiện thực thối nát của xã hội đương thời. Vì thế, giá trị khách quan của nó là tích cực. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ nhàn trở thành một ám ảnh nghệ thuật, bởi nó không chỉ bộc lộ những tâm trạng riêng của ông, gắn liền với thời cuộc, mà còn thể hiện một quan niệm triết học của ông, một cách ứng xử của ông trước cuộc đời:

Phiền hiêu bế khước lợi danh quan

Liêu ngụ nhàn trung dưỡng đắc nhàn

Thơ chữ Hán: Trung Tân quán ngụ hứng

(Khép cửa ải lợi danh, ồn ào phiền não lại

Hãy gửi gắm vào trong cảnh nhàn để nuôi dưỡng thân nhàn)

Cũng ý ấy, ông viết trong Thơ chữ Nôm: bài số 8

Thấy dặm thanh vân bước ngại chen

Được nhàn ta xá dưỡng thân nhàn

Trong quan niệm của ông, nhàn là giữ mình cho trong sạch, cũng là cách để bảo vệ khí tiết của nhà nho và phẩm giá của con người:

Yếm khan trọc thế đấu phù vinh

Tân quán thâu nhàn ngã độc thanh

Thơ chữ Hán: Ngụ hứng

(Chán nhìn trò, đua chen vinh hoa hão, ở cái đời vẩn đục này

Thâu cái nhàn trong quán Trung Tân, riêng ta trong sạch)…

Nếu chỉ căn cứ vào những câu thơ như thế, chúng ta có thể nghĩ là ông có tư tưởng thoát li, quay lưng lại với cuộc đời, trong khi ông vốn là người hết lòng phò tá nhà Mạc, tận tâm với nước, quan tâm sâu sắc tới thời cuộc và số phận của nhân dân. Theo Phả kí của Vũ Khâm Lân (đỗ tiến sĩ năm 1727), thì ông xin trí sĩ năm 1542, khi mới 51 tuổi, nhưng năm 1557, 66 tuổi, ông còn giúp vua Mạc, đi xuống Sơn Nam dụ Nguyễn Quyện, đã đầu hàng nhà Lê lại quay về giúp vua Mạc. Trong thơ chữ Hán, nhiều bài ông thuật lại bản thân mình, không quản tuổi già, nhiều lần tham gia chinh chiến để dẹp loạn, giúp vua Mạc ổn định tình hình. Theo Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn (1726 – 1784), sau khi về hưu, ông còn được vua Mạc khởi phục làm Công bộ Thượng thư. Ông đặt nhiều hi vọng vào nhà Mạc, về tư tưởng cũng là một yếu tố tiến bộ. Ông coi triều đại mới như Mặt trời mặt trăng mở ra vũ trụ mới ( bài Hạ ngự giá thượng kinh) để Dân được sống trong khí xuân gió hoà ( bài Phong)… Vì thế, nội dung chữ nhàn trong thơ ông phức tạp hơn các nhà thơ khác, và nét chủ yếu không phải là tiêu cực mà là phép hành tàng của nhà nho trong lẽ xuất xử trước thời cuộc mà thôi.

Hai: Nét đặc sắc nhất trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chất triết lí và giáo huấn. Ông là một nhà triết học. Với ông, thơ trước hết để bộc lộ tư tưởng, mang tính giáo huấn rõ rệt. Toàn bộ cảnh vật được phản ánh trong thơ ông, đều được nhìn bằng con mắt của nhà thơ triết lí, dù là cảnh thiên nhiên như sông núi, ao hồ, vườn tược, cầu đường… cảnh xã hội như chợ búa, chùa chiền , học hành, hiếu hỉ…các vật quen dùng như mâm bát, chày cối, giấy mực, lọng dù…Mỗi bài thơ là một cách nhận biết thế giới của ông, thấm đượm tư tưởng triết học của ông, phục vụ cho một ý tưởng hoặc mục đích nhận thức của ông. Đọc thơ ông, tôi chợt nghĩ rằng, có lẽ ông là người đầu tiên nhận ra chức năng công cụ của thơ, và ông đã thực hiện chức năng công cụ đó, một cách thật xuất sắc, để lí giải, để nhận biết và để giáo dục tuyên truyền cho cái đạo của mình. Nói như thế, không phải là ông hạ thấp giá trị của thơ mà là tăng tính hữu ích của một thể loại nghệ thuật, nhạy cảm và tinh tế, thường gắn với trăng gió và cái hư huyền của cõi thế gian, để trả nó về với đời sống thường nhật. Và như thế, trong thơ Việt Nam, có lẽ ông là người sáng lập ra loại thơ diễn giải minh hoạ và tuyên truyền, mà sau này ta thấy càng ngày càng phổ biến trong nền thơ hiện đại, chảy thành một dòng lớn trong thơ Việt Nam thế kỉ thứ XX, với nhiều tác phẩm xuất sắc của những tên tuổi lớn.

Ông thẳng thắn trình bày các quan điểm triết học. Đây là sự tương sinh, tương khắc:

Làm người chớ thấy tài mà cậy

Có nhọn bao nhiêu lại có tù

Thơ chữ Nôm: bài 11

Ông khẳng định sự thống nhất của các mặt đối lập trong quá trình cuộc sống biến cải:

Thế gian biến cải vũng nên đồi

Mặn ngọt chua cay lẫn ngọt bùi

Thơ chữ Nôm: bài 77

Và lẽ hưng phế của thời đại, tồn tại ngoài ý muốn của con người:

Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa

Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi

Thơ chữ Nôm: bài 52

Ông nhận ra lẽ cơ màu của tạo hoá và mệnh trời:

Cổ vãng kim lai niên hựu niên

Tử sinh hữu mệnh khởi vi thiên

Thơ chữ Hán: Tự thán

(Đời xưa qua rồi, đời nay lại đến, năm này rồi lại sang năm khác

Sự chết sự sống có số mệnh, không trái được ý trời đã định)

Đặc biệt, lẽ đời, nhân tình thế thái, được ông trình bày vô cùng đa dạng, phong phú, có đủ các mùi vị, sắc thái. Đây là một đóng góp đặc sắc và có thể nói là độc đáo của ông trong thơ Việt Nam, tạo thành một từ trường, khiến ông thở thành một trong những ngọn núi lớn của thi ca dân tộc. Ở đây, màu sắc triết học đã tan vào cảnh vật và tâm trạng, làm cho nó có sức lan toả xa rộng, bền vững lâu dài. Nhiều câu thơ của ông ở loại này đã trở thành danh ngôn, thành ngạn ngữ, có cuộc sống riêng, độc lập với chính người đã sinh ra nó. Không phải nhà thơ nào cũng có diễm phúc như vậy.

Hãy nghe, ông nói về thời thế:

Có thủa được thời mèo đuổi chuột

Đến khi thất thế kiến tha bò

Thơ chữ Nôm: bài 81

Và thế thái nhân tình:

Thớt có tanh tao ruồi đậu đến

Ang không mật mỡ kiến bò chi

Thơ chữ Nôm: bài 58

Hoặc tương tự:

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng

Khi giầu chẳng hỏi, hỏi thời quen

Thơ chữ Nôm: bài 5

Ông rất coi trọng tính giáo huấn và lúc nào cũng rõ ràng. Ông dặn người làm quan: Nếu được tin dùng thì phải rất thận trọng:

Lành dữ lòng người khôn biết

Được sủng xin chớ thờ lơ

Thơ chữ Nôm: bài 27

Ông nhắc người đời phải biết khiêm tốn, biết giấu mình, chỉ nên giỏi một thứ thôi. Cậy mình cái gì cũng hơn người thì chỉ chuốc lấy tai hoạ:

Làm người hay một chớ hay hai

Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài

Thơ chữ Nôm: bài 65

Những vấn đề về đạo lí, lớn thì là trung quân, ái quốc, tiết nghĩa, nhỏ thì là tình thầy trò, cha con, anh em… đều được ông viết thành thơ, với ý thức tuyên truyền không hề giấu giếm. Ông có ý thức phục hồi những giá trị của đạo lí và dùng văn chương để giáo dục mọi người, hi vọng nhờ thế mà xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

Ba: Nỗi niềm luôn thao thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm là quan tâm đến đời sống của nhân dân, nhất là ở những nơi thôn dã. Trong bài thơ chữ Hán: Tăng Thử, ông bầy tỏ sự thông cảm sâu sắc đối với cảnh lầm than của nhân dân (dịch):

Ngoài đồng chỉ có nắm lúa khô

Trong kho không còn hạt thóc thừa

Người nông dân khó nhọc và than thở

Người cày ruộng gầy ốm và khóc lóc

Đặc biệt bài thơ Cảm hứng, dài đến 300 câu, ông nêu lên bao nhiêu cảnh đau lòng, chết chóc, đói khổ, áp bức, loạn lạc, biệt li. Ông phê phán rất gay gắt chiến tranh, nhân dân luôn chìm đắm trong máu lửa, hết giặc lại cướp, đói khổ liên miên và ông qui trách nhiệm là tại nhà cầm quyền. Cái nhìn hiện thực này là điều, trong thơ Việt Nam trước ông, chưa từng có (dịch):

Dắt vợ bế con đi

Lưu li đến nỗi vứt bỏ cả con trẻ

Già ốm lăn xuống ngòi rãnh

Chết đói nằm đầy cổng làng

Chẳng khác chim bị đốt cháy mất tổ

Giống hệt như con cá mè đỏ đuôi (chết)

Lúc ấy như thế là cùng cực

Dân sống rất tiều tụy…

Và như thế, ông đã đứng hẳn về phía nhân dân. Thơ ông toát lên khát vọng hoà bình, bắt nguồn từ cuộc nội chiến mang đến cho nhân dân đau thương, li tán và đói khổ. Từ thực tế của những bài học lịch sử, ông hiểu ra rằng:

Cổ lai quốc dĩ dân vi bản

Đắc quốc ưng tri tại đắc dân

Thơ chữ Hán: Cảm hứng

(Từ xưa đến nay, nước lấy dân làm gốc

Được nước nên biết là ở chỗ được lòng dân)

Bốn: Đóng góp nghệ thuật có giá trị của ông là phát triển ngôn ngữ dân tộc trên chặng đường hoàn thiện. Điều này thấy rất rõ qua thơ Nôm. Ông có công Việt hoá những điển cố rút ra từ sách vở Trung Hoa, ngôn ngữ thuần thục, giản dị, theo hướng tiếp thu lời ăn tiếng nói của nhân dân:

Dẫu thấy hậu sinh thì dễ sợ

Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai

Thơ chữ Nôm: bài 16

Ông không ngại dùng khấu ngữ:

Thèm nỡ phụ canh cua rốc

Lạnh đà quen đắp ổ rơm

Thơ chữ Nôm: bài 36

Hoặc:

Cá tôm hôm chác bên kia bến

Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo

Thơ chữ Nôm: bài 38…

Thông qua câu thơ này, ta nhận ra chữ chác nghĩa là đổi, nay dùng là từ ghép đổi chác. Câu thơ của ông tự nhiên, đầy chất sống. Đó là những đồng góp đáng kể của thơ ông trên chặng đường hoàn chỉnh ngôn ngữ văn chương, để nền văn học của chúng ta ra đời những kiệt tác ở các thế kỉ sau.


Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa xứng đáng truyền thống thơ Lê Thánh Tông, đặc biệt là thơ Nguyễn Trãi và bổ sung vào đó, đậm đặc hơn, chất triết lí và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phản ảnh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng sâu nặng lẽ đời, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá nhân ông. Giầu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám phá những qui luật của tự nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hưởng sâu sắc tới tận ngày hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hoá và nhân cách cao đẹp của một nhà thơ.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 22.02.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004