Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





PLATO VỚI NĂM ĐỐI THOẠI





Qúy vị đang nghe Symphonie số 6 của Beethoven





    Lời nói đầu: Plato (c.429-347 BC.) Có sách ghi 428-348.Triết gia Hy Lạp. Plato đã viết trên 20 tác phẩm đối thoại triết học; hầu hết còn tồn lưu với 12 văn bản khác nhau, tất cả đều xác thực đưa tới những tranh luận sôi nổi và sâu sắc. Lý thuyết văn chương của ông phát động trên điạ bàn thế giới kéo dài hơn nửa thế kỷ, một khám phá đầy ấn tượng, đáng lưu truyền nhân thế, phản ảnh một năng lực của văn xuôi Hy Lạp. Với Năm Đối Thoại trong năm tác phẩm khác nhau bao gồm toàn bộ một cuộc vấn đáp giữa Plato (trong nhân vật) và Socrates. Mặc dù; tác phẩm ‘Cộng Hoà / Republic’ là tác phẩm đầu tay, tạo nên những mẫu đối thoại lừng lẫy và phổ quát của Plato, là; nguồn cơn khai mở triết học của Plato bao gồm những vấn đề thuộc luân lý đạo đức, siêu hình học tự nhiên và khoa học luận trong triết học Tây phương. Năm đối thoại gồm có: Euthyphro / Apology / Crito / Meno và Phaedo. Mỗi tác phẩm là một đối thoại khác nhau của 5 nhân vật khác nhau.

Với trọng lượng hạn chế không thể phơi mở từng chi tiết qua năm đối thoại của Plato. Ở đây chúng tôi chỉ khái niệm, nhận định lý lẽ trong mỗi tác phẩm may ra tìm thấy giá trị của nó.Với năm đối thoại riêng biệt; ít nhiều cho chúng ta một ý thức mới trong triết học hiện đại.(vcl)


***


Thế kỷ thứ năm trước Thiên Chúa một thời kỳ phi thường đầy năng động và sáng tạo cũng là thành quả trong thế giới văn học nghệ thuật Hy Lạp. Một tinh thần mới với nhiều thách thức, kích thích bởi một hào khí văn hóa truyền thống, một thúc bách khác là đánh bại những khống chế vĩ đại của Thổ (Persian) để từ đó khai mở nhanh chóng và phát triển những gì thuộc về cuộc đời.Tinh thần này là tọa độ hướng tới của người Hy Lạp: chính trị, kinh tế, thương mại đều được thịnh vượng là đỉnh cao cho những gì thuộc nghệ thuật và văn chương. Khắp nơi trí tuệ của con người như trăm hoa đua nở, một thao thức từ lâu với những kinh nghiệm tích lũy để đạt tới một nhận thức mới. Giữa thời kỳ của thế kỷ khoa học và triết học; thế nhưng vẫn không phân biệt rõ những gì ít hơn 150 năm qua, mà đó chỉ là ý niệm cho những tiến trình trong tương lai; đặc biệt hướng tới khoa tâm lý. Là tiếng nói đối kháng đầy kích thích, nhưng; dữ kiện này trở nên mơ hồ, rối răm vượt cả không gian và thời gian cho những con người bình thường mà thực sự họ không biết ai là ai hoặc cái gì là gì để có niềm tin. Nhất là vấn đề triết học.

Những gì thuộc về tri thức là mầm mống bừng dậy của lớp người được mệnh danh là triết gia / sophist hoặc là con-người-trí-tuệ / wise-men. Nhưng không hẳn để gọi đến hay ít ra cũng không cần cho những gì là triết gia hay khoa học gia nhưng cần thiết đối với những chuyên gia của các bộ môn khác. Kỳ thật; có những khi có thể cần nghĩ cho một giá trị của sự truyền đạt nhưng có khi đó là một hoài nghi bởi sự bày tỏ của hai bề mặt vấn đề hoặc làm hao mòn niềm tin trong một giá trị bởi lời rao giảng giữa đối tượng chủ quan (subjectivism) hoặc tương quan (relativism) để nói lên vấn đề. Viễn cảnh của họ như cái vẻ bề ngoài và trắc nghiệm, nhưng; tiếng nói của họ như một khẳng định của sự lý. Rứa cho nên cứu cánh đó là phát sinh ra những gì biết tới một cách khéo léo và kết quả thu lượm được hơn cả sự khôn ngoan mẫn cán; ấy là tác động trong ngữ ngôn văn chương triết học, dẫu sao; đây cũng là một ấn tượng kinh ngạc (shocked) đối với những triết gia nhưng ngược lại là điều tốt cho khoa tâm lý là những gì liên đới tới con người trong lý trí cũng như trong hiện thực giữa cuộc đời đang sống. Nói chung; tín ngưởng cổ xưa và thứ đạo đức giả đều để lộ ở đó một thứ tín điều của cơ hội chủ nghĩa và vật chất chủ nghĩa.

-Socrates sanh ở thủ đô Athens; Hy Lạp vào năm 469 B.C. Socrates được mô tả là con người thô kệch, xấu xí, râu tóc bù rối, mắt trợn, tai heo, miệng tô hố khó coi. Đi chân đất và đứng trầm mặc hằng giờ. Cử chỉ và hành động của Socrates chậm chạp, lười biếng. Tất cả bề ngoài của ông như kẻ u ám, tối tăm. Nhưng; khác hẳn với một trí tuệ cực kỳ sáng chói, một tư tưởng sáng tạo, một ý niệm mới mẻ, một phê nhận đúng đắng và một con người mang nhiều hoài bão. Bởi; trong cái hướng đi tới tự nhiện đó là sự cớ tuồng như không thể nghĩ ra được rằng có những gì mà người ta có thể thấy được giữa đúng và sai mà không thấy ông nói đến. Đó là ý niệm để cho chúng ta tự tìm thấy nó. Quan trọng được nhấn mạnh tới là nhân tính trong con người Socrates. Răng rứa? bởi; nó có một hiệu năng trong trí tuệ với cái nhìn rộng lớn của con người. Giữa Con người và Thượng đế. Socrates không hẳn là kẻ tử vì đạo và chẳng có một chút cảm thức gì về Thiên Chúa giáo. Ông ta chỉ là người tiên đoán, nhưng không nhiều lắm –He was a prophet, but no more. Rứa thì trí tuệ của Socrates như thế nào để chúng ta có một dự phóng về nó? Đó là một thứ triết học đối thoại mà chúng ta sẽ bắt gặp trong những tham luận cũng như trong tác phẩm của Plato. Nếu tìm thấy thời tất đó là điều hiển nhiên rõ ràng; nhưng chưa phải đã làm sáng tỏ mà gần như quan trọng cho hiệu quả thuộc hai bề mặt luân lý đạo đức và siêu hình học. Đó là quan điểm dẫn tới; xuyên qua thiên tính của Plato và Socrates là một khám phá và phân định qua từng ý niệm như: phẩm chất, chất liệu, bản thể, đặc trưng, vấn đề và thể thức, bẩm sinh và giống tính và vô số thứ khác –It led, through the genius of Plato and Socrates to the discovery and distinction of such concepts as: quality, substance, essence, attribute, matter and form, genus and species and innumerable others.

-Plato trẻ hơn tới bốn mươi năm tuổi so với Socrates. Plato học trò của Socrates. Trường hợp Plato chịu ảnh hưởng của Socrates là cả năng lực, là những gì đam mê, nhiệt tình ở chính ông đối với triết học; cho dù chưa một lần mất đi dấu hiệu đó của thực hành có liên quan đến giáo dục và quản lý (hành chính, chinh trị, văn hóa) là những gì trong sáng và xác thực trong tác động và ngay trong những gì ông viết. Liệu những gì Plato viết và nghĩ có liên can đến sự nghiệp của ông hay là có từ ý thức của Socrates? Sự thật được phản ảnh ít nhiều trong tác phẩm của Plato: ‘Dấu vết và Cái chết của Socrates / The Trail and Death of Socrates hay còn gọi ‘Những Ngày Cuối Cùng của Socrates / The Last Days of Socrates’ đều được ghi lại trong năm đối thoại. Chính cái chết của Socrates thấy như có một sự tràn đầy trong con người Plato với say đắm nhiệt tình là một lưu lại những kỷ niệm đẹp đời ông. Hiện thân một thi nhân –Plato là tác giả của nhiều bài thơ tình hầu hết là tình đẹp trong Hợp tuyển thi ca Hy Lạp. Ngoài những bài thơ ngợi ca Socrates và hình thành những tư duy về thoại kịch mà trong đó Socrates được đại diện như vai trò cùng một phương thức và thường đem ra tranh luận khi còn tại thế. Đấy là lý do và mục đích khi viết về ‘Apology’ và ‘Crito’; dù rằng ‘Euthyphro’ đã dựng nên trước khi thành hình những vở kịch.

Đọc những đối thoại của Plato là việc cần thiết luôn luôn giữ trí tuệ ta một sự kiện -rõ ràng nhưng thường chóng quên- cái đó không phải là phương pháp có định hướng để phô trương học thuyết thuộc về ông (hoặc cho người khác). Đối thoại là tác phẩm có tính chất nghệ thuật, sắp xếp theo thời gian khác nhau và một lý do đặc biệt mà chúng ta chỉ là người dự đoán: thực hiện do một động lực thúc đẩy như hứng khởi về thơ hay kịch vậy. Một phần khác là khám phá thiết thực cho những gì chưa đả thông tư tưởng hoặc đưa vào đó một luồng ánh sáng như vấn đề đặc biệt; phần chính đem lại những ích lợi khác và hướng đến một tư duy trong sáng cho một luận văn bao gồm và đầy đủ: ở đó chúng ta tìm thấy chân lý thể thức cho một bài giảng thuyết; mà trong đó ‘đại diện’nhân tính con người qua mọi tầng lớp xã hội.

Tác phẩm của Plato đưa ra đã được đón nhận nồng nhiệt vì sự lý chính xác và thiết thực của những tham luận là một sáng tạo nói lên nhân tính và xếp đặc trọn vẹn có thứ lớp trong một khiá cạnh sắc bén với lối kỹ thuật phê bình. Plato biết rõ sự kiện cuộc đời và cũng biết rõ mọi phương hướng cuộc đời cái đó chính là sự kiện đưa ra những phương thức khác biệt; những thứ đó hiện ra ít nhiều khác biệt trong tâm trí con người, và; dù chi đi nữa thì ông cũng đã xử lý được đôi điều như để phản đối cái sự bất tương như của con người và xã hội, mỗi khi thiếu đi trách nhiệm làm người mà dùng vào đó cái lý hùng biện (rhetoric) đưa tới những hiệu năng mà ông xử lý bằng một kháng án như lý tài trong ngữ ngôn. Không phải dành cho mỗi khi tranh luận mà gần gũi với nhiều lý do khác; đôi khi chỉ là thể thức, đôi khi là cảm thức thông thường (common-sense), đôi khi là suồng sã bất cần. Chính cái đôi khi; là một đả thông trong việc trao đổi không còn là vấn đề tắc nghẽn giữa vấn đáp hoặc là chuỗi suy luận trong cái sự cớ độc thoại luân lý. Đó là những gì thuộc tham luận được thâu tóm và mô tả hoặc lấp vào lý luận khác.


1. Euthyphro: là cách giới thiệu trong thể thức đối thoại có tính chất kịch tính. Rứa thì dẫn độ đến cái lý gì đây? –Là trao đổi giữa phiên tòa của Socrates và sự xuất hiện của Euthyphro là một bàng hoàng cho Socrates, ông chỉ yêu cầu là làm thế nào Euthyphro có thể chắc rằng việc cư xử là một tương thức với nhiệm vụ đạo đức tôn giáo của mình? Kết quả trong tranh cải đó nói lên sự thật tự nhiên về cái việc ngoan đạo. ‘Piety’ itself may offend some ears; but no better word seems to be available. Cái từ đó như đểu cán, xúc phạm, trá hình che lấp tội lỗi nghe qua chướng tai gai con mắt (cho thứ đạo đức giả hiệu) nhưng chỉ cần một lời lẽ chân tình đơn giản thì may ra có thể nhận thấy được. Đó là trích đoạn trong đối thoại giữa Socrates và Euthyphro. Nhưng nhớ cho Euthyphro không đại diện tính chất chính thống giáo của người dân Ăn-thế (Athenian orthodoxy), ngược lại; ông chỉ là mối thiện cảm của Socrates mà thôi. Euthyphro là con người độc lập hết sức đặc biệt, tự tin trong cái riêng mình không thể cho là sai lầm được –Euthyphro is a independent specialist, confident in his own infallibility…là một thích ứng chủ thể của Socrates một phương thuốc chửa đúng căn bệnh, tất thảy là cứu cánh đưa tới một trí tuệ trong sáng cho một giả thuyết không thực và tạo nên một tiếp thu bén nhạy của những gì nhận biết khi đọc tới.

Có lẽ; Socrates cho đó là một tư duy vô thức về những gì đã nói tới của Euthyphro, nhưng có nghĩa giúp bạn ông có một tư duy đúng đắng hơn, dù cho những lần đối thoại có vu vơ hay vòng vo tam quốc thời nó cũng dính liền vào nhau cho một hoà nhập vấn đề. Euthyphro bao hàm một thông điệp thông thường với những gì có ẩn ý thuộc về triết học; bao gồm những gì Socrates nói trong đó qua những thể thức được giới thiệu với tất cả hành động mà những thứ đó chúng ta gọi là ngoan đạo. Răng rứa? Chúa thương những kẻ ngoan đạo. Nhưng có thực là Chúa thương hay không thương mà bên cạnh có một sự giả tạo; cái đó có phần khác biệt giữa nhiễm sắc tố (genus) và chủng giống của loài người (species). Trong tất cả những gì bao hàm đều có những ẩn chứa được ghi lại trong những thông điệp đối thoại.


2. Apology: Đúng nghĩa của Plato là biện minh, chớ không có nghĩa là lỗi phải hay xin xỏ gì hết ráo. Rứa răng! Cái chữ ‘apology’ là một chuyển ngữ (transliteration) không phải chuyển dịch (translation). Răng rứa? Theo Hy Lạp ‘apologia’ có nghĩa là biện hộ luật tắc (defence). Cũng chẳng phải che chở hay phòng vệ gì trọi trơn; nguyên ngữ của nó là bảo vệ cho một luận án. Chắc chắn không dính dấp gì tới việc xin lỗi, xin phải (apologetic) mà là việc dùng phương ngữ cho một ngôn luận diễn văn (speech). Đồng thời là lời bày tỏ trước công lý cái gì đúng, hợp lý và cái gì bất nhân tâm, bất hợp pháp. Nghe qua tưởng như lời ân hận, van xin được tha. Ở đây; Plato chỉ biện minh cho một thứ công lý. Rứa thôi!

Apology là một một bày tỏ chính kiến được ghi lại đúng diễn từ là những gì Socrates chuyên chở trong cách riêng của ông là biện hộ trước vụ án. Tạo nên những vấn đề sử ký hơn là những gì sâu sắc trong đối thoại mà ngay những gì đối đáp chính tự nó đã có tính hư cấu trong đó và vấn đề sử ký là cả một sự quan tâm lớn lao cho những gì lý thuyết của Socrates là giới thiệu những gì thuộc lịch sử Socrates. Trái lại; Plato tạo nên những gì trong sáng đó là những gì mà ông đã phơi mở trong ‘Dấu vết/ Trial’; đặc vào đó một diễn từ hoàn toàn khác biệt trong ngữ ngôn, trong đầu môi trước lưỡi. Có nhiều thứ được quyền có thể không cho phép nghi ngờ nhưng tranh luận chính là điều để biện lý cho một thỏa thuận và một cường độ tổng quát cho việc biện hộ luật tắc ấy là điều chắc chắn tin tưởng vào những gốc ngọn. Cái hay ho, đẹp đẻ của ngôn ngữ là kiểu cách của Plato, nhưng tinh thần lắng đọng và cái đẹp đức hạnh là thuộc vai trò của Socrates –The beauty of language and style is certainly Plato’s, but the serene spiritual and moral beauty of character belong to Socrates. Đọc qua cho thấy được đó là tiềm năng liên hợp vào nhau. Vì rứa mà Apology chia ra ba phần: phần chính nói đến diễn từ (speech),thứ đến là chống lại sự đánh giá quá cao (counter-assessment) và cuối cùng là lời thẩm xét (jury). Cả ba dữ kiện nêu ra mà con người đã biểu quyết cho cái phải-chết và đó cũng là biểu quyết cho việc ân-xá. Rứa thì Apology là gì? Hỏi làm chi rứa. Nó biện minh cái lý của con người trước sự phán xét ‘sống’ và ‘chết’ chớ bi chừ đòi giải cho ra ngọn ngành lỗi phải thì sai ý tứ của hai triết gia Plato và Socrates. Giải tức là phản đề. Bởi; nguyên nghĩa của ‘apology’ là biện minh. Nhớ cho! Ở tập này Plato không viết theo thể đối thoại mà bằng thể văn xuôi, nhưng nghe ra như vấn đáp trong tư thế tiềm ẩn về lý lẽ ‘Biện hộ của Socrates / The Apology of Socrates’ là dẫn những lý lẽ để bảo vệ quyền làm ngưới; nếu ở đó có sự bất chính.


3. Crito: Là thời gian xử án của Socrates. Theo tập quán ở Athens những kẻ bị tuyên án tử hình hay bất cứ hình phạt nào thông thường được đưa ra khỏi thành; nhưng trước một ngày xử án Socrates là ngày đầu lễ hội tôn giáo hằng năm (ngày truyền giáo của thánh Delos); do đó Socrates phải chuyển đi xa và tại ngục thêm một tháng sau đó mới hầu tòa. Chậm trể hành quyết là điều như đã nhận ra, và; chính sự cớ đó mà kẻ thù của ông đang mong đợi xét xử hoặc có một dự mưu vượt thoát ra khỏi đất nước. Tất cả toan tính đó đã được dàn xếp. Đứng trước sự thúc bách Socrates đã trao đổi với hai người bạn. Một trong hai người là Crito; người đã thuyết phục Socrates và khuyên ông nên thực hiện vì đây là cơ hội cuối cùng; nhưng Socrates không nhận lời khuyên và đi tới quyết định từ chối. Mặc dù có nhiều lý do thuận lợi nhưng ông một lòng chối bỏ ý đồ. Biết rằng xung quanh ông có nhiều lời vô, tán ra, nhưng đây là điều cần phải suy xét trước một quyền hạng tối hậu có thể không phải là thiện chí cho việc ông phải xa quê hương. Trong phần đối thoại giữa Socrates và Crito là một dằng co lương tâm và con người; dù Socrates mang bản án trọng tội. Ngụ ý của đối thoại như một phác thảo cho lời giới thiệu, và; đó có thể không còn gì để nói lên những gì ở tự nó. Socrates có thể hành động để thoát thân: một phần có từ một trạng huống lương tâm và lòng ngay thẳng trợ vào nhau mà làm nên những gì sáng tạo trong đối thoại –Apart from a few stage directions which have been added to assist the imagination. Qua những lời đối thoại của Socrates và Crito cho ta thấy được sự tôn trọng và công lý. Giữa hai tư duy là cả một mâu thuẩn nội tại. Plato nhấn mạnh giá trị đạo đức của con người thức giả (Socrates) và một con người ngoài vòng cương tỏa (Crito) với tấm gương ngay thẳng và công lý là một hoán chuyển giữa con người với con người. Ta biến mình trong Socrates hay ta trong Crito là cái tự có của con người. Đó là những gì thuộc khoa học luận triết học / Epistemelogy và siêu hình tự nhiên / Metaphysic qua tư duy của Plato.


4. Meno: Là một trong những đối thoại đặc thù có sớm của Plato (Platonic) Socratic cũng thế; với cách riêng cho những gì tìm thấy rõ ràng về khái niệm đạo đức. Meno đề cập đến những gì khác biệt trong Anabasis và Xenophon (cổ tích Hy Lạp) đưa đến cho Plato mà hầu như những chương viết về sau không mấy thỏa mãn. Một đòi hỏi ở sức khoẻ và khả năng, khát vọng, một tình bạn không chân thực luôn luôn tìm thấy mọi thứ trong tư thế của riêng mình. Chỉ riêng có Socrates là vị thầy mà Plato hướng tới như một cứu tinh tư tưởng. Vai trò của Meno không thích hợp để trao đổi hay nói tới, nhưng; Plato tuồng như mong đợi ở người đọc biết về những gì thanh danh ở ông, cho đây là một nhận thức, thêm vào đó những gì có tính chất mai mỉa, châm biếm trong bút pháp của ông mà trong đó hàm ý nói về mình (Plato). Đối thoại là mẫu mực có ý thức, một thúc đẩy như phát biểu quan điểm giữa phải và trái, giữa thực và giả mà con người đối diện với công lý, ngay cả công lý lương tâm; tất thảy qui tụ trong một tư duy sáng ngời đầy nhân tính, đồng thời tạo nên một lời giới thiệu tốt cho Plato. Là vì; chủ đề để trao đổi, nói qua, nói lại thường hiện ra sau những lần đối thoại mà những gì nói ra đều là thứ triết lý của ‘Socratic-Platonic’. Tóm lại đó là những lý giải ‘trọn gói’. Ở phần đầu của đối thoại Socrates có một vài bức xúc trong tinh thần khi nói tới Meno mà hiểu một cách tự nhiên về những gì sáng tỏ, phổ quát và đúng đắng. Cái sự nhầm lẫn trong luân lý đạo đức về sau này đưa tới sai lầm để hiểu thế nào là khác biệt hiểu rõ mục đích và vô số chứng cớ khác dành cho mỗi thí dụ nêu ra hoặc bao gồm những gì thuộc lời lẽ hay ngữ ngôn có tính chất cụ thể trong những gì xác định –The term to be defined in the definition. Những lý thuyết đưa ra là cả một sự học hỏi dài lâu là thu nhận sự hiểu biết đó là bẩm sinh phát tiết trong tâm hồn; cái đó được coi là nhận đúng bất tiệt của linh hồn và đó là thể thức cho lý thuyết. Thứ đạo đức luân lý là thể loại của nhận biết là một phần quan trọng và cần thiết trong tư duy của Socrates; lý thuyết đó đã được trao đổi với tư cách tranh luận giữa tán thành (pro) và phản đối (con) mở ra ở đây những vấn đề cho chặn cuối cuộc đời. Loại bỏ những cách thức ngu dốt, sân si là điều để tin tưởng, nhận thức đúng sai là sự cớ hàng đầu trong phương thức dạy dỗ của ‘Platonic’. Có những thứ mà Plato từ chối hoặc không thích đụng tới, bởi; nó có tính chất bề ngoài của cái nhìn thiển cận. Hướng nhắm tới là thành quả ở thế gian và có một vài chú ý đến sự thật. Plato không thích những gì có tính khoa trương cường điệu –Plato disliked rhetoric là những gì người đời đã dẫm qua –đó là lý do cổ lỗ sĩ còn tồn lại không chịu tồn loạt; một thứ luân lý đạo đức suy đồi (vì bên trong chất chứa cái sự ngu xuẩn của tị hiềm) Plato nhìn đó là thói tính phải loại trừ để cải thiện con người và xã hội. Phần này ngó vậy mà quan trọng vì Plato cũng như Socrates nghiêng về luân lý, công lý, thẩm mỹ, vũ trụ và thông tri kể cả chính trị học.


5. Phaedo: Đây là lời đối thoại cuối cùng; chuyện những ngày cuối trong tù của Socrates được kể lại dưới đôi mắt nhân chứng của Phaedo, người xứ Elis. Phaedo xác nhận và ghi lại cuộc nói chuyện giữa Socrates và người bạn đến thăm ông ở trong tù vào những ngày cuối đời của Socrates (399 B.C.)Người đó tên là Echecrates ở ngoại thành thị xã Peloponnese. Nói như rứa Phaedo chỉ là người ghi chép chớ không phải là người đến thăm hoặc đây là lời nói bên trong của người khác. Nhưng; cụ thể đây là chuyện hỏi và trả lời, nguồn cơn tự sự ra răng mà phải ở tù và được tác giả mô tả sự việc một cách giản đơn không có thêm thắc gì hơn giữa lời nói và hành động (dù có nghệ sĩ tính đi nữa cũng phải rõ ràng) hơn là tỏ bày sự thương tiếc cho một cái chết cao qúy (a noble death) của triết gia. Đây là một cố gắng để thực hiện, một thúc đẩy bởi nghĩa lý của niềm tin trong một linh hồn bất tử của kẻ thức giả; không vin vào luân thường đạo lý để tạo nên khuynh hướng. Răng rứa? Plato biết rõ những gì ở đây có thể nói và viết nhưng đây là lời phê nhận bằng trực giác.Nhưng nếu đây là một nỗ lực để thực hiện thì Plato đã đi ra ngoài sự lý của nghĩa đen thì không còn chi để phê bình hay chỉ trích còn hơn cả người họa chân dung biểu lộ đúng nhân dáng hiện thực dung nhan. Nhưng; phải thông điều này là đặc nó vào niềm tin thánh hóa, một niềm tin trường cửu là những gì tuân thủ đầy hứng khởi trong ta bằng một phê nhận trung thực: sự sống cuộc đời là sự thật của triết gia / to live the life of the true philosopher. Rứa cho nên chi Phaedo thực sự là di chúc để lại của Socrates. Răng lại coi trọng như rứa? Bởi; Phaedo là linh hồn trí tuệ hoặc chỉ có một tri thức thâm hậu và mọi thứ khác trong con người phi thường. Còn ‘Cộng hòa / the Republic’ là linh hồn hấp thụ mọi chủng tính thời đó không ai gọi đó là cảm xúc vật lý tự nhiên. Thế nhưng trong mỗi thứ là có chứa phần hồn trong đó: ước ao và thỏa mãn, luôn luôn có lý do mà chỉ lưu lại một phần nào cao sang của con người. Chỉ cần có một phần thôi của nhận biết và nghi thức cho sự tỏ rõ thời cũng đủ là bất diệt. Phaedo là danh xưng rút từ huyền thoại cho hai chủ đề: Thứ nhất là sự cố mà chúng ta đang sống trong cái trống rỗng của mặt đất và trong cái ngây ngô huy hoàng của mặt thực và trong cái trơn tru của cuộc đời đang sống. Thứ hai là miêu tả những gì xẩy ra cho một linh hồn đi vào cõi vĩnh hằng sau cái chết. Cả hai; là cái chung của con người là cộng hòa /public với nhau. Bất cứ lời phê nào đi nữa có thể là điều thừa thải /Any further comment would be superfluous. Rứa thôi!

Phaedo là tác phẩm miêu tả thu tập được từ phiá vai trò; mục tiêu nói đến ‘công nhận / admit’ hoặc ‘tiếp nhận / receive’ và ‘thể-thức / Form’. Mà thể thức là ‘chiếm cứ / occupy’ hoặc là nắm bắt được chủ đề. Cái đó là tư tưởng triết học một thể loại bày tỏ tư duy. Phaedo có cái riêng của nó không phải là giải thích chính mình (self-explanatory).Cái này có hơi lắc léo giữa xác và hồn. Một phần thuộc vật lý (physical) và một thuộc về tâm lý (psychical), một thuộc tinh thần và một thuộc thể xác. Nhưng cả hai hình ảnh đó thực sự là bổ sung vào nhau cho một tương như mà thôi; chỉ là viễn cảnh tọa độ và nhấn mạnh vào sự khác biệt với nhau. Đó là vấn đề cốt tủy để đối đầu. Đối cái chi rứa? Hồn và xác? Đúng! Đó là câu trả lời và cũng xin đừng hỏi ‘tại sao’.Vì; tại sao là tại răng rứa, rứa răng đó mà. Còn khăng khăng hỏi cho bằng được thì Socrates hay Plato đội mồ lên thì cũng chừng nớ thôi. Đòi thêm vô, bớt ra thì quả hai vị thức giả này chưa ngộ với nhân gian chút nào cả.Thôi! tự tìm thấy nó để tự hiểu lấy nó.


Toát yếu Năm Đối Thoại của Plato :

- Socrates trong Hành động. (Socrates in Action)

- Lời Biện minh của Socrates. (The Apology of Socrates)

- Socrates ở Tù (Socrates in Prison)

- Kiểu thức triết học Socratic và Platonic (The Socratic-Platonic Phylosophy)

- Lần Nói Chuyện Cuối Cùng (The Last Conversation)

Đấy là những gì đã khái niệm và nhận định. Không còn gì để nói thêm mà cần suy ngẫm khi đọc đến nó như lời mật thể của một triết lý chứa đựng giá trị luân lý đạo đức và nhân tính con người ./.


(ca.ab.yyc. xong 25 tháng chạp tức 2/2/2016)


SÁCH ĐỌC: “Plato . The Last Days of Socrates” Trans. by Hugh Tredennick. Penguin Books. New York USA. Toronto Canada. 1981.

TRANH VẼ:‘Người Đàn bà ngồi và Sen / Seated woman and Lotus’Khổ 12” X 16”. Trên bià mì gói.Acrylic+Acrylic-ink.+House-paint.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 22.02.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004