Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NIETZSCHE VIẾT GÌ

Và NÓI GÌ TRONG TÁC PHẨM





Qúy vị đang nghe Piano Concerto số 2 của Beethoven





    Đã nhiều năm qua; sau cái chết của Nietzsche với trăm mười lăm năm tư tưởng vĩ đại đó đã trở nên hiện tượng lớn trong nền văn học thế giới, xâm chiếm mọi lãnh vực, mọi trường phái văn học nghệ thuật, tất cả qui vào tư tưởng của Nietzsche như một nhận định, một lý lẽ triết học để nói lên cuộc đời của mình đang sống.Từ đó nhiều sách vở ra đời, viết, dịch và bình luận về Nietzsche hoặc lấy tư tưởng của Nietzsche làm chủ đề cho lý luận ngay cả thi ca của Nietzsch đều biến thể và dựng nên một cao trào về tư tưởng triết học để rồi dấy lên nhiều trào lưu tư tưởng khác. Dữ kiện đó có đôi phần lạc hướng đi của Nietzsche, bởi; những người thực hiện nhiệm vụ đó chỉ khơi dậy giòng tư tưởng đối kháng; lấy đó làm biểu tượng chớ không nói cái rốt ráo, nguồn cơn tự sự của Nietzsche. Mặc dù xuất thân từ triết học mà ra, nhưng vẫn còn dậm chân tại chỗ trong ‘biển chữ’ của Nietzsche. Răng rứa? Bởi; người ta dùng Nietzche như một đối tượng hiện thể của lịch sữ triết học: sao lục, trích dẫn để chứng minh hiểu biết về Nietzsche. Thật ra; điều đó chỉ là hình ảnh tượng trưng không nói hết cái thâm cung bí sử của nó mà sự cớ đó chỉ là bóng mờ không có nhân dáng, một cái bóng huyền ảo không sát với chân lý triết học. Do đó; cuối thế kỷ hai mươi tư tưởng Nietzsche trở nên thời thượng. Họ nói về Nietzsche và những triết gia khác là một lãnh hội hay bày tỏ một nhận thức phô trương về triết học? Tựu chung nhìn Nietzsche như một khách quan chủ thể chớ không đứng trong vai trò chủ quan khách thể để có nhận định sâu sắc về Nietzsche. Một thứ mầm mống bi kịch trong con người và xã hội ‘The Birth of Tragedy’. Là; tệ đoan phát sinh ra bi thảm, một thứ tệ đoan văn chương gần như vô căn cứ thuộc triết học đương đại. Mà thứ triết học đó cần đề cao và chủ xướng.

Những tác phẩm của Nietzsche lưu truyền dài lâu, tuồng như có cái khó đối với người này mà dễ đối với người kia nhưng lại là hình thức nói lên cái lệch lạc, sai trái phải sửa đổi; cái gì mà con người chịu ảnh hưởng giữa thực và không thực, giữa hiện hữu và hư không về những gì đúng và sai ở cõi ngoài kia, giữa những điều đáng tin tưởng là một hiện hữu của nhân loại, là những gì Nietzsche đã tiên đoán như một sự thật mới mẻ và đầy sinh lực. Tất cả yếu tố đó là những gì đã viết và nói lên trong tác phẩm của Nietzsche. Căn bản lối viết của Nietzsche / Basic Writings of Nietzsche là viết chứng thực ở những tác phẩm:

- Phát sinh của Bi thảm / The Birth of Tragedy. Đây là tác phẩm đầu tay của Nietzsche (1872) cho một thành quả trội hẳn, một trong những chứng từ để lại về những gì bi thảm và những gì tệ hại mà Nietzsche đã viết lên. Khám phá mới về ý niệm văn hóa Hy Lạp; đó là âm vang của những chủ đề mở rộng trong thế kỷ hai mươi bởi những giòng tư tưởng thuộc về văn hóa cổ điển, những lý thuyết hiện sinh, những gì thuộc phân tâm lý và bao thứ khác. Tât cả là biến trình đưa tới nguồn cơn tự sự (birth) của thảm kịch (tragedy) cuộc đời. Tiếng nói cũng như ngữ ngôn là bao hàm và đã viết lên ở tác phẩm của Nietzsche.

- Ngoài Tốt và Xấu / Beyond Good and Evil (1886) là tác phẩm được đánh dấu và ảnh hưởng lớn ở thế kỷ mười chín. Gần giống như Zarathustra Thốt Thế đấy / Thus Spake Zarathustra là những gì phát hiện sớm nhất. Tác phẩm này được coi là một cố gắng thu tóm về triết lý của ông. Nhưng ít nhiều có cái khoa trương và có một vài ẩn dụ siêu hình trong thể thức ấy. Thành ra triết thuyết của Nietzsche là bí truyền.

- Hệ tính của Luân lý / Genealogy of Morals (1887) là tác phẩm chính nói về đạo đức, luân lý. Một dẫn chứng trong đó gồm có triết học, phân tâm và triết học cổ ngữ là một nỗ lực đưa tới hướng dẫn mới, rèn luyện tâm trí về khoa cổ điển học. Chớ không phải là thứ luân lý tập truyền cổ lỗ sĩ, rập khuôn.

- Trường hợp của Wagner / The Case of Wagner (1888) là một trong những tác phẩm cuối cùng của Nietzsche và là những gì dí dỏm đời ông. Được miêu tả như thói tính và kiểu cách, đó cũng là đường lối phá cách, đối kháng trong Nguồn cơn của Bi thảm. Cả hai tác phẩm nổi bậc cái chủ đề có thể là tàn ẩn một dự phóng phô bày mà chứa được tính văn học, nghệ thuật. Một thứ văn chương dành cho mọi thế hệ.

- Hãy Nghe đây Nhân Loại / Ecce Homo cũng viết trong năm (1888) và được xuất bản vào năm (1908) là tóm lược cuộc đời và sự nghiệp của Nietzsche. Nietzsche không viết gì kiểu cách hay làm kinh ngạc hoặc là chứng nhân thời đại. Mà nói lên lời phán quyết của kẻ cầm quyền đối với tội đồ (Christ). Một văn phong giản dị như một sự chối bỏ hiện diện của Thượng đế và con người. Là; phát sinh bi thảm cuộc đời!

Mỗi tác phẩm của Nietzsche tự nó nói lên những gì nơi chúng ta một tư duy bất khả tư nghị của tác giả, như thể trang bị đầy hình ảnh ấn tượng tư tưởng của Nietzsche. Đặc ngữ của Nietzsche là tinh thông, một ngữ ngôn có tính đặc thù và siêu lý. Chân lý triết học qua từng tác phẩm của Nietzsche là cả ý tứ thâm hậu, Nietzsche thay mặt chúng ta để phơi mở và khuếch trương những ý niệm dồn dập giữa thực và hư mà con người phải gánh chịu và đương đầu như một thảm họa, như tiếng ta thán, ngấm ngầm và chôn vùi. Zarathustra là tiếng nói của tiên tri qua mọi thời đại, tiếng nói của kẻ đưa đường giữa thiên đường và tội lỗi. Nietzsche không viết lên sự hoài nghi mà viết lên lời khai mở của thân phận. Đó là thân phận thê thảm giữa tội ác và hình phạt, giữa giáo điều và cuồng tín. Đó là cơ bản siêu lý cho một triết thuyết.

Nietzsche là một triết gia hiếm có của thời đại kể từ sau Plato. Một trí tuệ mẫn cán đã làm cho người đọc thêm nhiều suy luận về những dẫn chứng triết học. Hầu hết những triết gia qui tụ ở Pháp và hiếm nhận ra được một cách nghiêm chỉnh giá trị của nó ngay cả những giáo sư chuyên môn triết học ở thế kỷ hai mươi. Thiệt ra; chỉ ở Pháp những giáo sư triết thường đồng tình một cách tổng quát về những gì là đỉnh cao của Descartes. Suy tôn hay ái mộ cái lý của Cartesian.Trong khi đó Montaigne và Pascal, Voltaire và Rousseau, Bergson và Sartre lại ít đón nhận một cách nồng nàn như một hiện tượng thời thượng (greatest vogue) như những triết gia đi trước; mà chỉ có Rousseau là người chịu ảnh hưởng với tầm quan trọng đáng kể hơn những ai trong lịch sử của triết học (ngay cả Kant và Hegel). Nếu thử như Plato chứng tỏ những gì dễ dàng, hợp lý thì điều đó không cần phải nói đến. Mà phải xử dụng triết học như một biện chứng để sáng tỏ và cụ thể thì mới mong có một siêu lý trong triết học.Những triết gia ở thế kỷ hai mươi có thể tỏ ra đối kháng lại (counter) những gì thuộc về tính chất triết học/philosophically. Đấy chỉ là lý luận sơ bộ.

Cái thuở ban đầu của Plato có nhiều vấn đề liên can tới văn chương được đem ra đối chất là ít quan trọng hơn những lần tham luận sau này của ông; đặc biệt ở đây coi như ngọn nguồn ngay cả những gì chuyên về triết học –Plato’s early and more literary dialogues are less important than his later dialogues; especially where they stump even professionals. Và; kể cả trường hợp của Kant thời đó qua tập: ‘Phê nhận Lý do Chính đáng / Critique of Pure Reason’ là lời nhận định chính xác và rõ ràng nhất; một đánh giá cao về lý luận triết học. Cho nên chi Nietzsche đã thấy và nhận biết khi viết như một lý do trong các tác phẩm.

Rứa thì Nietzsche để lại ở chỗ mô? –Where does this leave? Where; are you Nietzsche? Ở mô và từ mô? Rứa thì lấy từ đó mà ra phải không? Không! Thoáng nhìn có thể trong đó như là dính dáng một ít của Montaigne, Pascal và Voltaire. Nhưng ở đó Nietzsche chứa một hợp chất về triết học trong những bài viết của ông hơn là những gì của họ mà Nietzsch đã đọc qua hay vì đó mà chịu ảnh hưởng đôi phần. Nếu nghĩ như rứa cho Nietzsche thì quả là khắc khe, bởi; như ta đã biết Nietzsche là giáo sư triết học, thời phải có một tư duy vượt xa hơn họ chớ rập khuôn, a-dzua, dựa hơi thì sáng tạo để nơi mô. Hơn thế nữa là một thành viên sáng giá về triết học ở Đức và để lại cho Đức cũng như cho thế giới những tác phẩm lý luận triết học, một triết thuyết siêu lý; chính những yếu tố đó làm nên lịch sử cho Nietzsche. Qua sự kiện này; thì ít ra cũng chọn được một số danh nhân có một khuynh hướng như Nietzsche: Hans Vaihinger, Karl Jaspers, Georg Simmel và Nicolai Hartmann. Đúng ra phải kể đến Edmund Husserl là người chấp nhận hàng đầu và hai người bạn tăm tiếng của Nietzsche là Max Scheler và Martin Heidegger. Tất cả thay đổi định hướng một cách mãnh liệt sau khi đến với Nietzsche và chịu ảnh hưởng lập trường của Nietzsche như một lý luận cơ bản mỗi khi viết. Ngay cả về sau này có cả Jean-Paul Sartre những tác phẩm lừng danh của Sartre có thể là một thể hiện cụ thể qua tư duy của Nietzsche, phẩm vị của ‘Ruồi Bu / The Flies / Les Mouches’ là một xác định khác biệt khởi từ khi có ‘Hiện hữu và Hư không / Being and Nothingness’ cả hai tác phẩm cùng ra đời một lúc không còn thấy chất Sartrenian trong đó và từ đó Sartre nổi tiếng qua văn chương. Nhưng; nhớ cho điều này: ‘Hiện sinh Là một Nhân bản chủ nghĩa / Existentialism Is a Humanism’ của Sartre thì lại chứa hằng tá âm vang của những gì Nietzsche đã viết ra và ngay cả chủ đề của kịch mang nặng chất Nietzschean . Thí dụ tập kịch: ‘Không Lối Thoát / No Exit / Huis Clos’ và ba vở kịch khác từ văn phong cho đến đối thoại, một ngữ ngôn chịu ảnh hưởng nặng nhất và khi J.P Sartre tung ra ‘Thời đại của Lý do / The Age of Reason’ và cuốn ‘Đi tìm một Phương thức / Search For a Method’. Gần như phát sinh những gì là bi kịch của nội tại, một phản kháng ngấm ngầm trong tâm tư người viết (văn chương và kịch) Để về sau mới có một xác nhận rõ rệt ở thuyết ‘Hiện sinh và Nhân bản’ của Sartre là một triết thuyết hiện thực. Rút lại; Nietzsche là kẻ tiên phong trong cơ bản lý luận triết học mà dần dà chúng ta sẽ tìm thấy và đã gây nhiều chú ý về những gì ông viết và nói ra, dù là dự phóng chăng nữa nhưng các văn nhân thế giới chịu ảnh hưởng đôi phần (trong và ngoài thể chất của Nietzsche). Rứa mà trước và sau này ‘phe ta’ cứ mạnh dạng -dạy triết tức là triết gia- Cái đó gọi là ‘The Birth of Tragedy’.Thê thảm vô cùng! Ngần ấy thôi cũng đủ thấy sức mạnh lôi cuốn ngữ ngôn và tiết điệu của Nietzsche, vì; trong đó chứa đựng cái bản thể con người đối diện với vũ trụ, đối diện giữa người với người để rồi có ‘con người vô luân’, để rồi có ‘con người phản kháng’, để rồi có đau đớn của ‘người nằm dưới lòng đất’ v..v.. Sự cớ đó chính là bi thảm xã hội, bi thảm con người. Cái khó của Nietzsche là giải thoát được trạng huống của tâm lý triết học ra khỏi những bế tắc, nhầm lẫn, ra khỏi những đánh giá lạc hướng mà trước đây người đời chưa lãnh hội hay chưa thấm nhuần; dù là tư tưởng hạn hẹp. Cái vốn của Nietzsche tồn tại muôn thuở.

Có lẽ; văn chương ảnh hưởng của Nietzsche là vì quá ấn tượng (striking) hơn là tác động vào lý thuyết ở thời buổi triết học của thế kỷ hai mươi. Bên cạnh Sartre người ta có thể nghĩ về Camus, Gide và Malraux, nghĩ về Thomas Mann và Hermann Hesse, về thi ca thì có Rilke và Stefan George và hầu hết văn, thi sĩ trên thế giới đều chịu ảnh hưởng đôi phần (ngữ ngôn và chất liệu ‘tư tưởng’) hoặc thấm nhuần tư tưởng của Nietzsche mỗi khi họ đón nhận qua học hỏi hay tìm hiểu. Nhưng cũng có thể có kẻ mượn tiếng của Nietzsche để thi hóa chớ chưa nắm toàn diện cái siêu lý triết học của Nietzsche để thành hình. Cái đó do từ phát sinh của bi thảm mà ra. Thành ra những gì Nietzsche viết là cả luận đề chớ đem ra ví von là một tệ đoan bi thảm. Một thứ tệ đoan văn chương. Sartre hiểu được điều đó mới ra công ‘đi tìm một phương pháp’ mới hơn. Như đã nói ở trên hãy đọc những gì Nietzsche viết hơn là nói về Nietzsche. Răng rứa? Rứa răng; vì tất cả là ‘nothingness’ là hư-không, chả ra gì cả. Lạ chơ! Chưa hiểu Nietzsche thì đừng nói tới Nietzsche. Bởi; Nietzsche viết một phần dựa trên nguyên lý của phân tâm học là một lối bình giải theo hướng triết học và cả một năng lực còn hơn cả chủ thuyết ‘Freudianism’. Nói cho ngay Freud cũng là người thường nhắc tới Nietzsche. Để làm chi rứa? Một đằng bác sĩ tâm học, một đằng là giáo sư triết. Thời tất tư duy có phần khác biệt. Nhưng Freud cho tư duy Nietzsche là thâm cung nội tại của tâm sinh lý mà ra. Rứa răng! bởi; những lý luận đó có nhiều thứ đi qua sự nhận biết ở chính ông hơn bất cứ người khác mà họ chỉ biết sống hoặc lạc quan yêu đời như cuộc đời đang sống –Freud also: ‘several times said of Nietzsche that he had a more penetrating knowledge of himself than any other man who ever lived or was ever lilely to live’.Thật thế; mà đây là một nhận xét hào phóng của một nhà chuyên môn khoa phân tâm học. Nhưng; đó là một đối chiếu nổi bậc đầy thích thú và thực tế cho một loại tâm lý thực tế mà Freud đưa ra khiá cạnh bên trong của tác phẩm vẫn chưa hết ý qua trí tuệ của Nietzsche –to have figured out the inner working of “poor” Nietzsche’s mind. Thiệt mà! bởi; Nietzsche là con người phi thường không những là triết gia và thi văn gia mà còn là một tâm lý gia vừa có tính chất nhân bản con người ở trong đó.

Thông thường qua những lời phán xét nông cạn; rút ra được ba hình thức. Hoặc một trong ba điều mà đời biết đến Nietzsche: biết trước, nói trước, làm trước hoặc tin vào những gì đến, đã đến và sẽ đến. Hoặc có thể người ta biết Nietzsche qua nhãn hiệu như là: một con người phi lý siêu hình hoặc là người xây đựng luật tiến hóa đạo đức (nghĩa là chối bỏ Thượng đế) không có Thượng đế ngày nay -Thượng đế đã chết- ý niệm khơi dậy từ Phật giáo: chỉ có vũ trụ như nhiên là vĩnh hằng, là bất tận. Vì mọi giáo điều kể cả Phật Pháp Tăng đang trong thời kỳ mạt-pháp. Thiên điạ vô tư tức thượng đế vô tư (vắng mặt). Chính lý lẽ này về sau Nietzsche thừa nhận chân lý của Phật giáo là giáo lý đến trước mọi dự ước của con người. Hay cho Nietzsche là con người hiện sinh. Dẫu cho biến thiên của cuộc đời hay là gì đi nữa hay dù cho chưa một lần đọc qua hay nghĩ tới về những gì trong khái niệm tư tưởng, thời cũng đủ đáp ứng nhu cầu về nó; ở đây nói lên rằng tất cả đã được thông đạt một cách nghiêm chỉnh qua tư duy của Nietzsche. Thực như thế; không những triết gia khác như Plato hay Aristotle hay qua những ý niệm giáo điều của Kant hay Hegel đều ảnh hưởng có nhau trong một sự khôn ngoan mẫn cán khác nhau của mỗi tư tưởng gia đều mang một ý tưởng sâu sắc, thâm hậu. Tuy nhiên; không có một dấu hiệu nào cho biết tư tưởng của Nietzsche là yếu lòng, phất cờ theo gió ‘flagging’ chán nản vô vị. Phải hiểu tâm can lòng dạ Nietzsche viết lên những gì và đã nói những gì. Thiết tưởng điều này cần phải nghiên cứu dài lâu. Đó là siêu việt của ngữ ngôn triết học. Vì vậy trong suốt hành trình ngôn ngữ Nietzsche chỉ mong muốn đọc bằng một ý thức khoái cảm với một sắc tố của nó, một kiểu thức tư duy bằng những xác thực cụ thể, trong sáng và hào khí cho một triết thuyết mà Nietzsche đã viết lên. Không có một tác phẩm nào của Nietzsche mà không nói đến chúng ta. Như thi sĩ Rilke nói : “Archaic Torso of Apollo”: ‘Bạn phải biết thay đổi đời bạn /You must change your life’. Vì rằng; cuộc đời này là một bản ngã tự tại, không bao giờ nhận biết thực hư, không bao giờ biết ngã và tha, và không bao giờ biết ta là ai giữa đời này. Mà đã đôi lần Nietzsche kêu gào: ‘đạp đổ cái cũ để xây cái mới’ đó là sự chối bỏ của Nietzsche để quay về với thực tại. Nghĩa là Nietzsche đồng ý với Phật giáo: ‘Phật vô ngã mà hữu ngã’ điều mà con người tưởng là ngã mà không ngã. Thượng đế sống hay chết mà chúng ta tưởng là ngã nhưng không phải là ngã. Rứa thì răng? Có chi mô. Nghĩa là đừng thấy mình trước vì thấy mình tức chấp ngã mà phải phá trừ để tới tánh không ‘néant / nothingness’ Rứa thôi!


-‘Phát sinh của Bi thảm / The Birth of Tragedy’ là bản tự phê, tự kiểm (self-criticism) là một thái độ cao điểm của con người tự thấy mình mà hầu như đó là sự phê phán ngoài những gì khác hơn như chỉ thẳng vào mặt của sự phát sinh ra bi thảm. Có lẽ; những giòng thi ca của Aristotle là phản ảnh được đôi điều về bản thể bi thảm của con người. Rứa thì tìm thấy gì ở cái bi thảm đặc vô trong đó? Chỉ có cái buông trải của Hegel mới nhận ra được sự sống thực giữa hữu sản và vô sản. Nhưng đó không phải là những gì từ chối cho Aristotle, Hegel và Nietzsche mà là có một cái gì phong phú vĩ đại để thẩm định cái nghĩa bi thảm; có thể có nhiều điều khác hơn nữa. Không phải cái sự phát sinh ra bi thảm với Wagner mà nó còn là một đánh đổi có tính chất liên quan đến khoa học nghệ thuật, với những gì thuộc hiện tượng văn minh cổ đại Hy Lạp và ngay cả thời hiện đại. Nhưng trong Phát sinh của Bi thảm là có nhiều điều vượt giới hạn con người và hơi mù tăm; để rồi tự chính ông tự thú trong phần 3 của tập truyên qua mục ‘Nỗ lực để có một tự-phê / Attempt at a Self-Criticism’ thời đó là cơ may để có những so sánh qua những thể cách viết sau này của Nietzsche, cả hai văn chương và triết học. Giáo sư Gerald F. Else phải thốt lên rằng ‘Phát sinh của Bi thảm’ là tác phẩm vĩ đại, bởi bất cứ là gì đi nữa, tiêu chuẩn của nó như định lượng được giá trị của nó. (p.10 trong TBoT) Và ông còn thêm vào: ‘tác phẩm có một tính chất mê hoặc vào hầu hết mọi người mà ông đã giao thông trao đổi với chủ đề từ năm 1871’(The Birth of Tragedy has cast a spell on almost everybody who has dealt with the subject since 1871). (Preface of TBoT. p. 5). Nhớ cho; ‘The Birth / Phát sinh’ đưa ra ý niệm được phổ biến rộng rãi và đón nhận mãnh liệt về những gì có liên quan đến Hy Lạp bởi nó vẫn được coi là tiên phong, khai mở một nền văn hóa cổ đầy tính trừu tượng và siêu hình của Johann Joachim Winckelmann (1717-1768) và phỏng vào thơ của Goethe (1749-1832) trong tập: ‘edle Einfalt, stille Grosse / noble simplicity, calm grandeur / cung cách, cao sang’. Dẫu là tượng trưng như kẻ đưa đường dẫn lối; Nietzsche đã vận dụng trí tuệ dùng Apollo và Dionysus như ký hiệu cho những gì thuộc về Văn hóa Hy Lạp mà đã tìm thấy đề đài qua những tượng thần: thiên tài về cầm quyền, đặc quyền về đạo luật và điều hợp nhân tính. Cho nên chi ‘Phát sinh / The Birth’ là nặng chất vừa huyền bí, vừa siêu hình mà Nietzsche dựng nên hai nhân vật vĩ đại Apollinian và Dionysian là những gì được nói đến như một thành quả cho tất cả của Hy Lạp; mà Nietzsch cho đó là tụ điểm phát sinh về tư duy của nhân loại. Trong tập ‘Phát sinh của Bi thảm’ đạt tới một khí hậu thuần hóa trong những chương về sau (đặc biệt ở chương 7); là một liên lạc, nối liền nhau với thuyết hiện sinh ở Pháp…Thật ra tư duy đó Nietzsche chịu ảnh hưởng đôi phần của Schopenhauer, nhưng đứng trên phương diện triết học Nietzsche đã làm sáng tỏ ý niệm độc lập khác những gì Schopenhauer đề ra, nghĩa là Nietzsche ngưỡng mộ một cách chân tình đối diện tới những gì hãi hùng và hiện hữu. Chính bản thân Nietzsche là người tán dương những gì bi thảm của xã hội cổ xưa Hy Lạp như một giải pháp tuyệt đỉnh của Schopenhauer nói về những gì thuộc dục tính trong Phật giáo ‘Phật tính chối bỏ dục vọng / Buddhistic negation of the will’. Nietzsche coi đó là bi thảm con người và xã hội và chính ‘tragedy/bi thảm’ mà Nietzsche phải học hỏi, cái đó chính là cái làm cho con người có thể khẳng định cuộc đời đang sống như là một điều cao cả phi thường, cái đẹp tuyệt đối và là niềm vui hạnh phúc, cho dù có đau thương hay tàn nhẫn đi nữa. Nietzsche hô hào diệt dục, vị tha để tới tánh không. Bên cạnh đó ‘Phát sinh’ được thừa nhận như một hiến chương chống lại tư duy chủ nghĩa Socratism. Kỳ thực Nietzsche không hẳn chống đối hoặc nhận cho một cách kịch liệt về Socrates, cũng như không chống hoặc cho những gì thuộc Apollo hay Dionysus mà có thể trong đó coi như ‘thần tượng’ mà người đáng suy tôn. (đầu sách ‘Phát sinh của Bi Thảm’ Nietzsche đã dâng tặng ông nội mình là Apollinian và bà nội mình là Dionysian) Thì việc tuyên xưng hai nhân vật vĩ đại cổ Hy Lạp không làm cho ta thắc mắc, ngạc nhiên hay vấn đề tại sao Nietzsche lại truyền thuyết như vậy. Cái đó nói lên tính anh hùng nhân bản; một điều thiết tha mà Nietzsch đã viết và đã nói qua nhân vật Zarathustra. Giờ đây chúng ta đã thấy được đôi phần cái tượng hình siêu lý trong ngữ ngôn của Nietzsche. Không còn gì là siêu hình.

Socrates đã đưa vào chỗ ‘Phát sinh / The Birth’ cái gọi là lòng tôn kính thuận ý Chúa, bình quyền như Apollo và Dionysus. Đương nhiên; ở đây Nietzsche bắt bẻ, chỉ trích cái năng lực, quyền uy là điểu không thể miễn trừ ngay cả thượng đế mà Nietzsche tìm thấy ở Socrates một cái gì khó khăn cho vấn đề. Nhưng Nietzsche đến với Socrates với một tấm lòng của kẻ tái tạo nghệ thuật; dù là gì vẫn coi Socrates là một‘Socrates nghệ thuật / artistic Socrates’ là đủ cả phẩm và lượng,chớ không có dấu hiệu chống Socrates. Còn việc Apollo và Dionysus đến như một tổng hợp trong bi thảm mà chính cái sự tổng hợp là một phủ nhân nơi Socrates. Có thể là ý nghĩa của Plato? Hỏi như rứa thời tất có một đối kháng giữa Socrates và Nietzsche? Hoàn toàn không có chuyện đó mà có thể đây là một xét lại cái sự tương quan của Plato. Nietzsche nhìn về phiá triết học như một thừa nhận, như một diện mạo bi thảm cuộc đời, như các văn nhân Hy Lạp đã làm; nhưng cái sự cớ đó không phải là sự hi sinh, hiến tế bởi trí tuệ mà là từ chối những gì Socrates đề ra giữa niềm tin, nhận biết, đạo đức và hạnh phúc. Cái nhìn của Nietzsche là nhận đau khổ như một định hệ chớ không phải nhìn đau khổ để có niềm tin. Do đó sự chối bỏ thượng đế là ở chỗ ‘phát sinh của bi thảm. Cái đó là ‘vốn tự tại’ (kinh nhà Phật) hay ‘lỗi tại tôi mọi đằng’ (kinh Thiên chúa) là lý do chính đáng để khởi sự viết. Nietzsche nhìn thấy và nhận biết cái bi thảm loài người như một dính liền giữa thượng đế với con người. Nietzsche viết gì ? viết bằng một tư duy lý luận cổ Hy Lạp, lấy thần thoại siêu hình để lý giải bằng sự thật của triết học; vừa là đả thông vừa là nhận thức để không còn bế tắc. Vì vậy; Nietzsch dùng tựa đề: ‘Phát sinh của Bi thảm / The Birth of Tragedy’ hay còn gọi là: ‘Văn hóa Hy Lạp và Chủ nghĩa Bi quan / Hellenism and Pessimism’ là một nhấn mạnh trong thử thách tự-phê /Attempt at a Self-Criticism. Đó là trọng điểm Nietzsche viết lên như lời nhận tội ngay cả những tác phẩm về sau.

- Ngoài Tốt và Xấu / Beyond Good and Evil là một trong những tác phẩm quan trọng, được chia ra làm chín phần, mỗi phần phân tích rõ ngọn nguồn, sự cớ để thấy được tư duy và phong cách của Nietzsche khi viết thành văn. Tập này phát hành đã gây tiếng vang trong dư luận và gần như cốt tủy. Nietzsche đã tìm thấy ở đó một cuộc tranh cải và vẫn còn tranh cải. Nhưng càng tranh luận càng đưa tới cảm thông hơn là trách cứ và từ đó tên tuổi ông lớn dần theo thời gian –He sought controversy and is still controversial. But the are of agreement about him is growing. Nietzsche was controversia to the marrow.

Nietzsche nói gì? Khi phát hành: ‘Zarathustra Thốt Thế đấy / Thus Spoke Zarathustra’ vào năm 1886 là nhìn tổng quan về sự thế và lý nhân sinh; là trọng tâm nhìn tới cho một cố gắng bước đầu giới thiệu đến triết thuyết. Những tác phẩm trước đây chỉ là giảo nghiệm và mở mang trên đường chữ nghĩa (words) và văn nghiệp của ông. Riêng ở chương cuối thì lại bắt đầu cho một nhận biết để thực hiện nhưng tầm xa mà ở đó có thể cảm thông dễ dàng hơn. Theo Nietzsche nghĩ. Nhưng trong Zarathustra với tư tưởng đó cho một tác phẩm bao gồm về những gì có thể nhận biết được sự ngay thẳng của lý thuyết, mà đây hình thức của cái gọi là gián tiếp truyền thông ‘indirect communication’ là điều mà Kierkeggard thường xử sự cho: văn chương và ở đó có một gì nói lên cái thừa thải của chủ nghĩa tượng trưng; là những gì chất chứa đầy ấn tượng trong một trí tuệ siêu việt của Nietzsche để thành hình ‘Ngoài Tốt và Xấu / Beyon Good and Evil’. Nietzsche hân hoan và tin những gì viết lên đó như một dự ước, như một tiên tri. Gởi thư cho bạn (Jacob Burckhardt) : ‘Bạn vui lòng đọc tập sách này, dù có lập đi, lập lại là những gì như Zarathustra của tôi nói, nhưng khác hẳn, rất khác biệt… / Please read this book; although it says the same things as my Zarathustra, but differently, very differently…’ Có thể một lý do khác do từ viễn cảnh hay trong nghệ thuật văn chương của ‘Ngoài Tốt và Xấu’ đã cho chúng ta thấy được nó ở một vài quan điểm tương tợ của Kierkeggard và Ibsen trái với Freud và Sartre thì lại có cái nhìn khác. Thời biết bao tư duy, bao nhiêu luận bàn mà Nietzsche mô tả qua một ‘cung cách/nobility’ cao qúy về ‘cái tốt’ và những gì tệ hại của ‘cái xấu’. Nhưng trong tinh thần của Zarathustra là cả một biểu lộ hướng đi của mình: ‘this is my way!’; chỉ một câu ngắn gọn là cả một bao hàm của sự hướng tới, một quyết định tối hậu cho những đối thoại khác của Zarathustra, một đối thoại gần gũi với Dant và Dostoevsky mà mỗi tiếng nói được viết lên như một thông điệp nhắn gởi thế gian không có một sách nào nói khác hơn. Ngữ ngôn trong tác phẩm của Nietzsche duy nhất và sáng tạo, ngữ ngôn của lý luận chân lý. Có thể tác phẩm nói lên được yếu tính giữa con người với con người, giữa người tiên tri và đấng hằng cửu làm nên tác phẩm lớn: một tiên đoán độc lập cho một tinh thần của nó; hằng trăm cánh cửa được mở ra cho trí tuệ, khám phá những triển vọng mới, những vấn đề khúc mắc, những quan hệ gần gũi và những gì cống hiến đến sự nhận biết của chúng ta với những tư tưởng gần đây của văn chương và lịch sử. -It is possible to say briefly what makes the book great: the prophetic independence of its spirit; the hundreds of dơors it opens for the mind, revealing new vistas, problems, and relationships; and what it contributes to our understanding of much of recent thought and literature and history (Portable Nietzsche.p.307) Chính vì vậy mà đã đưa ra những câu hỏi hay vấn đề lý luận giữa những tương quan liên đới vào nhau và khác biệt vào nhau của khoa phân tâm lý, khoa lý luận phân tích triết học hay thuyết hiện sinh; ấy là những thứ tồn trử trong tác phẩm . Đặc biệt ở ‘Ngoài Tốt và Xấu’ là cả trọng tâm mà Nietzsche muốn viết và nói lên những gì mà con người vốn đã chất chứa.. Nguyên nhân sự cố trong ‘Beyond Good and Evil’ là không phải cô lọc những gì thuộc về ngụ ngôn hay điển tích cho một sự mua vui, giải trí (browsing) mà đọc để xuyên suốt vào hồn. Mỗi theo đuổi hành trình là một mớ phức tạp của vấn đề, là những gì được nói ra qua từng phân đoạn luận thường là một quyết định có trọng lượng cho những gỉ sắp tới và sẽ tới. Đấy là tác phẩm phải đọc nhiều lần và để cùng sống với nó.

-Hệ Tính của Luân Lý / Genealogy of Morals là một tác phẩm rất gần gũi; đến từ trong những tác phẩm của Nietzsche, ít nhiều qui tụ phần triết lý có gốc gác, ngọn nguồn Anh Mỹ (Anglo-American): nó chứa đựng ba cái đòi hỏi, một cái gọi là tự-tồn / self-contained (không phải tồn lại hay tồn lui hay tồn tồn…) mà là tồn-chứa, tồn-nén, tồn-chế và đương nhiên nó có dính dáng vào hai cái khác; dù cho có ví von hay đùa cợt hay mua vui, giải trí hay là gì đi nữa thời tất cái hệ tính của luân lý đều là ba tiểu luận chính. Dẫu nhiều hay ít trong mỗi tiểu luận đều nói tới đạo đức, luân lý một vấn đề phản ảnh được chiều sâu tâm lý thuộc triết học gốc Anh Mỹ. Ấy là điều đã giao tiếp với Niezsche trong một tiết độ nhiều hơn là khuynh hướng đơn phương như thường dùng. Nietzsche chỉ ghi chú ở mỗi đề mục như có nghĩa phụ trợ vào đó một giải thích làm sáng tỏ vấn đề, ngược lại; Nietzsche cũng chẳng phải thiết nghĩ rằng ‘Hệ Tính / Genealogy’ là điều làm cho người ta sẳn sàng hiểu ngay tự chính nó và ở phần cuối thì lại viết lời tựa. Không! Nietzsche muốn giải thích trọng tâm bề dày của tác phẩm nhưng đúng hơn là nói lên cái sự tương quan gần gũi của con người với con người có tôn tri trật tự, có trên có dưới đề huề. Đấy là ngụ ý của tác giả mang nặng chủ đề triết học ‘hệ tính’; thực ra cái nghĩa đó là điều thực tế để học hỏi.Nó dễ dàng thu nhận như gần đây cho tất cả những gì có tinh chất dài dòng văn tự và tự quan trọng lấy (self-important) để rồi làm mất giá trị cho một tiểu luận triết học. Đọc tựa đề này nghe như mơ hồ tối nghĩa, nhưng nó rất sáng tỏ; đồng thời Nietzsche đã có dự kiến ‘hướng về / toward / Zur / On the / văn chương thì gọi Towards the ’ Dù có viết nguyên trạng Đức ngữ: Zu Genealogie der Moral hay viết ra Anh ngữ: On the Genealogy of Moral thì cùng một nghĩa nói lên cái giá đạo đức, luân lý. Rứa thì đòi hỏi gì nữa đây?. Chỉ có một và chỉ một mà thôi; chắc chắn chỉ có một lối đi. Lối ấy là luân lý. Chớ còn lối nào? Lạ quá! cứ mỗi lần như thế là đo cưa, bắt lý phải trái. Ăn cái chi trong cái đòi hỏi đó. Mà đòi cho bằng được thời không hiểu (ý thức) chi về Nietzsche cả; rứa thì làm răng hiểu được việc lớn hơn...Đủ quá rồi đây chơ! Răng gọi là ‘hệ tính’. Hệ tính là lấy cái từ ‘Zur’ tức là ‘On the’ thời đúng nghĩa Anglo-American (trong tự điển Đức/Anh-Anh/Đức). Nói cho rộng nghĩa đó thôi. Chớ nó bao gồm nhiều loại thứ khác nhau trong ngữ ngôn mỗi khi Nietzsche cảm nhận hay dùng tới. Vì vậy; Zur hay Zum là làm sáng cái nghĩa ‘Hướng / Toward’ có thể là ‘Hồi hướng’(?) Cho nên chi Zur là Hướng của vấn đề. Thí dụ: Zur Frage der Verstandlichkeit dịch: ‘On the Question of Being Understandable’ hay là ‘toward the question of understandability’ thì cũng giống nhau thôi. Hay là Nietzsche ưa ‘chơi chữ’ (có thể). Không! ngữ ngôn dùng trong tác phẩm của ông là hàm chứa một tính chất vi diệu, một đặc thù của siêu hình là ẩn tàng theo khoa triết học. Còn viết về triết là dựng nên thuyết siêu lý. Nó là đặc chất nhân tính trước một vũ trụ hiện hữu. Thành ra văn chương triết học, nhất là ngữ ngôn Triết học của Nietzsche vừa thâm hậu vừa suy tư. Và ngay cả Heidegger cũng thường có hướng nhìn như thế từ những khi có vấn đề đặc ra. Nhưng; Nietzsche thì không. Bởi; nếu xử dụng như vậy có thể không đủ nghĩa để nhận ra thẩm mỹ ngữ ngôn của triết học mà phải có một cảm nhận để đả thông cùng với tác giả thì may ra lãnh hội và ý thức được điều kiện nêu trên. Việc này đòi hỏi có tầm cở, dù rằng xuất thân từ triết học, dù là đi qua cửa ngõ của các trường lớp. Hiểu Nietzsche có thể là điều dễ dàng nhưng có thể không hiểu Nietzsche là điều khó khăn.Tập ‘Hệ Tính của Luân Lý’ ở đây là một giáo khoa thư, một ngụ ngôn ở phần đầu tác phẩm. Răng rứa? Bởi; Hệ Tính / Genealogy chứa một chất liệu thông thường trong đời sống bình thường có thể đưa tới lạc hướng (misleading) cho một hình thức phô bày hay tượng trưng mà bằng dẫn chứng của ngụ ngôn mới đầy đủ ý nghĩa lý luận triết học.

Sự tìm thấy của Friedrich Nietzsche về ‘ressentiment’: là cảm nhận cái đắng cay mùi đời, cảm thức về một điều tuyệt vọng ở cái lúc mất năng lực để bày tỏ cho một nghịch lý vô cùng. Đồng thời cảm thức đó cấu thành một trong những cống hiến có tính chất tâm lý và giúp soi rọi một cách rộng mở những gì chưa thông đạt về Nietzsche và chính cái sự thông đạt đó là một biện chứng của Triết học mà Nietzsche viết ra một cách sâu sắc, ý tứ uyên thâm. Việc đòi hỏi những gì của giáo điều Thiên Chúa giáo luôn ngợi ca tình yêu là nghĩa cử cao đẹp của tín đồ “đau của hoa / flower of ressentiment” không chừng đưa tới thảm họa. Ý niệm của Nietzsche về cái sự uất hận/ressentiment cũng có thể là một luồng ánh sáng soi rọi vào sự tiếp nhận cho tư duy của ông. Nietzsche bình giải và cho rằng những gì thuộc nô lệ đạo đức và những gì nô lệ phản kháng trong một luân lý thường được suy xét một cách cao điểm giữa đối kháng và phẩn nộ qua sự kiện chống đối ngữ ngôn Trung Đông (anti-Semitism) đấy là điều mà ông cố gắng tránh né, thế nhưng sự kiện đó có thể là một nghi ngờ chất vấn, trách cứ, lên án bởi sự hiện hữu của Nietzsche là lý do chính đáng làm vật tế thần suốt cả đời. Chính cuộc đời là một thảm họa bi đát mà Nietzsche đã nhận ra được.

- Trường Hợp của Wagner / The Case of Wagner. Giữa Nietzsche và Wagner là bạn chí thân. Nhưng tình thân là một việc, tư tưởng là một việc. Một đằng chuyên về hệ tư tưởng , một đằng chuyên về âm nhạc để rồi đi tới bất đồng qua mỗi tư duy. Ở đây chúng ta không ghi lại sự quan hệ tình cảm của hai nhân sự trong một chi tiết lý giải hoặc nói về giá trị của hai lãnh vực hay phát thảo về phiá sau đời họ mà chúng ta chỉ đáp ứng nó như một tiểu luận của sự kiện. Giữa hai người cùng tuổi, cùng trang lứa với Verdi và Kierkeggard ; họ là những bậc thiên tài lớn, đều được biết đến như chỗ thân tình của Nietzsche. Nhìn xa hay nhìn gần Nietzsche quá quan tâm, chú ý vấn đề, trọng điểm là suy xét đúng đắng đấy là điều chắc chắn mỗi khi Nietzsche hạ bút. Chính cái sự đắn đo ‘con-chữ / the word’ là một cẩn trọng trong khi viết. Dù là viết về ngụ ngôn, bông đừa, trào lộng con-chữ phải biết xử sự đúng hoàn cảnh thời mới thích hợp và chính xác (khác với đời nay; hay vì văn chương hiện đại hóa mà con-chữ tung hoành một cách bừa bãi trong văn và thơ. Chính cái đó là ‘tragedy’ bi thảm của văn chương. Do đó không tìm thấy những lỗi lầm vấp phải, có lẽ; dễ đả thông của ‘vi-tính-học’ hay do khả năng người chủ biên vi tính xử lý mà ra?). Đối với triết học xử dụng con-chữ là điều ắt có và đủ mới thành văn. Răng rứa? Vì triết là cơ bản lý luận biện chứng. Bởi; Nietzsche ngại nghi cho tất cả sai lầm hay bươi móc và khuyết điểm suy tư –for all his faults and foibles.Vì vậy; điều tha thiết của Nietzsche là cảm hóa trong một ngữ ngôn thấm nhuần của ngữ điệu nhất là ngôn ngữ triết học…Trường hợp của Wagner như đã biết, ông là một nghệ sĩ lừng danh và cũng không thể so sánh nổi, nhiều mê hoặc hơn người khác mà Nietzsche biết. Chính vì vậy mà rất gần gũi bên nhau để có thể lắng nghe hay trao đổi về những tác phẩm của Nietzsche và thanh điệu trong dòng nhạc của Wagner. Hoà nhập vào nhau để sáng tác. Họ tìm thấy những gì hiếm hoi, một đặc quyền mà tuồng như sự gặp gở đó dành cho cả hai thiên tài. Nietzsche đã tìm thấy quê hương thứ hai trong đời mình nơi Wagner. Và; tương quan đó gây cho Nietzsche nhiều hứng khởi để viết về sau này. Tuy nhiên; vẫn có nhiều thắc mắc và thúc bách trong Wagner và có nhiều ý kiến muốn tỏ bày một cách dứt khoát với Nietzsche, bởi nó có những gì mơ hồ không minh bạch nhưng trong cái đánh giá nhỏ nhen đó chính là điều lợi ích cho nhau giữa tình hữu nghị, điều suy nghĩ của Wagner đã làm cho một số bạn bè, khách quan không đồng ý và cho rằng nhận định đó thiếu đi những gì nhận biết của Nietzsche trên cơ bản của những gì tinh thông được tóm gọn trong tư tưởng của Nietzsche –masterly epitome of Nietzsche’s thinking. Có thể trong số người nói đến những gì chưa thông đạt về Nietzsche là thứ chủ nghĩa cá nhân hoặc ‘cuốc xẻng/hacks’đưa dẫn đến những gì lạc hướng về hình ảnh của Nietzsche. Nói về phát biểu của Wagner thì đây như là tham vọng đòi hỏi cho một cái gì chi phối về mình –insatiable lust for domination. Dẫu là chỗ thân tình nhưng trong cái dục/lust thời không thể không có cái nộ khí lồng lộn bên trong /jealousy ở mỗi con người. Freud thừa nhận điều này; có hai bề mặt của nó một phần ở nội cung/inner và một phần ở ngoại cung/outer chớ không ai nói rằng tôi không có hỉ nộ ái ố. Nhận thức sai lầm của Wagner đi tới tan vỡ với Nietzsche. Ở mặt này khó định lượng cho một tình cảm trung thực, ngay cả sư sãi hay người cầm bút cũng vậy. Nietzsche hiểu trạng huống này nên hô hào giải phóng tư duy để không còn dục kể cả dục thể xác (nhưng phải tiết độ) đó là lần gặp Nietzsche sau này (1878) Wagner gởi cho Nietzsche tập Parsifal và cùng năm đó Nietzsche gởi tặng tác phẩm mới nhất đến Wagner tựa đề ‘Con người-Tất cả-Cũng là-Nhân loại / Human, All-Too-Human’ với phương châm từ Descartes để dâng tặng Voltaire. Nietzsche đã mở mang tư duy từ Schopenhauer đến Voltaire và từ những gì viết về tiểu luận lãng mạn đến ngụ ngôn đều ảnh hưởng vào mẫu mực Pháp và đề xuất nhiều ý kiến tốt về những người Âu (good European). Những gì xẩy ra đều hiện ra dưới con mắt vị tha của Wagner. Ân hận lớn đối với Wagner. The Case of Wagner không phải do từ cảm xúc bởi một ác ý đột khởi và chinh điều đó Nietzsche cảnh giác và không còn đứng trong vị trí tương tợ như thế nữa. Nietzsche đối kháng với Wagner có lẽ hầu hết trong những bút pháp đẹp từ đó và về sau dành cho một thẩm định cho Trường hợp của Wagner. Chắc chắn sẽ có một nhận định cho tương lai của hai người.

- Ecce Homo: là một trong những ‘của qúi’ văn chương thế giới. Đã viết vào năm 1888 và phát hành đầu tiên 1908; đã bị lãng quên hoặc có cái nhìn sai lầm cho một tác phẩm lớn hay do tư duy vượt thoát mà chưa hội nhập vào thời điểm đó, và; sợ rằng cho tới nay hiểu Nietzsche chắc là con số dè dặt. Răng rứa? Có nhiều lý do để hội nhập, để đả thông. Hẳn nhiên; nó là một lợi ích của sự khai phá tư tưởng về tác phẩm của ông, về biểu tượng ý nghĩa…và điều đó sẽ cho chúng ta một niềm vui sau này với tất cả những gì bao la, vi diệu của văn chương trên những tác phẩm của Nietzsche, dù cho một cuốn sách nhỏ mà ông đã viết. Khi nhận ra được điều đó thì ngữ ngôn văn chương của Nietzsche là mê hoặc (có lần Wagner nói thế). Nhưng ‘Hãy nghe đây Thế gian / Ecce Homo’ rõ ràng không phải là tác phẩm của một mô phạm giáo khoa mà tất thảy là thiên tài vốn có trong ông –But Ecce Homo is clearly not the work of a pedant whose genius has quit him. Một tác phẩm tự nó nói lên tính nghệ thuật và đánh dấu điểm cao trong văn xuôi Đức.

Trong số tác phẩm Nietzsche đã viết sớm trước đây, đặc biệt ‘Phát sinh của Bi thảm’ và những gì ‘non nớt /untimely’ trong cái việc suy ngẫm để viết thành văn như một chứng từ biên niên lịch sử (historiography) nhiều hơn mô tả mà đưa vào những hình tượng cổ Hy Lạp như một chứng minh lịch sử đương đại. Nhưng chỉ là một điểm tựa nhỏ và bây giờ không còn là đáng kể (bởi đó là lý do dẫn chứng như một phạm trù triết học) mà dựa vào (reckon with) như một dự tính, mặc khác; luôn luôn tạo được niềm thích thú, hứng khởi khi xử dụng lối văn gần như cách ngôn trong tác phẩm của Nietzsche là cái nổi bực trong văn xuôi Đức ngữ. Do đó khi đưa ra nhân vật Zarathustra đã làm cho người đọc ngưỡng mộ là thế. Vì vậy danh xưng hay những gì xẩy ra trong văn phong không còn là ngẫu nhiên mà một dụng ý sâu sắc về mặt tâm sinh lý nhân vật, đồng thời là cả một trầm tư/meditation để viết. Tựa đề ‘Hãy nghe đây Nhân loại / Ecce Homo / Behold the man!’ của Pilate (John 19:5) kẻ cầm quyền phán xét Jesus. Ecce Homo còn mang một tựa đề khác: ‘Biến đổi trên Chủ đề Socrates /Variations on a Theme by Socrates’; có thể nhìn như văn chương nhưng trong vấn đề ‘Chống Chúa / Antichrist’ chủ ý của Nietzsche nói lên cái dứt điểm của hữu và vô hữu, giữa Thượng đế và con người.Tuy nhiên; vẫn có một ít hoài nghi trong ‘Ngoài Tốt và Xấu’ và ‘Hệ tính của Luân lý’ nhưng lại là tác phẩm nhẹ và hàm chứa.Trái lại; ‘Trường họp của Wagner, ‘Thần tượng của Huyền ảo /The Twilight of the Idols’ ‘Chống Chúa’ và ‘Hãy nghe đây Nhân loại’ là giới thiệu một tiếng dội lớn lao, một thanh âm vang dội mà không tìm thấy trong văn chương văn xuôi. Nói chung tất cả những tác phẩm của Nietzsche sáng giá và để đời qua lối xây dựng cũng như văn phong khác biệt.

Những tác phẩm cuối của Nietzsche, không chứng tỏ khó hiểu hơn Ecce Homo. Một chân dung tự họa không có chi mô răng rứa, không có chi thuộc tự nhiên chủ nghĩa hay cá nhân chủ nghĩa mà nó như đụng vào một chân trời rộng mở, có cái gì cực kỳ ‘điên rồ/insane’ trong sáng và không thể coi thường. Đây là một phổ biến rộng ở những bậc thức giả và những người muốn biết sự thật bên trong tâm hồn, một viễn ảnh không có chi để nghi ngờ sự sai lầm. Thiếu đi thiên tính tự nhiên thì không lấy gì bằng chứng cái sự ngu xuẩn điên rồ; nhưng lại là một kiểu mẫu tối thượng -với một chút gì thôi cũng đủ vẽ lên một bức tranh toàn sắc vào thời đó –The lack of naturalism is not proof of insanity; but a triumph of style -of a piece with the best painting of the time-. Dẫu có nhìn dưới một bầu khí quyển nào đi nữa, định nghĩa thế nào thời đó không có nghĩa rằng chân dung ấy vẽ quệt quạt cho ra vóc dáng là lối của thợ vẽ mà ở đây vẽ một thứ chân dung thật ở nội cung vừa lạ và chưa ai có; cái đó không thể phớt lờ hay lãng quên được. Trong hai trường phái (văn và họa) Nietzsche và Van Gogh đáng trân trọng; có thể Nietzche là một so sánh với Van Gogh. Nhưng; mỗi thứ có một tuyệt đối của nó mà chỉ đưa ra để thấy cá tính thiên tài của họ mà thôi.

Ecce Homo không phải là ‘chất lượng’ để điều hợp đúng hoàn cảnh cho một ý niệm thông thường về triết học. Nó cũng chẳng phải là tầm xa trí thức đối với những nhà chuyên môn hoặc những nhà thông thái rởm, lấy cái sự đó mà làm dáng. Rứa thì răng đây? Đừng hỏi răng rứa, rứa răng nầy nọ. Bởi nó chứa cái ‘buồn-nôn’ trong cái thùng rỗng. Nó chứa cái u mê triết học (donnish-phylosophy). Đó là sự cớ của bi thảm nơi con người dựa vào sách báo đủ cở (tomes và articles) tạp nham, dùng biệt ngữ để chứng tỏ. Một thứ bi thảm ngôn ngữ, bi thảm văn chương, một thứ đội lốt triết học. Nhưng không phải là triết học. Kiểu dáng đó không ai cho là thời thượng mà ảo ảnh thời đại. Nói vòng vo tam quốc để soi rọi chân tướng thực giả của con người qua thể thức và dáng điệu. Có như vậy nhận thức về Nietzsche có chiều sâu triết lý hơn là triết lý bằng mồm. Rứa răng? Đúng! Vì trong ‘phát sinh của bi thảm’ là tạo một âm vang rối rít, chằng chịt của Apollinian và Dionysian và cái chết của bi thảm đến từ một tư duy chèn ép vì những gì mà Nietzsche viết là hầu hết trong ký hiệu của Socrates. Để rồi về sau (cuối đời) Nietzsche tìm thấy tái sinh (rebirth) của thảm kịch nơi tác phẩm của Wagner. Tự mình nhận ra hướng đi nơi con người Socrates là con người nghệ sĩ; có nghĩa rằng tất cả là ‘không/ néant/nothingness. Ecce Homo là một ăn năn của những gì thuộc về nghệ thuật Socrates –Ecce Homo is the Apology of this ‘artistic Socrates’.Triết đã tôi thế đấy!

Tóm lại; qua năm tác phẩm của Nietzsche để lại là một bằng chứng hùng hồn, những gì ông viết ra như lời chứng của con người. Nhưng đó là cốt tủy chớ không phải gợi ra từ ý nghĩ trong những gì giản đơn và gần gũi giữa con người và Thượng đế. Nhiều điều gần gũi hơn cho việc đối kháng. ‘Hãy nghe! Nè con người! Đây mới là mới mẻ; một hình ảnh khác biệt của nhân loại, không thánh thần, không ngôi thứ và hơn cả mọi tập truyền của đấng hiền triết. Mà bằng một quan điểm hiện đại’. Đó là những gì Nietzsche đã viết như lời sấm động.Ngẫm ra triết thuyết của Nietzsche là chứng thực nếu hiểu một cách rốt ráo, bằng không chỉ gọi tên người: Nietzsche ơi! sao mà cao siêu diệu vợi; là vừa đủ cho một tư duy thâm hậu ./.


(ca.ab.yyc. Khởi từ 11/2015 đến 1/2016)


* Friedrich Nietzsche (1844-1900) Sinh và chết ở Đức quốc. Giáo sư triết học Đ/h Basel Switzerland (1869). Để lại nhiều tác phẩm lớn.

SÁCH ĐỌC:

1.The Birth of Tragedy. -2. Beyond Good and Evil. 3. On the Genealogy of Morals. 4. The Case of Wagner. 5. Ecce Homo.

Trans. by Walter Kaufmann. The Modern Library. By Random House. New York USA. Toronto Canada 1968.

ĐỌC THÊM:

Một số bài về Nietzsche và những bài liên quan tới Nietzsche trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước đã thực hiện từ 2010 đến 2016 hoặc email qua điạ chỉ : lvocong@hotmail.com



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 23.01.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004