Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Nhìn lại 37 năm

Chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc thời hiện đại

(17/2/1979 – 17/2/2016)


Đọc lại Binh thư Tôn Tử, Trung Quốc áp dụng chiến thuật :
“Kẻ nào ra tay trước, kẻ đó thắng!”




T hời chiến quốc ở Trung Hoa, cách nay mấy ngàn năm, lịch sử còn gọi là thời Đông Châu liệt quốc tự diễn biến trên dưới một ngàn năm trên lãnh thồ rộng lớn như ngày nay với diện tích 9,6 triệu km2, chiếm 6,5% diện tích trái đất, phân chia thành Xuân Thu (770-476 trước công nguyên) và Chiến Quốc (475-221 trước công nguyên), gọi là thời kỳ chiếm hữu nô lệ, theo lịch sử tiến hóa của nhân loại. Do số nước không đếm được, lớn nhỏ khác nhau, gây chiến lẫn nhau theo kiểu mạnh được yếu thua, để tàn sát lẫn nhau, tranh đất, tranh dân, tranh quyền làm chủ với mục đích loại trừ bớt. Đánh nhau để loại trừ nên kéo dài ngàn năm, để cuối cùng còn lại một số nước có khả năng ngang bằng rồi tương nhượng nhau đề sinh tồn. Đó là chiến tranh cát cứ, còn lại 7 nước, rồi chỉ còn 1 là Tần (do Tần Thủy Hoàng làm bá chủ).

Ngày nay, trong sách vở chính thức, Trung Quốc luôn tự nhận có biển tiếp giáp với Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia mà không nói tới Việt Nam, Triều Tiên. Đây là một mưu đồ đen tối độc chiếm biển Đông (từ biển Trung Hoa tới biển Việt Nam). Đó là nguyên do có một dường lưỡi bò ngu ngơ, ảo tưởng mà Trung Quốc tự vẽ ra từ vài năm qua – Từ điển bách khoa, nước Trung Hoa mới, NXB KHXH Hà Nội 1991, trang 12.

Nước Việt dân Lạc là một trong số những nước bị loại ra khỏi vòng chiến sau một ngàn năm hỗn chiến mang tính sắc tộc, dân tộc đó. Chạy về phương Nam là thực hiện theo sách lược của tổ tiên “Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng” – Trong số 36 kế sách đánh giặc, chỉ có kế sách “rút lui” hay “chạy trốn” là tốt nhất. Đó là kế sách của nước nhỏ khi có chiến tranh giữa hai nước. Từ đó cho tới nay, trải qua hàng ngàn năm nữa, dân Lạc nước Việt trở thành tên gọi chung nhất hiện nay là Việt Nam, kể từ thời định cư ở Phong Câu - Vĩnh Phú. Danh xưng này còn thể hiện một quốc gia, một dân tộc nhỏ bé nằm ép mình ở một góc phương Nam châu Á hay đối với Trung Hoa vĩ đại, tàn ác. Nhưng rất may mắn cho dân tộc thuộc dòng giống Tiên Rồng này, việc định cư ở nơi này lại được tồn tại lâu dài do phong thủy, vị trí, địa lý thuận lợi và con người biết đoàn kết với nhau, sống chung theo “tình làng nghĩa xóm”, theo đúng với phương châm :”Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

Nhưng, “cây muốn lặng, gió không muốn dừng”, thành ra “cá lớn luôn muốn nuốt cá bé” của các triều đình phương Bắc hung hãn, bắt nạt, hiếp đáp và xâm lấn. Lịch sử đấu tranh để trường tồn của dân tộc Việt đã chứng minh điều đó bằng xương máu, đất đai, tài sản của mình suốt quá trình dựng nước và bảo vệ Tổ quốc trên 4.000 ngàn năm, tính từ thời đại Hùng Vương (2.879-258 trước Tây lịch kỷ nguyên).

Từ năm 111 trước Tây lịch tới nay (2016 sau Tây lịch), các triều đại phong kiến phương Bắc cho tới ngày 17/2/1979 thời kỳ của Trung Quốc do Đảng Cộng sản anh em với Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì xảy ra chiến tranh biên giới tuy ngắn ngủi nhưng rất ác liệt. Rồi ngày nay, sau 37 năm, vào đầu tháng 01/2016 thì lấn chiếm và thiết lạp sân bay, căn cứ quân sự ở các đảo Vành Khăn, Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa có chủ quyền của Việt Nam. Trước đó, nước bạn cộng sản anh em vẫn không từ bỏ mộng bá quyền, tư tưởng nước lớn ra tay trước đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa xây dựng đô thị Tam Sa, sáp nhập vào quận Hải Nam ở cực Nam của nước mình giữa lúc Việt Nam đang bận chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam. Đúng như ý đồ của chúng huênh hoang về một đường lưỡi bò ngu ngơ, hoang tưởng ở biển Đông Nam Á kể trên. Việc chiếm đóng các đảo của Việt Nam và tạo ra ảo tưởng về một biển Đông của Đông Nam châu Á với ý đồ thực hiện kế hoạch khai thác dầu mỏ trên thềm lục địa Việt Nam và các nước, đặc biệt mơ tưởng tới một một cuộc gây chiến điên rồ “phỏng tay trên” hay “ra tay trước” với bất cứ quốc gia nào nằm cạnh biển Đông hay trong biền Đông cố ý va chạm với mình, đụng tới quyền lợi của mình – một quyền lợi đi ăn cướp của người, của bạn mình, của nước láng diêng “anh em”.

Chiến thuật “Ra tay trước” :

Từ xưa tới nay, Trung Quốc luôn hành động trước, gây chiến và phát động chiến tranh với nước bạn trước. Đó là các “thiên tử” của các triều đại phương Bắc và các nhà lãnh đạo Trung Quốc thời kỳ mới đều thuộc nằm lòng sách lược chiến tranh của tổ tiên mình là “Ra tay trước” thuộc quỷ kế của nhà mưu lược Trương Lương dưới đời nhà Tần – Hán thời Chiến quốc, đó là :”Tiên hạ thủ vi cường” hay “Tiên phát chế nhân”. Binh thư Tôn Tử còn có câu : “Ra tay trước thì thắng người, ra tay sau thì người thắng”.

Với cuộc chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc tháng 2-3 năm 1979 Tập đoàn lãnh đạo hung hãn gây chiến Trung Quốc đứng đầu là Đặng Tiểu Bình đã thực hành theo các sách lược tổ tiên là “Ra tay trước”, hơn nữa “Hạ độc thủ” – Dạy cho Việt Nam một bài học !

Vẫn theo sách lược quân sự của Trương Lương và Tô Tần, áp dụng chiến lược “Cận công, viễn giao” trước.

Mở đầu cho chiến lược trên, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình cho rằng cách tốt nhất để giải quyết mối quan hệ Việt – Trung đang có chiều hướng bất ổn (Việt Nam quan hệ gắn bó với Liên Xô và đưa quân sang Campuchia tiêu diệt Khmer Đỏ đang xâm phạm biên giới Tây Nam) là một hành động quân sự. Ông bắt đầu “viễn giao” trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978 (Malaysia, Singapore) và tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố theo kiểu “Cận công” : "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt Nam bài học và mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.

Như vậy, việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành. Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, Việt Nam bị cấm vận bởi Hoa Kỳ và các đồng minh ở châu Á từng tham chiến ở miền Nam Việt Nam nên chưa có quan hệ ngoại giao như trong khối Asean ngày nay. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công. Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước, từ Lào Cai tới Lạng Sơn.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được và san bằng các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa tới ngày nay nhưng phía Trung Quốc luôn áp dụng chiến lược : “Cận công, viễn giao” hoặc là thủ thuật “Mèo vờn chuột”. Không ngần ngại bán láng diềng gần để mua láng diềng xa.

Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc 1979  hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) , (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989), bởi vì cho đến bây giờ họ vẫn cho là chỉ chống trả cuộc tấn công của Việt Nam. Đúng là vừa ăn cướp, vừa la làng !

Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là khi thực dân Pháp đưa quân đội viễn chinh xâm chiếm ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai khi đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam.

Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, thì từ giữa năm 1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị quân đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, chỉ cần thời cơ đến là phát động chiến tranh. Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 đến cuối năm 1978, nhiều biện pháp trừng phạt Việt Nam bằng quân sự được đưa ra bàn thảo. Từ giữa tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung - Việt.

Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam. Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 0 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc ( lối 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm  1979.

Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch. Chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.

Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.

  Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu. Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Sau 37 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung, Tập đoàn Tập Cận Bình tiếp tục theo đường lối, chủ trương của Đặng Tiểu Bình, phải chăng khởi sự chuẩn bị cho một cuộc chiến với Việt Nam lần nữa ở biền Đông? Còn gì nữa, Việt Nam có câu “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”. Rõ ràng, giặc biển đã tới nhà khi vào biền Đông, xâm phạm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, sau khi đã nuốt gọn Hoàng Sa mà không sợ mắc cổ !!

Trung Quốc ra tay rước với Hải đảo – Biển Đông

Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp -Thanh ký kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước mình. Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này.

Ngày 10/9/1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa). Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24/9/1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn đề.

Ngày 10/11/1975, Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố ngày 24/9 của Đặng Tiểu Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến tranh chấp về các quần đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương thảo. Tuy nhiên trong công hàm trả lời ngày 24/12/1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề nghị này.

Ngày 3/12/1975, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Kinh khẳng định với Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 5/6/1976, khi chưa hiệp thương thống nhất đất nước, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố này.

Ngày 30/7/1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) mà không cần phải thương lượng gì hết". Đúng là hành động của kẻ cướp biển.

Ngày 7/10/1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên giới. Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối.

Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành. Sau khi Phnompenh thất thủ, ngày 27/1/1979 tờ Nhân dân Nhật báo Trung Quốc có bài viết, trong đó có đoạn: "Sự thất thủ của Phnompenh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu" và "vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa".

Vậy phải chăng, sau khi đã chiếm đóng Hoàng Sa, Trung Quốc tự cho là mình không thề quay trở lại, để trả cho phía Việt Nam ? Như thế, liệu chỉ có thương lượng hòa bình, Việt Nam có đòi được những gì đã bị “ăn ướp” ? Ngày nay, không còn khả năng đ6ẻ lấy lại hoặc trả lại được nữa, trừ một hành động quân sự can thiệp mạnh mẽ. Đừng hòng nhờ LHQ tuyên bối hay ra nghị quyết cho Việt Nam vù Trung Quốc luôn có lấy bài chủ “quyền phủ quyết”.

Chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc đã xảy ra cách nay 37 năm nhưng theo tinh thần đó, tới nay vẫn còn tiếp diễn, chắc chắn là ở biển Đông. Phía Trung Quốc đã bày ra trận chiến “thế cờ” đi nước trước. Phia Việt Nam sẽ đi nước cờ nào, thế trận nào ?

Ta phải giành quyền chủ động của thời chống Mỹ cứu nước, áp dụng chiến thuật ba mũi giáp công và vận dụng lực lượng của bốn thứ quân. Muốn thắng địch nhất định phải áp dụng kỹ thuật tác chiến “Cận công” quyết liệt theo lối đánh của tướng Nguyễn Chí Thanh thời chống Mỹ cứu nước là “Phải nắm lấy thắt lưng của địch mà đánh”./.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.01.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004