Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Chế Lan Viên :

Bông Hoa Lan Trong Vườn Họ Chế








C hế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày  20 tháng 10  năm  1920  tại xã Cam An, huyện  Cam Lộ, tỉnh  Quảng Trị.

Ông lớn lên và đi học ở  Quy Nhơn, đỗ bằng  Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem  Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với  Hàn Mặc Tử,  Yến Lan,  Quách Tấn được người đương thời gọi là " Bàn thành tứ hữu" của  Bình Định.

Năm  1939 , ông ra học tại  Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào  Sài Gòn làm báo rồi ra  Thanh Hóa dạy học. Năm  1942 , ông cho ra đời tập văn  Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào  Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra  Huế  tham gia Đoàn cùng với  Hoài Thanh,   Lưu Trọng Lư,   Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng,  Cứu quốc,  Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm  1949 , trong chiến dịch  Tà Cơn-đường 9  (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập  Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm  1954 , Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo  Văn học. Từ năm  1956  đến năm  1958 , ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm  1963  ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa - giáo dục của quốc hội.

Sau  1975 , ông vào sống tại  Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày  19 tháng 6 năm   1989  (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại  Bệnh viện Thống Nhất,   thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.

Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng  Giải thưởng Hồ Chí Minh  về văn học nghệ thuật (1996).

Con gái ông, bà  Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.

Phong cách của Chế Lan Viên

Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ , thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958). Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": "kinh dị, thần bí, bế tắc của thời  Điêu tàn   với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm". Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ. Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng", và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống". Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng - triết lí. "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa"  Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, độc đáo nhiều ý nghĩa biểu tượng.

Các bút danh

Ngoài bút danh Chế Lan Viên (được hiểu là tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế- dòng họ vua chúa của dân tộc Chàm ở nước Chiêm Thành xưa) nổi tiếng, ông còn ký bút danh  Thạch Hãn  (tên một con sông tỉnh  Quảng Trị  quê ông). Nhiều bài báo in trên báo  Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này. Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo  Văn học, phụ trách chuyên mục  Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm  1961 , Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập  Vào nghề    Nói chuyện văn thơ  của tác giả Chàng Văn.

Đề Tựa tập thơ Điêu Tàn :

Hàn mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tỉnh, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý. Nhưng thường thường nó không nói. Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối đối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả.

***  Thấy dòng sông Linh quằn quại trong thơ tôi, thấy người Dũng Sĩ vùng vẫy trong sách tôi, người ta hỏi : Sông Linh ở đâu? Người Dũng Sĩ ăn mặc ra thế nào?

***  Hãy nghĩ lại! Có ai thấy vào buổi chiều, rụng ở trong Tháp một viên gạch cũ mà hỏi : Viên gạch ấy chu vi, diện tích bao nhiêu?Đíc từ đời nào? Ở đâu? Bởi ai? Và để làm gì?

*** Điêu Tàn có riêng gì cho nước Chiêm Thành yêu mến của tôi đâu? Kìa kia nó đang đục sọ dừa anh . Tiếng xương dạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi.

***

Đọc tập Điêu Tàn này xong, nếu lòng anh vẫn dử dưng không có lấy một cơn sóng gió thì xin anh hãy cầu khẩn tấy cả những gì Thiêng Liêng, những gì Cao cả tha tội cho phạm nhân là tôi đây. Nếu, khi sách đọc xong mà cái Buồn, cái Chán, cái Hãi Hùng cùng ùa vào đến bọc lấy hồn anh, làm cho anh phải cười, phải gào, phải khóc cho vỡ cổ, khóc cho hả jee, rồi gửi cái cười, cái gào, cái khóc ấy cho không trung. Tôi nằm ngủ trong sao, nghe được, tung mây ngồi dậy, vồ lấy cái qùa quý báu ấy rất say sưa, rất ngây ngất, rất điên cường vồ lên đầu sao Khuê, sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu mà bảo chúng nó rằng : - Ha, ha! Bay ôi! Loài người thành thi sĩ như ta cả rồi .

*** Và vênh vang,kiêu ngạo, ta lấy mây làm bút, lấy trăng làm mực đề lên nền trời xanh :

Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi Trong thơ ta xương máu khóc không thôi”

(Viết ở Tháp Đồ Bàn một đêm thu đầy trăng)


BA BÀI THƠ TRONG ĐIÊU TÀN


1 - CÁI SỌ NGƯỜI


Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!
 
Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi
 
Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?
 
Mi trông mong ao ước những điều chi?
 

Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rợn
 
Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?
 
Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn
 
Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?
 

Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió
 
Của người mi thi thể rữa tan rồi?
 
Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ
 
Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?
 

Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại
 
Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta!
 
Để những giọt máu đào còn đọng lại
 
Theo hồn ta, tuôn chảy những lời thơ
 

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!
 
Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!
 
Để nếm lại cả một thời xưa cũ
 
Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!


2 - NHỮNG SỢI TƠ LÒNG


Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa 
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
 
Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!
 
Thu thôi sang! Ðông thôi lại não lòng tôi!
 

Quả đất chuyển giây lòng tôi rung động
 
Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô!
 
Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng
 
Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!
 

Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy!
 
Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ!
 
Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy
 
Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!
 

Tạo hoá hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!
 
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!
 
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt!
 
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn!
 

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
 
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!
 
Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh
 
Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!


3 - TẮM TRĂNG


Ta cởi truồng ra! Ta cởi truồng ra! 
Ngoài kia trăng sáng chảy bao la
 
Ta nhảy vào quay cuồng thôi lăn lộn
 
Thôi ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn
 
Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da
 

Ai cởi dùm ta? Ai lột dùm ta?
 
Chưa lõa lồ thịt còn nằm trong da!
 
Chưa trần truồng óc còn say trong ý!
 
Trăng chưa lấp đầy xương, chưa ngấm tủy
 
Hồn vẫn còn chưa uống hết hương hoa
 

Tôi là kết tinh của ánh trăng trong
 
Sao không cho tôi đến chốn Hư Không?
 
Tôi muốn ngồi, trăng cứ đè tôi xuống!
 
Khát lắm rồi! Hãy mau cho tôi uống!
 
Cho nguôi đi nhớ tiếc với trông mong!
 

Đã hết trăng rồi! Đã hết trăng rồi!
 
Không! Không đâu! Trên những đảo mây trôi
 
Vừa dâm dục ôm trăng vờ vật ngủ
 
Còn rất nhiều những suối vàng rực rỡ
 
Múc ào đi, trút cả xuống hầu tôi!



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 23.01.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004