Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TỪ ĐƯỜNG HỌ TRẦN ĐIỀN TRÌ,

NƠI LƯU GIỮ NHIỀU GIÁ TRỊ VĂN HÓA

VÀ LỊCH SỬ QUỐC GIA RẤT QUÍ HIẾM









T ừ Đường họ Trần Điền Trì, nay là họ Trần ở làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách ( Hải Dương) khởi dựng từ thế kỉ XVII, hoàn thiện ở thế kỉ XVIII. Đến năm Cải cách ruộng đất thì bái đường bị phá dỡ, mới xây dựng lại năm 2003, trên nền cũ, nhưng nhỏ bé hơn trước nhiều. Hậu cung mới trùng tu năm 2014, trên cơ sở quy mô và kết cấu cũ, chỉ nâng nền lên cao hơn cho phù hợp với nền bái đường. Trước đây, bái đường có sân rất rộng, yểm nhiều chó đá ngựa đá, nay không còn, hiện còn một hồ bán nguyệt yểm rùa đá và thống đá, nơi các quan triều về thăm, cho ngựa uống nước. Đất Từ Đường chính là đất của các cụ tổ tôi, liền kề với nhà tôi, thủa bé, tôi thường chui dưới sàn bái đường bằng gỗ lim, để đánh bi hoặc chơi tam cúc. Đất Từ Đường hiện nay vuông vắn, xung quanh xây tường cao, là điểm ghé thăm của nhiều du khách và nhiều năm, cán bộ của Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam về thắp hương cho nhà khoa học nông nghiệp đầu tiên của ngành mình.

Từ Đường khởi thủy thờ cụ Thượng Tổ từ Tức Mặc ( Thiên Trường , Mĩ Lộc – nay là TP Nam Định) chuyển về để tránh sự truy lùng của Hồ Quí Li, sau thờ ba vị tiến sĩ làm quan lớn trong triều ở thời Lê và cuối cùng là hợp tế thờ 3 vị tiến sĩ cùng các liệt tổ của các chi họ, vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hằng năm, không chỉ ở Điền Trì mà còn ở các xã khác, huyện khác trong và ngoài tỉnh. Từ Đường còn lưu đôi câu đối cổ: “ Tổ tông công đức trường lưu, Đế Bá tài bồi tiên Tức Mặc / Tử tôn thừa dực kì hậu, Công Hầu dật dự khởi Điền Trì”. Kế tục tổ tiên từng làm Hoàng đế, bá chủ ở Tức Mặc thời Trần, con cháu ở Điền Trì cũng dự vào bậc Khanh tướng Công hầu ở thời Lê. Cứ theo gia phả và các đạo sắc phong, hiện còn lưu giữ được, lần lượt dòng họ có 1 tước Công ( Diệu Quận Công Trần Cảnh - sắc phong ngày 12 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748) ghi tên tước của Trần Cảnh là Hùng Quận Công ), 5 tước Hầu ( Hầu tước, Hàn lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, Phương Trì Hầu Trần Thọ ( có sách ghi là Trần Đạo), Sùng Lĩnh Hầu Trần Thai ( có sách ghi là Trần Đăng), Phương Lĩnh Hầu Trần Lương ( có sách ghi là Trần Lang), Hộ Thành Hầu Trần Điển và 3 tước Bá (Sách Huân Bá Trần Tiến, Trì Trung Bá Trần Gỉản, Côn Lĩnh Bá Trần Đĩnh). Về quan trường, có 3 vị tiến sĩ 3 lần làm Tham tụng ( Tể tướng) 6 lần làm Thượng thư ( Bộ trưởng) được vinh danh là Triều liệt đại phu, Trụ quốc và Thượng Trụ quốc, là Trần Thọ, Trần Cảnh và Trần Tiến.

Trần Thọ (1639 – 1700), đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), làm quan đến Tham tụng, Hình bộ thượng thư, do xử sai một vụ án mà bị bãi chức. Khi làm Tả Thị lang bộ Hộ, tước Phương Trì Hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Trụ quốc, Trần Thọ là phó sứ đi Trung Hoa, tháng 4 năm Canh Ngọ (1690), với nhiệm vụ đòi lại đất 4 châu biên giới đã bị nhà Thanh lấn chiếm: Bảo Lạc, Vị Xuyên, Thủy Vĩ và Quỳnh Nhai, trong đó Vị Xuyên nay vẫn mang tên cũ, thuộc tỉnh Hà Giang. Chánh sứ là Thượng Bảo khanh Nguyễn Danh Nho, lo việc triều cống. Cả 2 vị đã đến mộ Đại Danh y Tuệ Tĩnh ở Giang Nam, dập chữ trên mộ bia mang về nước. Trần Thọ có Nhuận Phủ thi tập, hiện còn 3 bài thơ trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.

Con Trần Thọ là Trần Cảnh (1684 – 1758), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718), làm quan Tế tửu Quốc Tử Giám, tước Công (Diệu Quận Công, Hùng Quận Công), lần lượt giữ chức Thượng thư bốn bộ: bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ, hai lần giữ chức Tham tụng, tước Thái bảo (một trong ba tước cao nhất của triều đình), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng Trụ quốc. Đương chức Tể tướng đầu triều, cụ vẫn khẩn thiết xin vua cho về hưu, chiêu mộ dân ly tán ở các huyện, khai hoang lập ấp ở một số làng xã, dọc triền sông Kinh Thầy, từ Nam Sách, Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dương) đến Đông Triều (Quảng Ninh) và Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) hiện nay, thời ấy đều thuộc đạo Hải Dương, được vua Lê phong chức Hải Dương khuyến nông sứ. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy, cụ đã soạn bộ sách Minh nông chiêm phả, dâng vua Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông) năm Kỷ Tị (1749), được coi là bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của Việt Nam. Khi sống, Trần Cảnh đã được thờ ở chùa Khương ( chùa Dâu, Bắc Ninh) khi chết (nhà nước tổ chức quốc tang, triều đình vua Lê và phủ chúa Trịnh đều nghỉ việc ba ngày, vua viết điếu văn), được tạc tượng thờ tại Văn chỉ Linh Khê, thuộc bản huyện, cùng Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng ( con trai Quốc công Tiết chế, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn). Cả hai nơi đó, hiện vẫn còn bia thờ và tượng thờ.

Con Trần Cảnh là Trần Tiến (1709 – 1770), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748) làm quan Phó đô Ngự sử, tước Sách Huân Bá, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, sau thăng Lễ bộ thượng thư, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Cát Xuyên thi tập, Cát Xuyên tiệp bút, Niên phả lục… Sách giáo khoa phổ thông Ngữ văn lớp 10 nâng cao, vinh danh Trần Tiến là một trong 5 nhà viết ký xuất sắc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam 1000 năm : Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ, Lý Văn Phức. Trần Tiến được coi là người khai sinh ra thể ký tự thuật trong văn xuôi Việt Nam, từ năm 1764, với tập ký sự tự thuật đầu tiên Trần Khiêm Đường niên phả lục.

Con Trần Tiến là Trần Trợ (1745 - ?) tên khai sinh là Trần Quý, lịch sử văn học ghi là Trần Quý Nha, làm quan Trợ giáo Thái tử (dạy con vua Lê học, nên gọi là cụ Trợ), Viên ngoại lang bộ Lại, tác giả tập ký Tục biên Công dư tiệp ký (viết tiếp Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề).

Cháu Trần Tiến là Trần Đĩnh, Thủ lệnh trấn Hải Dương ( như Tỉnh đội trưởng bây giờ) đã hộ giá Lê Chiêu Thống khi vị vua này còn chưa cầu cứu nhà Thanh, đến thời Nguyễn được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng 5 anh em, con cháu.

Chắt Trần Tiến là Trần Tấn (1863 – 1887), tham gia phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi nhà Nguyễn, là tiểu tướng của Nguyễn Thiện Thuật, đã hy sinh năm 24 tuổi, trong một trận chỉ huy chống càn, khi quân Pháp đánh vào căn cứ Bãi Sậy.

Phần mộ của các tiên liệt trên, hiện đều còn tại bản xã, dòng họ thắp hương vào ngày 13 tháng Giêng ( âm lịch) hằng năm,

Như vậy, lại lịch một dòng họ đã phản ánh tiến trình lịch sử của đất nước nhiều thế kỉ. Và đặc biệt, bản thân những giá trị văn hóa và lịch sử quốc gia quí hiếm đó, lại được ghi lại trong các giá trị vật thể, hiện còn bản gốc như sau:

1 – Từ Đường hiện còn 30 đạo sắc của thời Lê, từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII và 3 đạo sắc thời Nguyễn. Được biết ở nước ta hiện nay, không có nơi nào có số lượng sắc phong thời Lê còn giữ được nhiều đến như vậy. Nhà nghiên cứu văn hóa, ông An Văn Mậu, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hải Dương, cho biết, trong 30 đạo sắc thời Lê ấy, có 2 đạo sắc vua Lê phong cho 2 trong số 3 tiến sĩ của dòng họ, vừa thi đỗ đại khoa. Loại sắc, vua phong trực tiếp cho Tiến sĩ vừa thi đỗ này, cả nước ta hiện nay, chỉ còn lưu lại được ở Từ Đường họ Trần Điền Trì mà thôi.

2 - Từ Đường hiện còn 2 biển gỗ: Trí sĩÂn tứ vinh qui do vua Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông ) ban năm 1748, khi cha là Trần Cảnh, Tể tướng về hưu cùng ngày với con là Trần Tiến vinh qui sau khi đỗ Tiến sĩ. Được biết ở nước ta hiện nay, 2 biển gỗ này, cũng chỉ còn duy nhất bản gốc ở Từ Đường họ Trần Điền Trì mà thôi. Bản trưng bày tại Văn miếu Mao Điền, Hải Dương hiện nay là dập lại từ 2 bản gốc ở đây mà ra.

3 – Tập kí sự Tiên Tướng công niên phả lục, còn ở bản chép tay của tác giả, Phó đô Ngự sử Trần Tiến, 1764, đã dịch trọn vẹn và xuất bản đầy đủ 2003, theo PGS- TS Nguyễn Đăng Na, thì ngoài hình ảnh một trung thần của nhà Lê, bộ trưởng quốc phòng, theo lệnh vua Lê đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa ( như Thượng tướng Đinh Văn Tả, Bồi tụng Bùi Huy Bích, hay sau này là Thi hào Nguyễn Công Trứ ) “ chưa có một tài liệu nào ghi lại đầy đủ, chính xác đến từng ngày, từng giờ, từng địa điểm , số quân, số thuyền bè, súng ống, diễn biến chiến sự… (là nguồn) bổ sung cho lịch sử dân tộc những năm giữa thế kỉ XVIII còn thiếu trong chính sử” ( những dòng in nghiêng trong bài này, đều trích từ sách đã dẫn, Nxb Văn học, 2003).

4Tập kí tự thuật đầu tiên của nền văn học Việt Nam Trần Khiêm Đường niên phả lục của Trần Khiêm Đường ( Trần Tiến) hoàn thành năm 1764, đã dịch trọn vẹn và xuất bản đầy đủ 2003, hiện còn ở bản chép tay của chính tác giả“ bộc lộ trực tiếp sự nhận thức cũng như những cảm xúc về thời thế…” “ Điều này, tất cả các tác giả trước đây, chưa một ai làm được”,“ những lễ nghi ma chay, các cuộc tiễn đưa quan đại thần về trí sĩ, quan tân khoa vinh qui…”; “Trong văn học Việt Nam trước thế kỉ XVIII, chưa có một tác phẩm nào ghi chép tỉ mỉ, chân xác, mọi thủ tục thi cử như Trần Khiêm Đường niên phả lục”.

Điều quan trọng là cả hai tập kí trên, “văn viết rất hay. Ý tứ thì sâu kín, nhưng rõ ràng, mạch lạc. Nội dung tác phẩm lại phong phú và hấp dẫn. Đúng như người đời thường nói, văn của đại gia, ý tại ngôn ngoại”

5 – Bài TỰA bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của Việt Nam, do chính tác giả Trần Cảnh tự viết, bản chép tay của Trần Tiến, con Trần Cảnh, để chúng ta hình dung nội dung rộng lớn và công phu của bộ sách nông học.

6 – Thơ của 58 quan triều Lê viết về Trần Cảnh, trong đó có nhiều người rất nổi tiếng như Hữu Thị lang bộ Binh, Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, thân phụ Đại Thi hào Nguyễn Du; Công bộ Thượng thư, Liêu Đình Hầu Lê Hữu Kiều, chú ruột Đại Danh y Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Tả Thị lang bộ Hình, Cẩm Xuyên Hầu Nguyễn Kiều, chồng nhà thơ Đoàn Thị Điểm; Thiêm sai Đông các hiệu thư Lê Trọng Thứ, thân phụ nhà bác học Lê Quí Đôn; Tham tụng Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân; Bồi tụng Phan Trạch Hầu Nhữ Đình Toản…” Vân vân… sẽ là nguồn “bổ sung tư liệu quí giá của các tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XVIII”.

7 – Các văn bản có giá trị lịch sử khác, như thư từ trao đổi của các quan đầu triều, các tướng lĩnh nhà Lê, bài khải dâng vua Lê về binh chế, về các việc trước mắt, bài Điếu văn của Hoàng thượng đối với Trần Cảnh… Vân vân…

8 - Tập kí sự Tục biên Công dư tiệp kí của Trần Trợ, gồm 50 thiên, hoàn thành trước năm 1786, không còn bản gốc ở Từ Đường, hiện còn các bản sao tại Viện Hán Nôm, nhưng đã được xuất bản và tái bản nhiều lần.

9 – Bộ sách biên khảo Đăng khoa lục sưu giảng của Trần Tiến, không còn bản gốc ở Từ Đường, hiện còn các bản sao ở Viện Hán Nôm, được xuất bản và tái bản nhiều lần, được ghi lại trong bộ sách thư mục Hán Nôm của nhà biên khảo lớn Trần Văn Giáp.

10 – Bộ sách khoa học nông nghiệp Minh nông chiêm phả (1749) của Trần Cảnh, không còn bản gốc tại Từ Đường, hiện còn một số chương chép rải rác, ở nhiều văn bản khác nhau, trong đó có ở dòng họ Phùng Khắc Khoan, nhưng nội dung chương mục còn ghi lại được trong một số sách biên khảo từ thế kỉ XIX đến nay, trong đó có trong bộ sách thư mục Hán Nôm của nhà biên khảo lớn Trần Văn Giáp.

11 – Tập kí rất nổi tiếng đương thời Cát Xuyên tiệp bút của Trần Tiến, hiện còn một số bài rải rác, trong đó rất đáng quí, bài Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi: “ Sau này, tất cả những bài viết về Mạc Đĩnh Chi, từ tiểu sử đến truyện kí danh nhân… các tác giả đều dựa vào thiên truyện của Trần Tiến mà thêm thắt. Ta cần ghi nhận công lao này của Trần Tiến”. ( PGS – TS Nguyễn Đăng Na, Tục biên Công dư tiệp kí, Nxb Văn học, 2008, tr.127).

12 - Lá cờ thêu đôi câu đối của vua Cành Hưng nhà Lê tặng cha con Trần Cảnh – Trần Tiến năm 1748,

            Kế thế đăng khoa tòng tích hữu

            Lưỡng vinh đồng nhật thức kim hi

            ( Nối đời thi đỗ đại khoa, trước đã từng có

            ( Nhưng cha con) vinh quy cùng một ngày thì nay thấy rất hiếm)

cùng sáu chữ vua ban: “ Phụ tử đồng nhật toàn cẩm” (Cha con mặc áo gấm trở về làng cùng một ngày) hiện còn được ghi trong tập Hải Dương phong vật chí ( 1811) của Trần Công Hiến, Trần Huy Phác. Không khí trong ngày hội “Lưỡng vinh đồng nhật” này, được hai tác giả Hải Dương phong vật chí ghi là “gia đình rất vẻ vang ” ( Nguyễn Thị Lâm dịch, GS Trần Nghĩa hiệu đính, Nxb Lao Động, 2009) do địa phương tổ chức, được ghi lại trong các bộ sách khác như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí… Là cờ và đôi câu đối ấy, dòng họ đã phục chế và treo trước Từ Đường trong các dịp Tết và Lễ hội…. Vân vân…

Trong rất nhiều đóng góp tiếp theo cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của cả dòng họ, có 2 nhà thơ là Trần Nhuận Minh, Giải thưởng Nhà Nước về Văn học Nghệ thuật đợt II năm 2007 và em ruột là Trần Đăng Khoa nổi tiếng từ năm 8 tuổi, Giải thưởng Nhà Nước về Văn học Nghệ thuật đợt I năm 2001. Thơ và văn xuôi của cả 2 anh em đều được lưu bản gốc hay bản in lần đầu tại Từ Đường, nhiều tác phẩm trong đó, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, được đưa vào sách giáo khoa phổ thông từ nhiều chục năm nay…


Những giá trị văn hóa và lịch sử quốc gia đó, từ nhiều thế kỉ trước, rất may hiện còn lưu giữ được ở một Từ Đường, cùng với cuộc đời và hành trạng của các nhân vật lịch sử, chỉ của một dòng họ, mà phản ảnh được rất phong phú và nhiều chiều, nhiều giai đoạn lịch sử hào hoa và đầy bi tráng của dân tộc. Những giá trị hiếm có đó, cần được bảo tồn tốt hơn và khai thác sâu sắc hơn, vì lợi ích lâu dài và bền vững của đất nước và của dân tộc.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 12.01.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004