Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NĂM 2016 VÀ CÂU CHUYỆN VỀ CHÁNH PHÁP







N ăm 2016 – Phật Lịch là 2560. Càng về cuối gần năm thứ 3.000, những Phật Tử trên thế giới càng hy vọng, vì theo theo huyền ký trong Kinh, thì đó là thời điểm Đức DI LẶC hạ sanh. Hy vọng đó lại càng bùng lên mạnh mẽ hơn bởi sự xuất hiện của Hoa Ưu Đàm – loài hoa mà theo trong Kinh ghi lại là 3.000 mới nở một lần, báo hiệu là một vị Phật giáng sinh, chỉ xuất hiện khi có Đức Phật hay Kim Luân Vương hoặc Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế, là điềm lành cho nhân thế.

Bắt đầu là tháng 7 năm 1997 Hoa Ưu Đàm xuất hiện trên tượng Phật ở Hàn Quốc, rồi sau đó là Đài Loan, Singapore, Pháp, Hongkong, Mỹ, Úc, Trung Quốc. Ở Việt Nam thì khắp nơi, từ năm 2012 đã xuất hiện ồ ạt: An Giang, rồi đến Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Huế, Nghệ An, Daklak, Tuy Hòa, Phú Yên, Thái Nguyên, Nam Định. Hoa Ưu Đàm còn mọc cả trên dây đèn trang trí hang đá Noel quanh gốc mai ghép của Linh mục Giuse Vũ tại nhà thờ Mai Khôi trước Giáng sinh 2 ngày trong năm 2012. Trong năm 2015 thì xuất hiện ở Sơn Trà, Huyện Hương Sơn, và ở Tp. HCM, tại nhà nhiếp ảnh gia Hoài Sơn, tại Cung Văn Hóa Tao Đàn Quận 1, tại Quận 7, Quận Thủ Đức, rồi Cái Bè Tiền Giang…

Trích các Kinh nói về Hoa Ưu Đàm như sau:

Kinh Huệ Lâm Ân Nghĩa viết: “Hoa Ưu Đàm do điềm lành linh dị sinh ra. Đây là một loài hoa của trời, trên thế gian không có. Nếu một đấng Như Lai hoặc Chuyển Luân Thánh Vương hạ xuống thế giới loài nguời, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ vào đại ân đại đức của Ngài”.

Kinh Vô Lượng Thọ viết: “Này Anan, Như Lai vì lòng đại bi vô tận thương xót ba cõi nên xuất hiện ở đời, tuyên dương giáo pháp là muốn cứu bạt quần sanh, đem lại lợi ích chân thật, khó gặp, khó thấy, như hoa Ưu Đàm khi xuất hiện”.

Bài Kệ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì nói rằng: “Phật xuất thế đã khó. Hoa Ưu Đàm xuất hiện cũng khó, mà người nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà hoan hỷ, tán dương cũng khó như vậy”.

Một số nhà khoa học cho rằng đó chỉ là trứng của một loài côn trùng có tên là Lacewings. Nhưng một người dân ở Lalaca, Malaisia đã phát hiện cả hoa và trứng, chứng tỏ hoa Ưu Đàm không phải là trứng. Ô. Lê Văn Mậu là một Thạc sĩ Sinh Học ở Tuy Hòa, Phú Yên cũng có nghiên cứu rất kỹ và khẳng định đó là Hoa chớ không phải là trứng.

Hoa này lạ một điều là có thể mọc ở bất cứ đâu: Đồng, thép, sắt, gỗ, xi măng, thủy tinh, lá cây, trong điều kiện không có đất, ánh sáng hay nước, và tồn tại từ vài tháng đến cả năm.

Hoa Ưu Đàm xuất hiện trùng hợp theo Kinh viết đã là một điều rất lạ. Nhưng dù có đúng là Hoa Ưu Đàm hay không, thì sự xuất hiện đồng loạt, ở các vùng miền của Việt Nam vào thời điểm gần sát với Kinh viết, có lẽ cũng là một điềm lành.

Việc Chánh Pháp sẽ xuất hiện ở Việt Nam đã được nhiều nhóm tu hành ở nhiều nước biết trước từ rất lâu. Điển hình là từ trước năm 1975, một nhà giáo trẻ, giỏi ngoại ngữ, có quen biết nhiều người nước ngoài cho biết, có một người Nhật, không biết thuộc giáo phái nào ở Nhật, đã sang Việt Nam ngụ tại Quận 5 Chợ Lớn chờ để gặp vị Giác Ngộ mà họ cho là sẽ ra đời tại Việt Nam. Cho đến năm 1976 ông ta vẫn còn ở tại Việt Nam. Về sau thì không gặp lại, không biết đã trở về Nhật hay chưa.

Trong một số Báo Xuân Tin Sáng, (Chủ nhiệm là cựu Dân biểu Ngô Công Đức), trong một hai năm đầu Giải Phóng, không nhớ chính xác, nhưng Báo Tin Sáng chỉ tồn tại có vài năm thôi. Ở trang cuối, sát bìa, tôi có lưu ý một dòng tin khá lạ nên cắt để dành, nhưng do dời nhà nhiều lần nên thất lạc. Bài báo nói về một Phái đoàn Quốc Tế đến Việt Nam và được hướng dẫn đi tham quan Thảo Cầm Viên. Khi được hướng dẫn viên giới thiệu về tên khoa học của một loài hoa có tên là Hoa Vàng Anh - Saradica Indica - thì cả phái đoàn đều quỳ sụp xuống to vẻ cung kính, làm hướng dẫn viên ngạc nhiên, không hiểu vì sao. Hỏi ra thì Phái Đoàn cho biết đây là tên của một vị Cổ Phật mà họ đã đi tìm khắp thế giới nhưng không gặp. Không ngờ đến Việt Nam thì được nghe xướng tên ở đây. Sau này tôi vào Google để tìm thì được biết trong Thảo Cầm Viên có một giống hoa tên Vàng Anh lá nhỏ, mà tên khoa học gọi là Saradica Indica cũng gọi là Hoa Vô Ưu.

Nhiều năm trước đây, một bà bạn lớn tuổi, trong cùng nhóm tu học với tôi, trong một chuyến tham quan miền Trung, đã ghé vào một ngôi Chùa, thấy có tượng của Đức Chuẩn Đề. Từ lâu, bà đã rất muốn tìm thỉnh tượng này nhưng không gặp. Tình cờ vô Chùa này, thấy có, nên bà rất mừng, nói với người trông coi cửa hàng cho bà thỉnh. Người quản lý gian hàng kêu bà đợi, rồi đi mời trụ trì ra gặp bà. Vị trụ trì cho biết là tượng này do một vị Sư từ nước ngoài, mỗi năm qua Chùa ngụ vài tháng, tạc để đó, chờ người đến thỉnh tượng, vì ông cho là người thỉnh tượng có liên quan đến dòng Chánh Pháp tại Việt Nam – Vì thế, trước khi về nước, vị sư này có dặn vị trụ trì khi có người đến thỉnh thì ghi lại địa chỉ, số điện thoại cho ông, để ông liên lạc khi trở qua Việt Nam. Người bạn tôi sau đó dời nhà, không biết có phải vì lý do đó mà không liên lạc được hay không... Vị Sư thì sau này nghe tin đã mất. Bức tượng Chuẩn Đề người bạn tôi vẫn còn thờ tại nhà ở gần Thủ Đức.

Kể sơ vài việc mà tôi thu thập được, chứng tỏ là nhiều nước trên thế giới cũng đã quan tâm đến dòng Chánh Pháp sẽ xuất hiện ở Việt Nam. Phối hợp với hiện tượng Hoa Ưu Đàm nở rộ khắp cả nước như sự hối thúc cho điều đó chóng thành hiện thực.

Sự thật là Chánh Pháp đã có mặt ở nước ta từ rất lâu rồi. Từ thời của Vua Trần Thái Tông mà qua những bài giảng, Thơ, Kệ của Ngài và 2 vị Tổ Trúc Lâm đầu tiên ta nhận ra điều đó. Tiếc thay là với thời gian, với sự pha trộn của những tu sĩ về sau nên lần hồi Chánh Pháp đã bị “tam sao thất bổn”. Đạo Phật trở thành là một tôn giáo tôn thờ Đức Thích Ca và Chư Phật, Chư Bồ Tát để cầu xin, nương tựa, không còn là Đạo Giải Thoát như thuở ban đầu Đức Thích Ca thành lập nữa. Có lẽ chư vị Giác Ngộ đã biết trước điều đó, nên đã có lời huyền ký mà ta thấy ghi lại nơi nhiều Kinh Sách nói trên.

Tuy vậy, dù không rầm rộ, nhưng trong âm thầm, dòng Chánh Pháp vẫn được giữ gìn nơi những bậc chân tu, chờ ngày hiển lộ. Chánh Pháp vẫn ở cạnh chúng ta, nhưng chúng ta khó nhận ra, vì không được quảng cáo về sự linh thiêng, kỳ bí của Phật, không có hứa hẹn Phật sẽ cứu độ nên người đời có biết cũng không thấy hấp dẫn. Người tu theo Chánh Pháp không phải học cho thuộc thật nhiều pháp để viết những bài luận giải tràng giang, hay thuyết pháp thao thao, thu phục nhiều tín đồ, mà họ chỉ làm công việc tu sửa nơi Tâm, không cần nhiều người biết, cũng không quan tâm đến hình tướng bề ngoài, không Chùa to Phật lớn, không cờ xí rầm rộ cung nghinh, nên bị chìm lấp giữa dòng đời mà con người nhiều lo âu phiền muộn nên cần sự hộ trì hơn là phải tự cứu.

Đương nhiên khi đã có Chánh Pháp thì sẽ có vị giác ngộ hay Chuyển Luân Thánh Vương, vì điều đó không phải là chuyện gì quá lớn lao, vĩ đại, đòi hỏi một sự kinh thiên động địa hay phải có hiện tượng gì ghê gớm. Trái lại, Chánh Pháp chỉ diễn ra rất âm thầm nơi Tâm của người tu. Có nghĩa là: Người tu Phật sau khi nhận biết về Thân, Tâm, về Các Pháp. Biết rõ đâu là Mê Lầm, đâu là Giác Ngộ, đâu là Sinh Tử, đâu là Thường Còn, thế nào là Ràng Buộc, thế nào là Giải Thoát, thế nào là Chúng Sinh, thế nào là Phật, thì sẽ làm công việc là tự chuyển hóa cái Vọng Tâm của mình trở thành Chân Tâm. Biến cái Tâm vô Minh, động loạn, lúc nào cũng hành hạ, làm cho mình đau khổ, thành Phật Quốc, thanh tịnh, an vui. Công việc Chuyển Hóa đó được gọi là Chuyển Pháp Luân. Người Chuyển Pháp Luân gọi là Chuyển Luân Thánh Vương. Người hiểu tất cả các sự vận hành của các pháp, biết Sinh Tử là gì? Biết cách làm để Giải Thoát, không còn chạy theo mê lầm thì gọi đó là bậc Giác Ngộ. Vì thế, Bậc Giác Ngộ hay Chuyển Luân Thánh Vương nếu hiểu theo đúng Chánh Pháp thì không phải là một vị nào đó có thần thông quảng đại, đoán được chuyện sắp tới hay biết được tâm ý của người khác, có thể làm đảo lộn hay xếp đặt trật tự cho cả thế giới, cứu cả nhân loại, mà chỉ là người ý thức được Con Đường Giải Thoát, Biết thế nào là Chân, thế nào là Vọng. Người đó chỉ có thể sắp xếp, cứu độ cho chúng sinh trong Tâm của họ mà thôi. Đó mới đúng là hiểu và hành theo Chánh Pháp. Cũng do được đào tạo trong dòng Chánh Pháp, tôi hiểu những điều đó. Vì thế, giả sử có ai nói rằng có vị Chuyển Luân Thánh Vương hay vị giác ngộ xuất hiện ở đâu đó tại Việt Nam, tôi cũng chẳng cần háo hức đi tìm, bởi các lẽ:

Thứ Nhất: “Ai tu nấy đắc”. Dù có được tiếp xúc, gặp gỡ các vị thì cũng chỉ là cơ hội để cho ta học hỏi thôi. Ngay cả gặp Phật cũng không phải tất cả đều được giải thoát. Phật Ngôn có câu: “Có kẻ nắm chéo y Như Lai mà cách xa ngàn dặm”. Trực tiếp gặp Phật, nắm được chéo y của Ngài cũng không được Ngài đưa lên Niết Bàn, mà tự mình phải hành dụng mà thôi. Giáo Pháp của Phật thì có đầy đủ trong Kinh. Cứ theo đó mà thực hành cũng đủ rồi. Điều cần là có người đi trước đã biết rõ đường lối, cách thức để hướng dẫn chúng ta. Do vậy vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng chỉ có sứ mạng như một vị Thiện Tri Thức và khơi dậy niềm tin vào Chánh Pháp đã bị quên lãng mà thôi. Chánh Pháp có xuất hiện ở nước ta cũng không thể đưa nước ta từ lạc hậu sang văn minh, từ đói nghèo thành cường quốc trên thế giới, mà chỉ cho chúng ta hiểu để tự chuyển xoay cái Tà Tâm của mình trở về nẻo Chánh mà thôi. Nhưng điều đó còn tùy thuộc ta có chấp nhận có thực hành hay không, vì chỉ ai làm, nấy được. Không ai làm thế cho ai được.

Thứ hai: Theo Kinh Lăng Nghiêm thì Chư Bồ Tát có thể xuất hiện dưới bất cứ hình dạng nào: “A Nan, ta có dạy các Bồ Tát và A La Hán. Sau khi ta diệt độ rồi thì các ông phải thị hiện thân hình trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân. Hoặc hiện làm Thầy Sa Môn, cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người buôn bán để lẫn lộn trong từng lớp người, chung làm một nghề nghiệp đặng giáo hóa chúng sanh trở về chánh đạo. Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: “Ta đây thật là Bồ Tát hoặc A La Hán v.v…” hay tỏ ra một vài cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật để cho người ta biết mình là thánh nhân thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi. Các vị đã không lộ bí mật thì muốn biết, muốn gặp cũng không dễ. Trái lại người quảng cáo, hô hào thường là những kẻ giả mạo để mưu cầu danh lợi.

Thứ Ba: Nhiều người sùng bái chư vị Giác Ngộ háo hức mong chờ là do hiểu lầm phương tiện của Đức Thích Ca. Nghĩ rằng sự xuất hiện đó phải đầy hào quang hay hiện tượng lạ, làm đảo lộn cả thế giới. Thật ra, gọi là Chuyển Luân Thánh Vương hay bậc Giác Ngộ nghe như lớn lao, nhưng xét về phương diện tu hành theo Chánh Pháp, thì vị đó chỉ là công việc chuyển Ba Pháp THAM, SÂN, SI thành GIỚI, ĐỊNH, HUỆ. Chuyển vô Minh, thành Minh. Chuyển Mê Lầm thành Giác Ngộ nơi chính cái Tâm của vị đó thôi. Đâu có chuyển thứ gì ngoài vũ trụ hay chuyển giùm cho ta? Vì vậy, nếu người nào biết rõ con đường tu hành để tự chuyển hóa nơi tâm của mình thì cũng là Chuyển Luân Thánh Vương. Người hiểu rõ Đạo Phật, hiểu rõ các Pháp, hết Vô Minh thì là người Giác Ngộ, không có gì là ghê gớm. Chính vì vậy mà đạo Phật mới có Tam Thế Phật. Tức là không chỉ Phật quá khứ tu hành thành công, mà hiện tại ai tu cũng thành công, tương lai cũng thế.

Theo tôi, Chánh Pháp xuất hiện là có thật. Do nước ta từ xưa đến nay có rất nhiều người hướng thiện, mộ đạo. Nhưng họ lại tin Phật, Bồ Tát như là những vị Thần Linh, có quyền cứu Độ cho Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Vì thế họ tạc tượng cho to để tôn sùng, thờ phụng, ngày ngày thắp hương thành kính cầu xin được ban ơn, giáng phúc, cứu khổn, phò nguy. Họ hoàn toàn không biết lối tin, hiểu như vậy theo Đạo Phật là Tà Pháp. Kinh Kim Cang đã có Kệ viết rõ: “Kẻ nào dùng sắc để thấy ta. Dùng âm thanh để cầu ta. Kẻ đó hành tà đạo. Không thấy được Như Lai”. Tin Phật theo Chánh Pháp là không cho rằng Phật là Thần Linh, mà chỉ là sự Giải Thoát. Phật của mỗi người sẽ Giải Thoát, hay là Độ cho chúng sinh của chính mình mà thôi. Chúng Sinh cũng chỉ là những tư tưởng xấu, ác, luôn khởi lên nơi tâm của mỗi người. Chính vì vậy mà Đức Thích Ca đã Thành Phật. Bởi vì nếu chúng ta là Chúng Sinh của Ngài thì Ngài đã không thể thành Phật được, vì chưa độ thoát cho ta, cho nên ta mới còn trầm luân trong bể khổ như hiện nay. Do vậy, hiểu theo đúng nghĩa của Chánh Pháp thì Phật Thích Ca không phải là Thần Linh có thể phù hộ, độ trì, đổi xấu lấy tốt cho ta. Ngài cũng chỉ là người bình thường như tất cả mọi người. Nhưng Ngài đã tìm được con đường để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử. Bản thân Ngài đã hoàn tất cho chính mình và để lại con đường chỉ lại cho tất cả mọi người, để ai hành theo đều sẽ được thành tựu như Ngài.

Về Phật Di Lặc sẽ xuất hiện ở thời kỳ cuối của 3.000 năm cũng thế. Nếu có học theo đúng Chánh Pháp mọi người sẽ biết Kinh dạy: Sau thời kỳ Thích Ca là thời kỳ Di Lặc, mà Thích Ca có nghĩa là Năng Tịnh. Người siêng năng tu tập, làm cho cái Tâm trở thành thanh tịnh thì sẽ được an lạc. Sự an lạc được ví như Đức Di Lặc giáng trần, mà hình tượng của Ngài mô tả về một người to béo, bụng phệ, ngồi cười vui thoải mái, quanh mình là sáu đứa trẻ leo trèo. Đó là tượng trưng cho người đã hàng phục, chuyển hóa được Lục Căn, không còn bị nó quấy rối, làm khổ nữa. Trước khi tu hành thì Lục Căn được gọi là Lục Tặc, vì luôn tìm cầu, đòi hỏi làm cho con người không yên. Tất cả những việc xấu, việc ác của con người đều bắt đầu từ chúng. Do Mắt thấy, Tai nghe, Thân va chạm, Ý ham thích, rồi khởi lên tìm kiếm để thỏa mãn. Rồi vì tìm cầu mà bất chấp Nhân Quả nên hành động theo chiều hướng xấu, chỉ muốn chiếm đoạt mà không muốn dùng sức, dùng tài của bản thân, do đó mà vi phạm luật đời, luật đạo, để rồi phải chịu quả báo.

Công việc tu hành tưởng chừng như lớn lao, để trở thành Thánh, thành Phật, thành Như Lai… thật ra chỉ để Giải Thoát bản thân khỏi sự kềm tỏa của Lục Căn, không để cho nó tác oai, tác quái. Trước khi tu hành thì nó là Lục Tặc. Sau khi hiểu rõ và chuyển hóa được chúng, thì Lục Tặc sẽ biến thành Lục Hộ Pháp, vì giúp đỡ cho người tu. Nhờ có Tai mà ta nghe được những lời phải, lời hay để học hỏi. Có Mắt để quan sát, để đọc những điều tốt để làm theo. Có cái Thân cho ta dùng mà chuyển hóa tâm, ý và làm được tất cả những điều tốt đẹp cho mình, cho người. Không còn khởi lên những ý nghĩ ác độc, hại người, hại vật nữa, thì gọi là Tâm ta đã trở thành Phật Quốc. Chúng sinh đều Thành Phật.

Đất nước chúng ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, bị các cường quốc lấn chiếm, đô hộ. Nhưng bản tính người Việt Nam chúng ta luôn hiếu hòa, yêu cái thiện, mộ đạo, có nếp sống đạo đức. Đó cũng là đức tính tốt để Chánh Pháp luôn song hành cũng với đất nước, dân tộc ta từ bao đời qua, có điều mọi người chưa nhận ra. Sự khác biệt giữa Chánh Pháp và Tà Pháp rất mong manh. Cùng là Tin Phật, cùng giữ Giới, cùng hành theo Bát Chánh Đạo, nhưng lại tin Phật như là một vị Thần Linh. Do đó, dù họ cố gắng luôn ăn hiền, ở lành, nhưng là để cầu được độ, được ban ân, giáng phúc. Đó cũng là lòng thành, nhưng đặt sai hướng. Do vậy, kết quả chỉ là được hưởng phước, không bị đọa mà thôi, không thể đưa đến Giải Thoát rốt ráo được.

Người sẵn có căn bản đạo đức thì việc quay về với Chánh Pháp không có gì khó. Chỉ cần thay đổi cách Tin. Thay vì tin vào Phật, chờ mong Phật Độ, thì tin vào Nhân Quả, tin vào Tánh Giải Thoát của chính mình sẵn có, chỉ cần khai mở, phát huy. Không cần cầu xin, Niệm Phật, không cần Ngồi Thiền nhiều, chỉ cần học để Biết, để phân biệt CHÂN, VỌNG, rồi “phản vọng quy chân”, xa lìa cái Ác, hướng Thiện. Biết rằng cõi trần là cõi tạm. cái Thân này mong manh không bền để đừng Tham Lam, Sân Hận. Ghi nhớ, tâm niệm con đường Giải Thoát, hành trì để đạt mục đích Giải Thoát. Không cần sùng bái bất cứ ai. Vì dù Đức Thích Ca xuất thế, hay Đức Di Lặc có xuống trần cũng không có cứu độ cho cả thế giới như hàng Nhị Thừa tin tưởng, mong đợi. Tôi tin rằng một khi người Phật Tử đã hiểu đúng, thì bắt đầu từ năm 2016 này sẽ là một thời kỳ mới để Chánh Pháp được hiển lộ, được tỏa sáng nơi cái Tâm của mỗi người. Mỗi người tự ý thức để rồi tự tin, tự tu, tự độ để được kết quả Giải Thoát, vì không ai có thể giải thoát cho người khác. Đó là thông điệp của Chánh Pháp mà tôi rút ra từ rất nhiều bộ Kinh Đại Thừa sau nhiều năm dài nghiêm cứu, tìm tòi. Tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có thể thực hiện được.

Thầy tôi lúc sinh thời có cho biết: “Thời kỳ sau này là thời đồng độ”, tức là mọi người đã được Chư Vị đi trước giải thích hết những gì trước kia do thiếu ngôn ngữ diễn tả nên trở thành huyền bí trong đạo. Khi đã biết được tất cả đều chỉ là phương tiện mà Đức Thích Ca đã dùng thì không cần phải khó khăn tu hành. Chỉ cần quay về với Chánh Đạo. Xoay cái Tâm Tà trở về Tâm Chánh. Cải Ác, Hành Thiện, biết yêu thương giúp đỡ mọi người, san sẻ cho nhau để cùng chung sống an vui trong kiếp sống tạm trăm năm này mà thôi. Kinh Lăng Nghiêm viết: “Giải Thoát hay triền phược đồng do Sáu Căn. Được Chứng Thánh hay đọa phàm cũng bởi Sáu Căn, chớ không có con đường nào khác. Hễ mê muội là Vô Minh, còn Giác Ngộ thì Giải Thoát”. Hoàn toàn phù hợp với hình ảnh được mô phỏng của Đức Di Lặc.

Thử kiểm điểm nơi bản thân, có phải lúc nào chúng ta làm điều gì tốt đẹp thì thấy lòng thơ thới hân hoan, và ngược lại? Vậy thì tại sao lại tự đày đọa mình bởi những cái Xấu, cái Ác để lương tâm dày vò? Do đó, khi Lục Căn của người nào đã điều phục xong, cái Tâm lúc nào cũng thanh tịnh thì gọi là Đức Di Lặc giáng thế nơi đó. Nhiều người đều cùng thực hiện như thế, thì Chánh Pháp hiển lộ nơi xứ sở đó. Mong rằng qua những hiện tượng liên tục diễn ra như một sự nhắc nhở để mọi người tỉnh thức mà quay về với Chánh Pháp, tự mình tu sửa để tự độ, không còn cầu xin, nương tựa vào Phật ngoài, vì có muốn nương cũng không được.

Nước ta hẳn do nhiều thời, nhiều người mộ đạo, lòng thành cảm động đến chư vị Giác Ngộ, nên được các Ngài quan tâm chọn làm điểm đến để khơi dậy, hiển lộ Chánh Pháp đã bị ẩn dấu từ mấy ngàn năm qua mà các nhà tu hành ở nhiều nước khác cũng đã biết nên sang tận đây để mong gặp. Đó cũng là một đại duyên cho đất nước nhỏ bé, chiến tranh triền miên. Hòa bình mới được lập lại, tiếng súng đã im ắng. Không còn cảnh máu đổ thây rơi mới vài chục năm đây thôi. Mong rằng mọi người sẽ hưởng ứng dòng Chánh Pháp, để không phụ lòng các vị, mà kết quả thì lại chính mình nhờ. Mọi người đâu cần làm chuyện gì lớn lao, chỉ cần rũ bỏ Tham, Sân, Si, độc ác. Không còn tranh chấp, bóc lột, tàn sát, đấu tranh, giành giật với nhau, mà yêu thương, đùm bọc nhau để tất cả đều được sống trong an vui. Một cảnh thanh bình trên dãy giang sơn hùng vĩ, gấm vóc mà ông cha ta để lại tự ngàn xưa. Thiên nhiên ưu đãi với biển bao la, rừng bát ngát, núi non chập chùng, bao nhiêu con suối uốn lượn, thác ngàn điểm tô. Duới biển thì mỏ dầu. Trên rừng là mỏ khoáng sản. Người dân lại hiền hòa, cần cù, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó. Cây trái bốn mùa sum suê. Hoa cỏ cũng tô đẹp thêm. Thời tiết cũng hiền hòa, Xuân, Hạ, Thu, Đông mùa nào cũng vừa phải, không quá gay gắt thì có khác gì nơi bồng lai tiên cảnh?

Khi Sống đã ý thức cái Thân giả tạm, cuộc sống mong manh, không bám víu đam mê với vật chất phù du, nên không tạo Nghiệp, lại biết bố thí để dành phước báo, thì kiếp sống được an vui. Lúc sắp hết kiếp cũng biết cái Chết chỉ là sự rũ bỏ cái xác thân già cỗi để nhận lấy một cái thân mới trẻ, khỏe, lại biết rằng sẽ được sinh về cõi tốt đẹp, do những việc lành mình đã làm, thì có gì mà phải sợ chết? Sống an lành. Chết thanh thản. Không có gì phải lo sợ hay hối tiếc. Đó chính là cái Quả Thoát Sinh Tử mà Chánh Pháp của Đạo Phật hướng dẫn để người nào tin mà hành theo sẽ đạt được vậy.


(Tháng 12/2015)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 08.01.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004