Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ ĐÊM RỤNG / NIGHT-FALLS của Võ Công Liêm





TÍNH CHẤT CỦA NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG






Qúy vị đang nghe Piano Sonata N°17 của Beethoven



    N gôn ngữ là ký hiệu để bày tỏ từ tri giác đến cảm thức. Một thể hiện từ lý trí; cái đó không phải khó để tìm thấy qua chữ nghĩa mà đó là một bày tỏ hoàn toàn máy móc, tự động hóa trong ‘phần mềm’ của não thức và hẳn nhiên ‘con-chữ’ có vẻ như là phù phiếm để miêu tả cái cảm nhận vị kinh nghiệm đó (a simple taste experience). Là; chúng ta không phải đối đầu trước một tình huống khó khăn, trong khi chúng ta cố gắng giải bày một cảm thức kinh nghiệm. Cho nên chi trong cảm thức đó có tính chất của ngôn ngữ tượng trưng –The Nature of Symbolic Language. Rứa thì ký hiệu tượng trưng là gỉ? Sao lại có chuyện đó trong ngôn ngữ. –Ký hiệu tượng trưng thường định rõ mục đích như ‘một vài điều mà điều đó ngụ ý cho một vài thứ khác /something that stand for something else’. Đây là một định mức rõ ràng như là nói cái không thể nói được. Thế nhưng bên cạnh của ngôn ngữ cũng tạo nên nhiều lợi ích khác; nếu chúng ta thực sự nghĩ đến ở chính chúng ta thời những gì tượng trưng là những gì thuộc về giác quan (cảm xúc) là một bày tỏ sự nhận biết: thấy được, nghe được, ngửi được, sờ được là những thứ có ý nghĩa cho cái gọi là ‘vài thứ khác / something else’; cái đó là dạng thức thuộc về kinh nghiệm bên trong, cảm nhận hay tư duy. Tượng trưng của dạng này là có một cái gì bên ngoài chính chúng ta; đó là biểu hiện một vài điều trong ta. Ngôn ngữ tượng trưng là ngôn ngữ mà chúng ta bày tỏ cái kinh nghiệm bên trong; nếu như điều đó là một cảm thức kinh nghiệm, nếu như điều đó đã là điều mà chúng ta hành động hoặc một vài điều mà chúng ta đã hoàn tất đến từ chúng ta trong thế giới hiện thể. Một thứ gọi là ‘nature of things’ sự vật hữu cơ thiên nhiên, là; tượng trưng những gì thuộc thế giới bên ngoài, một ký hiệu thuộc về thế giới bên trong, một ký hiệu cho hồn và trí của chúng ta –Symbolic language is language in which we express inner experience as if were a sensory experience, as if it were something we were doing or something that was done to us in the world of things. Symbolic language is language in which the world outside is a symbol of the world inside, a symbol for our soul and our mind.

Nói như rứa thì tính chất ký hiệu là cái điều bao hàm cho một thứ khác ? Đúng! bởi; đó là vấn đề rất quan trọng: là những gì liên tưởng đặc biệt giữa ký hiệu và những gì gọi là ký hiệu thì đó là một thứ biểu tượng mà thôi (symbolizes). Trong vấn đề được đặc ra là điều chúng ta tạo nên sự khác biệt giữa ba loại chứng của ký hiệu: tập quán ước lệ (conventional), sự việc bất ngờ (accidental) và ký hiệu thuộc vũ trụ (universal). Nếu như nó làm cho hiểu được thì đó là hiện hữu sự thể; duy chỉ có hai thể loại là ký hiệu bày tỏ trạng huống kinh nghiệm bên trong, còn nếu như ký hiệu là một bày tỏ cho kinh nghiệm cảm thức thời đó chỉ là nguyên tố của ngôn ngữ tượng trưng –the elements of symbolic language chớ nó không nói lên tượng trưng cho ngôn ngữ. Ở đây tượng trưng cho cái gì tốt đẹp nhất trong ba thứ kể trên, điều mà chúng ta thường nói đến trong ngôn ngữ và thường dùng hằng ngày hoặc một đôi khi. Thí dụ: con-chữ (the word) của ‘cái bàn’ là làm cho ta nghe như một chú ý về ‘cái bàn’; nhưng nếu ta viết chữ in lớn hay trong ngoặc kép hoặc đơn thì ta viết thành chữ: C-Á-I-B-À-N là tỏ ra như hàm chứa cái gì trong đó (cái bàn làm bằng vàng, không như những cái bàn khác) để tránh sự nhầm lẫn chung của ‘cái bàn’; nghĩa là cái bàn của vua là tượng trưng cái riêng của vua hoặc lọng vàng là của vua, lọng xanh là của dân. Đấy là tượng trưng khác biệt. Thí dụ khác: con-chữ để tỏ rõ vấn đề tạp nham thì gọi là ‘hùm bà lằn’ hay ‘tạp phí lù’ thời cái nghĩa trở nên giản đơn, như tượng trưng một cái gì qua kinh nghiệm bên trong (inner experience) thì con-chữ biến thành: ‘hùm-bà-lằn’ hay ‘tạp-phí-lù’ (có gạch nối) là ngụ ý tượng trưng tới một điều gì khác hơn. Rứa thì ‘cái bàn’ hay ngữ ngôn của ‘hùm bà lằn’ hay ‘tạp phí lù’ là chỉ định từ cho con-chữ và ẩn tàng vào đó một ý nghĩa sâu xa? Chơ răng! Lý theo dạng thức đó liệu có đả thông tư tưởng không? Hay đây là một tương quan cố hữu giữa những đối tượng với nhau? Đương nhiên là không. Răng rứa? Có chi mô. Cái bàn là cái bàn nó không làm ra tiếng vang; mà chỉ là một từ ngữ tượng trưng vào sự vật như là ‘qui định’ sẳn có với một chỉ định từ là hiện vật cho cái tên thông thường đã gọi để tránh đụng tới hay nhầm lẫn khi xác định chung. Chớ viết suông thì đâu còn ký hiệu tượng trưng.

Tuy nhiên; cũng có một vài từ ngữ mà đây chỉ nói đến sự liên tưởng mà không nói như một định lệ hay tập quán, trọng tâm là diễn tả qua tượng trưng. Trong trường hợp khác, ký hiệu có một sự gắn liền vào nhau giữa ngữ ngôn và tượng trưng. Cho dù chúng ta có nhận ra nguyên thủy của ngữ ngôn phát ra đi nữa hoặc dù là tất cả những từ ngữ có nguồn gốc của nó nhưng tựu chung có một sự giao thông nối liền giữa trục ký hiệu và tượng trưng; thời tất chữ nghĩa không còn trong dạng của chữ mà nó mang một tính chất khác khi chúng ta học hỏi về ngữ ngôn. Từ ngữ không phải là tranh ảnh hay hình ảnh cho ký hiệu của định lệ, mà có nghĩa là hiện thể, là chứng minh. Thế nhưng; hình ảnh một đôi khi cũng là ‘từ ngữ’ của ký hiệu –However; pictures also can be conventional symbols. Thí dụ: lá cờ là hàm chứa một cái gì đặc biệt của đất nước. Quốc hiệu là tượng trưng bằng ký hiệu làm nên tổ quốc; hẳn nhiên không phải màu cờ sắc áo là những gì tổ quốc ngụ ý; nó chả phải tượng trưng hay ký hiệu mà chỉ nêu lên khiá cạnh khác mà thôi. Nói chung những yêu cầu đó là biểu tượng (denoting) những gì đặc biệt của quốc gia. Và; từ đó cho chúng ta một thị giác bày tỏ của lá cờ, cái đó là ý niệm nhận thức về đất nước, với lại coi như nền tảng của quốc gia, kiên cố và bền vững. Ký hiệu về hình ảnh không toàn bộ là qui định (conventional) mà chỉ là biểu dương để chứng minh hiện hữu của nó. Thí dụ: ký hiệu Thánh giá là tượng trưng cho sự khổ hạnh. Ký hiệu chữ vạn Phật là tượng trưng cho tâm bình đẳng. Hình ảnh Hitler là thể hiện sự tàn bạo chớ không ai nói mấy thứ đó là ký hiệu của tượng trưng. Cho nên chi tính chất của ngôn ngữ tượng trưng là một bày tỏ rõ ràng và xác thực. Tượng trưng + lý trí + cảm nhận = ngôn ngữ là ký hiệu gần như toán học. Còn nói rằng tiếp dẫn giữa ký hiệu và những gì biểu tượng là ngoài mực độ định lượng thời chẳng có gì hơn kém cho một qui định ký hiệu cả. Sự tiếp dẫn ở đây nằm giữa ký hiệu và kinh nghiệm thuộc biểu tượng là điều trọn vẹn cho một sự cớ bất ngờ. –Here the conection between the symbol and the experience symbolized is entirely accidential.

Đối kháng giữa ký hiệu qui định và ký hiệu bất ngờ không thể dự phần vào nhau qua từng cá nhân khác nhau ngoại trừ chúng ta có một tương quan gần gũi với ký hiệu. Lý do khác ký hiệu bất ngờ (accidential symbols) là thường khi ít dùng trong chuyện hoang đường, truyện ngụ ngôn, cổ tích hoặc những tác phẩm viết về hội họa trong dạng thức biểu tượng ngôn ngữ, bởi; chúng không phải là thứ truyền thông hay tiếp cận ngoại trừ tác giả muốn dẫn chứng qua một ngôn ngữ tượng trưng mỗi khi viết để chứng minh. Tuy nhiên; mơ mộng là ký hiệu bất ngờ thường xảy đến.

Còn nói về ký hiệu thuộc về vũ trụ (universal symbol) là một trong những sự cớ có một thực trạng bên trong liên quan giữa ký hiệu và những gì tiêu biểu. Có vô số ký hiệu vũ trụ; đó là gốc rễ, căn nguyên, thực chất đã ăn sâu vào kinh nghiệm sống lâu đời của con người. Thí dụ: lửa là ký hiệu của mạch sống (thời tiền sử, lửa là tượng trưng sự thịnh vượng, là người chủ trong một sắc tộc). Vì vậy; lửa là ký hiệu, là tượng trưng bày tỏ sức mạnh và năng lực của huy hoàng và soi rọi, bởi; lửa là hiện thể của tồn lưu (aliveness) đồng thời chúng ta mô tả đặc chất kinh nghiệm bên trong (the inner experience) là yếu tố cơ bản (kim mộc thủy hỏa thổ) mà chúng ta ghi nhận trong kinh nghiệm cảm xúc (the sensory experience) mà đôi khi hoặc một đôi khi khác hơn là những nguyên tố nổi bậc trong sự cảm nhận… Nói một cách khác; đơn giản hơn về ký hiệu của nước (của đại dương hay con suối) mà ở đây chúng ta tìm thấy sự nhào xoáy, cuồng cuộn của những khi thay đối hay chuyển động của biến thiên thường trực. Nhưng lại có sự khác biệt; lửa là tượng trưng khai phá, soi rọi, nước thì trùng trùng duyên khởi, trầm tĩnh, vững bền dài lâu và triền miên; nước tượng trưng tĩnh lặng và ngấm ngầm , là tình mẹ đối với con là ký hiệu thủy chung. Giữa lửa và nước là hai yếu tố đặc thù. Lửa là yếu tố của chiếm cứ bất ngờ, nước là yếu tố dự ước của đại hồng thủy. Răng rứa? Vì cả lửa và nước là biểu tượng của sự sống, là trạng huống của tồn lưu, tồn lại, tồn tồn nhân thế; nhưng trong mỗi thứ cũng có những chất chứa nặng nề, vụng về ngu xuẩn và những gì chờ chực hơn là thích nghi thuận lợi. Vì; lửa thì phun và nước thì ngập đó là hiện tượng dung thông giữa người và thiên nhiên. Nhưng nhớ cho biểu tượng là chứng tỏ sự bền vững và cố cựu như chấp nhận chớ không thể xuôi về một mối của tồn loạt với tồn lui; nếu đã thế thì không còn tượng trưng mà tàn ẩn một cái gì không thực, bởi thực thể của hiện sinh chính là biểu tượng của tồn tồn. Đó chính là hiện tượng của thế giới sinh học có thể coi đó là một chứng tỏ đầy đủ của một kinh nghiệm bên trong, cái đó là thế giới hiện thể có thể là ký hiệu của thế giới lý trí, thời không có chi là bất ngờ, đột biến thình lình mà đâm ra ngạc nhiên vớ vẩn, vu vơ –that a phenomenon of the physical world can be the adequate expression of an inner experience, that the world of things can be a symbol of the world of the mind; is not suprising. Chúng ta phải hiểu thêm rằng: -con người nơi chúng ta là một biểu lộ từ trí tuệ của chúng ta mà ra. Rứa răng? Xin đừng hỏi răng rứa ‘don’t ask why’. Thí dụ: ‘mặt sao ngao vậy’, hay văn sao thì hồn vậy. Người làm thơ, làm văn hay người họa sĩ là: ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ nghĩa là học chừng mô thời hiểu chứng nấy (sở trường + sở đoản = sở học); giờ có pha chế, điểm tô ngữ ngôn của ký hiệu thời không thay đổi, bởi; ký hiệu ở đây là ‘style’ cốt cách đó vẫn là nguồn cơn tự sự, không thể cho là hiện tượng để tượng trưng mà khác nhau hẳn. Dù có là gì. Ngoại trừ thiên tài. Quả vậy; con người là một ký hiệu rõ ràng –Indeed ; the body is a symbol. Ký hiệu ở chỗ mô? Đầu mình tay chân, tai mắt mũi họng (chưa kể bên trong) ngần đó chưa đủ ký hiệu làm người sao! Và cũng không thể đem con người mà tượng trưng như chuyện cổ tích, con người có một định vị đặc biệt trong vũ trụ – con người thuộc về trí tuệ (man of the mind). Ngoại trừ trường hợp ký hiệu của vũ trụ (the universal symbol) thời chúng ta tìm thấy có một sự liên lạc gần gũi giữa tinh thần và vật lý kinh nghiệm. Chắc chắn một điều hiện tượng sinh lý là nảy sinh trong trí bởi cái tự nhiên nơi con người, chắc chắn do từ cảm xúc (tình cảm) mà ra và qua kinh nghiệm tinh thần. Và; chính từ đó chúng ta biểu lộ kinh nghiệm cảm xúc trong ngôn ngữ tượng trưng thuộc kinh nghiệm sinh lý, thời tất cả những gì đều thuộc về biểu tượng. Vũ trụ ký hiệu là duy nhất nhưng trong cái duy nhất đó có một sự liên quan giữa ký hiệu và biểu tượng có chăng là một sự ngẫu hợp nhưng không có thực chất bên trong mà nó chỉ là tính chất thuộc kinh nghiệm của mối quan hệ lẫn nhau giữa tình cảm hoặc tư duy mà ra, trái với cảm thức kinh nghiệm. Vũ trụ ký hiệu là cành nhánh, là những gì thuộc tính chất sở hữu của chúng ta, cảm thức của chúng ta và trí tuệ của chúng ta. Thí dụ: Thi ca là hồn thiêng của thi sĩ, tức hồn ai nấy giữ, còn như lấy hồn người ta để thi ca hóa là ‘củi mục chấm mắm nêm’ là tồn loạt cái thứ đó đứng ngoài ký hiệu vũ trụ. Như đã nói ở trên tư duy cạn cợt hay rộng mở do từ sở học mà ra. Thời tất không còn là ký hiệu bất ngờ (accidential symbol). Cho nên chi gọi cái từ tính chất sở hữu (in the properties) là đặc thù của tất cả những gì thuộc con người; thế nhưng không phải là hạn chế cho từng cá thể hoặc từ những tập thể, bè nhóm. Đúng ra; ngôn ngữ của vũ trụ ký hiệu là con-chữ (mot/word), ngôn ngữ đồng nghĩa trên miệng lưỡi (common tongue) để từ đó khai mở tính chất ngôn ngữ tượng trưng, một khai triển cho một vũ trụ dự phóng ký hiệu và là vũ trụ định vị ngôn ngữ (a universal conventional language).Từ đó chúng ta nhận ra được tính chất thiết yếu giữa tinh thần và thể xác để giao lưu; đó là ngôn ngữ tượng trưng dựa trên cơ cấu sở hữu chung (common properties) để thành hình ngữ ngôn chung. Thêm vào đó ký hiệu thường dùng trong một thứ văn hóa khác nhau là từ khi mọi thứ quay về trong cảm thức căn bản thời cái đó gọi là cảm tính kinh nghiệm cùng chia sẻ với nhau trong cùng một luồng tư tưởng đa văn hóa.


Không cần phải nói thêm về nhân tính của con người trong những gì thuộc về ký hiệu. Bởi; con người là ký hiệu hữu thể, một hiện hữu bất biến nằm trong qui trình thuộc tính chất vũ trụ ký hiệu. Cũng không đòi hỏi gì hơn trong những biến đổi bất thường giữa con người và hiện thể. Bằng chứng cho ta tìm thấy dữ kiện của những gì gọi là ngôn ngữ tượng trưng như thể điều này thường được dùng trong thần thoại, điển tích là tượng trưng để chứng minh thuộc lịch sử (dù là lịch sử giả tưởng) và những gì mơ mộng thường được coi là ký hiệu dành cho văn hóa (nhất là thi ca). Chứng cớ đó một lần nữa tìm thấy trong kinh nghiệm gần đây mà trong đó con người không nhận biết những gì thuộc lý thuyết hay những gì giải bày về giấc mơ; dưới dạng thức mê hoặc nhưng lý giải tượng trưng về giấc mơ không phải là điều khó cho một phân tâm học ngày nay. Tuy nhiên một vài ký hiệu khác thì lại phù hợp trong sự phân biệt về biểu thị hiện thực thuộc các thể loại văn hóa. Chúng ta có thể nói bằng một phương ngữ khác qua vũ trụ ngôn ngữ tượng trưng (universal symbolic language) mà những thể loại của ký hiệu cũng như tượng trưng đều có một sự khác biệt rõ rệt trong điều kiện tự nhiên mà nguyên nhân chính chắc chắn là do từ ký hiệu; có nghĩa rằng ký hiệu hay tượng trưng là tính chất ngôn ngữ qua từng đặc trưng của từng quốc gia trên thế giới. Hoàn toàn khác biệt từ những gì gọi là ‘phương ngữ tượng trưng / symbolic dialects’ là chứng cớ qua những gì ký hiệu, có nhiều nghĩa trong từng thể loại khác biệt của kinh nghiệm mà mỗi thứ có một mối liên lạc tương quan với con người và những gì gần như hiện tượng tự nhiên. Thế nhưng trong những biểu trưng thuộc ký hiệu hay tượng trưng là ẩn tàng một chất liệu đặc thù , một ‘logic’ lý luận khác nhau. Cái sự khác biệt dù có một liên đới với nhau nhưng cùng một ý nghĩa bao hàm của kinh nghiệm bên trong. Đấy là những gì có tính chất lý luận như một chứng tỏ biểu lộ qua ngôn ngữ, nhưng; cái sự cớ đó là một thứ luân lý khác biệt thời cũng chỉ là đặc tính ngôn ngữ tượng trưng chớ chẳng khác gì hơn nhưng được cái là chứng tỏ bản chất tượng trưng hay ký hiệu một cách rõ ràng. Rứa thôi ! ./.


(ca.ab.yyc. 15/12/2015)

SÁCH ĐỌC: ‘’A Philosophy of Literature’ by Erich Fromm. Norton & Company, Inc by George J. McLeod . Toronto. Canada. 1980.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 01.01.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004