Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
chùa Yên Phú HàNội



Bảo Tồn Phát Huy

Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam






C hào năm 2016. Ngày 16/12/ 2015 đến 16/06/2016. Triển lãm Đặc Trưng Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam mở ra trang nghiêm, thanh tịnh và khoa học, đã khơi dậy bản sắc Văn hóa Phật giáo Việt Nam để bảo tồn và phát triển.

Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam với tư duy nghiên cứu và ứng dụng, được sự ủng hộ nhiệt tình của các Chư tôn đức, Tăng, Ni, các nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức cùng quý Đạo hữu Phật tử, đã tổ chức triển lãm “Đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam” lần thứ nhất với bốn chủ đề.


                 1. Pháp phục Phật giáo Việt Nam. 
                  2. Ngôn ngữ Phật giáo Việt Nam. 
                  3. Kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
                  4. Di sản Phật giáo Việt Nam.


Phật đường trang trọng một không gian Di sản

Phật đường chùa Yên Phú- Hà Nội hiện lên một không gian Di sản Văn hóa Phật giáo Việt Nam trang trọng, gần với công chúng, thu hút nhiều tầng lớp người trong xã hội chiêm ngắm và nghiên cứu, ứng dụng. Các Phật tử tự hào, thực hành Phật pháp trong từng phút tĩnh lặng với thế giới Di sản Phật giáo ướp hồn Tổ Tiên, Cha Mẹ Việt.

Nội dung trưng bày lựa chọn hình ảnh và hiện vật theo hệ thống, lịch sử Phật giáo Việt Nam từng thời kỳ. Giải pháp trưng bày dùng hình ảnh pano, chiếu phim, và thiết bị công nghệ ảo 3D…

Có nhiều báu vật quốc gia như pho tượng Phật cổ bằng gỗ mù u đặc trưng cho nền văn hóa Óc Eo thế kỷ thứ IV, V. Tượng Phật Thích Ca bằng đồng thế kỷ thứ VI, VII. Tượng Phật bằng đá thời Lý. Tượng Phật Adiđà thời Lý, chùa Phật Tích, Bắc Ninh. Tượng Bồ Tát Đồng Dương thế kỷ IX, X tại Quảng Nam. Tượng Tổ Trúc Lâm, Phật Hoàng Trần Nhân Tông thời Trần thế kỷ XIII, XIV, Quảng Ninh. Tượng Thiền sư chùa Tiêu thời Lý, Bắc Ninh. Tượng Thiền sư chùa Thầy thời Lý tại Thạch Thất, Hà Nội. Tượng Bồ Đề Đạt Ma thế kỷ XVII và một số tượng Tổ với các đặc điểm trang phục khác nhau theo phải Bắc tông, Nam tông. Tượng Phật chùa Khleng (Sóc Trăng)…

Những bộ sắc phục kiểu dáng, màu sắc, tiêu biểu một số tông phái, cấp bậc tu hành, tăng, ni, Phật tử. Những tấm bia, cột kinh, những sách kinh, ván in kinh Phật, hoành phi, câu đối chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ.

Hình ảnh kiến trúc được trưng bày phong phú, sinh động, với những mái chùa cổ che chở hồn dân tộc như chùa Dâu cổ nhất Việt Nam. Nổi bật là chùa Một Cột, Hà Nội. Chùa Một Cột cổ xưa bằng gỗ, thờ Phật Bà Quan Âm. Năm 1105. Vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu…

Cội gốc Mẫu Phật của Văn hóa Phật Giáo Việt Nam

Phật giáo ra đời từ Ấn Độ, lan tỏa nhiều nơi trên thế giới. Khi du nhập vào mỗi quốc gia, dân tộc, Phật giáo thích ứng với tín ngưỡng, phong tục tập quán, điều kiện, môi trường sống bản địa, đã tạo nên những nét riêng của Phật giáo của mỗi quốc gia, dân tộc. 

Khoảng 2000 năm trước. Phật giáo vào Việt Nam bằng đường bộ và đường biển. Chuyện cổ tích Chử Đồng Tử gợi dấu ấn Phật giáo truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào nước Việt qua hải thương. Những trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa ở Việt Nam do các tăng sĩ Phật giáo Ấn Độ đến truyền dạy còn in dấu tại nhiều nơi như chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh…

Chùa Dâu là Trung tâm Phật giáo Việt Nam cổ nhất. Chùa Dâu là minh chứng hùng hồn của Phật giáo Ấn Độ hòa với tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt tộc. Chùa ngự ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ. Chùa Dâu thờ Pháp Vân (thần mây). Chùa Đậu thờ Pháp Vũ (thần mưa). Chùa Tướng thờ Pháp Lôi (thần sấm), chùa Dàn thờ Pháp Điện (thần chớp) và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các Nữ thần.

Phật giáo đã nhanh chóng ăn sâu, bén rễ trong lòng dân Việt nhờ tín ngưỡng thờ Mẫu. Phật giáo đã dung hợp kỳ diệu tín ngưỡng Đạo Mẫu, tạo nên sắc thái văn hóa phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc của dân Bách Việt. Các nhà sư hành đạo cứu đời. Diệt giặc, hộ Quốc, An dân. Các nhà sư là anh hùng giữ nước như chùa Yên Phú (Hà Nội) thời Hai Bà Trưng, thờ Sư Bà Phương Dung, Mẫu Phương Dung, Thành Hoàng làng Phương Dung, nữ tướng của Hai Bà Trưng.

Những ngôi chùa Việt cổ còn lại đến nay, đều có Tòa Cửu Long thờ Tổ Tiên Việt và Ngôi nhà thờ Mẫu. Dân gian Việt truyền Tiền Thần, hậu Phật. Chùa Dâu cổ nhất là minh chứng rõ ràng.

Chùa Dâu gắn với sự tích Phật Mẫu Man Nương

Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã đến đây truyền đạo Phật. Cuối thế kỷ 6. Nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang nước Tàu và sang nước Việt lập nên một phái Thiền ở nước Việt tại vùng Dâu. Chùa Dâu khởi dựng năm 187, hoàn thành năm 226. Là ngôi chùa lâu đời nhất, gắn liền với Lịch sử văn hóa Phật giáo Việt Nam. Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn, Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.

Năm 1313. Chùa Dâu được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Hiện nay, ở tòa thượng điện, còn sót lại vài mảng chạm khắc thời Trần và thời Lê.

Kiến trúc Chùa Dâu đặc trưng Văn hóa Phật giáo Việt

Chùa Dâu được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện.

Hệ thống tượng chùa Dâu thờ Tổ Tiên Việt.

Tiền đường của chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương. Gian thiêu hương đặt Tòa Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi. Thượng điện để tượng Bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp Vũ), và các hầu cận. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính.

Ở gian giữa chùa thờ tượng Bà Dâu, hay nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2 m. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá, tương truyền là em út của Tứ Pháp.

Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị phá huỷ thời kháng chiến chống Pháp, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Những tượng này đều có niên đại thế kỷ 18.

Bên trái của thượng điện có pho tượng thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội tòa sen, có thể có niên đại thế kỷ XIV.

Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Trong tháp, treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc. Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán.

Ngày nay các nhà nghiên cứu Văn hóa, Nghệ thuật, hội họa, điêu khắc… thường xuyên tìm về chùa Dâu để học hỏi, bảo tồn phát huy Văn hóa Việt cổ, Văn hóa Phật giáo Việt Nam để ứng dụng vào sáng tạo Nghệ thuật.

Chùa Dâu thờ Mẫu, Thần, Phật

Thờ Mẫu, Thần, Phật là bản sắc riêng của Văn hóa Phật giáo Việt Nam. Triết lý nhân sinh Con Người, hòa hợp, thờ Trời Đất, thờ Thần Thánh, và Đạo đức thờ Mẹ, kính Cha, tâm hồn thuần hậu của người Việt, bắt gặp tính chất từ bi, hỉ xả, bao dung, độ lượng của Phật giáo, nên cư dân Việt tiếp thu Phật giáo tự nhiên, như nhiên. Phật giáo đã trở thành tôn giáo mang bản sắc dân tộc Việt Nam (có những thời kỳ là Quốc Đạo) đồng hành cùng dân Việt trong hành trình dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, với tư tưởng Hộ quốc, An dân và đáp ứng nhu cầu Tâm linh cho mọi thế hệ người Việt Nam.

Văn hóa Phật giáo Việt Nam là máu thịt của nền Văn hóa, Văn hiến Việt Nam, Thăng Long, Hà Nội.

Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam để Phật giáo luôn hiện hữu mãi mãi trong lòng dân tộc.

Đó là mục đích và là thông điệp của cuộc triển lãm Đặc trưng Văn Hóa Việt Nam trong lời phát biểu của HT.Thích Bảo Nghiêm, Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN, Trưởng Ban Hoằng pháp T.Ư, Trưởng BTS GHPGVN Hà Nội.

“Qua  triển lãm này chúng ta cần phát huy và nêu cao tinh thần Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, Nói đến Phật giáo Việt Nam là nói đến văn hóa  của dân tộc được thể hiện qua những bức họa những hình ảnh về kiến trúc, về ngôn ngữ, về pháp phục, về di sản đươc triển lãm trong ngày hôm nay. Công chúng được chiêm ngưỡng và tự hào về Tổ tiên và các bậc tiền nhân đã cùng với dân tộc làm lên những nét đặc biệt về kiến trúc của dân tộc đồng thời có công trong việc duy trì , bảo vệ nền văn hóa đặc trưng của Văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ,  Đến ngày nay chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy bảo tồn không để cho văn hóa ngoại lai xâm lấn đặc biệt là trong các chùa chiền và các tự viện.

Bảo tồn, Phát huy Văn hóa Phật giáo trong cộng đồng

Tại cuộc họp báo khai mạc triển lãm, nhiều nhà báo trẻ đặt câu hỏi về khắp nơi xây chùa to, ông Phật lớn, nhưng lại giống nước ngoài… Nhiều nơi trùng tu những ngôi chùa cổ, đã làm mất Di sản Văn hóa Phật giáo và Văn hóa Việt Nam. Sự thật này, đã được nhân dân và các phương tiện truyền thông lên tiếng quyết liệt. Vậy chúng ta phải bắt đầu từ đâu để chấn chỉnh tình trạng này?

Hòa thượng Thích Trung Hậu, Trưởng ban Văn hóa, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trả lời:

“Lần đầu tiên Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức triển lãm các đặc trưng Văn hóa của Phật giáo. Đây là hoạt động mở đầu trong chuỗi các hoạt động triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án “Định hướng đặc trưng pháp phục, kiến trúc, ngôn ngữ, di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam” đã được Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam phê duyệt.

Để tránh những “lai căng” văn hóa, tiếp thu có chọn lọc những Tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển Văn hóa dân tộc tiên tiến, hiện đại mà vẫn giữ được nét truyền thống, bản sắc Văn hóa Việt Nam, cần tìm những đặc trưng riêng để giới thiệu Văn hóa Phật giáo Việt Nam, không bị lẫn lộn với nước khác.

Qua triển lãm, Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN mong muốn bước đầu cung cấp cho Phật tử, công chúng một số hình ảnh thể hiện khái quát nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam thông qua: pháp phục, kiến trúc, ngôn ngữ, di sản. Từ đó giúp Phật tử, công chúng tìm hiểu những giá trị Văn hóa Phật giáo truyền thống, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam và Văn hóa dân tộc. Đồng thời mong nhận được những ý kiến đóng góp của Phật tử, công chúng trong quá trình nghiên cứu, xây dựng định hướng Đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam”.

Muôn người như một Bảo tồn Văn hóa Phật giáo Việt

Muốn bảo tồn phát huy giá trị Văn hóa Phật giáo Việt Nam và Văn hóa dân tộc, phải có hành động cụ thể, theo lộ trình. Đề án định hướng đặc trưng Pháp phục, Kiến trúc, Ngôn ngữ và Di sản Văn hóa Phật giáo Việt Nam đã được Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN ký hợp đồng ghi nhớ với các đơn vị đồng tổ chức thực hiện đề án.

Chúng tôi tham dự cuộc tọa đàm và ký kết dự án với các Công ty kinh doanh, các Viện nghiên cứu. Công ty May 10- Hiệp hội Dệt may Việt Nam. Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Viện Nghiên cứu Ngôn Ngữ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Viện Bảo tồn Di tích Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Mọi người đều hoan hỷ vào cuộc. Sau khi nghiên cứu, định hướng đặc trưng Pháp phục, Kiến trúc, Ngôn ngữ và Di sản Văn hóa Phật giáo Việt Nam, sẽ thực hiện, áp dụng vào mọi lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, sắc phục, nghệ thuật, điêu khắc, ngôn ngữ … trong đời sống Phật Pháp của Đạo Phật Việt Nam thời hiện đại.

Thượng tọa Thích Thọ Lạc, Phó trưởng Ban thường trực Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN nói:

“Chúng tôi đang xây dựng chùa Đại Tuệ tại Nghệ An trên nền chùa cổ đã bị hủy hoại. Chùa bao gồm hai loại hình kiến trúc, chùa làng và danh lam cổ tự. Chùa đáp ứng cho hàng nghìn Phật tử tu tập trong cùng một thời khắc, với tiện nghi hiện đại. Nhưng vẫn giữ từng chi tiết hoa văn Việt cổ trong kiến trúc, điêu khắc, tượng Pháp, ngôn ngữ, sắc phục… Tôi về Bát Tràng đặt các đồ thờ cúng theo nét vẽ, màu son đậm hồn Việt cổ như hoa sen, lá sen, lá đề, vân mây, các loại men gốm cổ như màu nâu đất trầm ấm, màu thiên nhiên đồng quê Việt… nhưng có ít người làm được”.

Chùa Đại Tuệ kiến trúc Văn hóa truyền thống Việt

Chùa Đại Tuệ đang xây dựng, hiện lên trong triển lãm Đặc trưng Văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Đại Tuệ là ngôi chùa cổ nằm trên đỉnh cao nhất của dãy núi Đại Huệ, thuộc xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chùa Đại Tuệ ghi dấu Phật giáo cổ xưa trên vùng đất Nghệ An. Dấu tích còn lại của chùa là ba bức tượng xây bằng gạch cao 2,2m; dày 0,5m xung quanh khuôn viên có kè đá bao quanh rộng khoảng 20m, dài 30m. Phía Đông chùa có một ngôi mộ được ghép bằng đá cao khoảng 1m mà nhân dân cho rằng đó là mộ Vua Cảnh Thịnh. Cách chùa 50m về phía Đông Bắc là một giếng nước được kè đá xung quanh dùng để phục vụ tế lễ. Hiện nay chỉ còn một số hiện vật lưu giữ được tại di tích như tượng Phật, đồ tế khí, sách kinh, bia đá, hồ sen.

Đại Tuệ là ngôi chùa duy nhất cả nước thờ Phật Mẫu Đại Tuệ. Chùa Đại Tuệ nay còn phế tích. Nhân dân địa phương và du khách vẫn hằng ngày trèo đèo, lội suối, rẽ lau lách, cỏ dại, tìm đường lên nền chùa thắp hương cầu Phật Mẫu Đại Tuệ và phụng thờ những người có công với nước.

Thượng tọa Thích Thọ Lạc trụ trì chùa Đại Tuệ qui hoạch thiết kế, chùa Đại Tuệ có diện tích xây dựng trên 20ha với gần hai mươi hạng mục công trình, từ Tháp thờ Phật Mẫu Đại Tuệ, Chính điện, Thích Ca điện, Bốn điện thờ Tứ đại Bồ Tát, Thiền đường, Tịnh độ đường, Tổ đường và vãng sinh đường, Lầu chuông khánh, Giảng đường, Thư viện, Trai đường, nhà Tăng, Ni xá, Nhà khách, cổng Tam quan… nhiều loại tượng chư Phật, Bồ tát, các vị La Hán, đúc chuông khánh, các đồ pháp khí…

Sau ba năm thi công, nay Chùa Đại Tuệ ​vừa khánh thành Chùa Thượng gồm Đại tháp Đại Tuệ, Đại hùng bảo điện, Tổ đường, nhà thờ Ngũ đế. Hệ thống tượng pháp trên Đại tháp bằng ngọc quý. Hệ thống tượng pháp trong Đại điện cũng như Tổ đường và nhà thờ Ngũ đế được làm từ gỗ dâu nguyên khối. Tất cả hệ thống câu đối đại tự trên chùa Đại Tuệ được viết bằng chữ thuần Việt.

Chùa Đại Tuệ là điểm nhấn đặc sắc, tôn vinh nét đẹp và giá trị trường tồn của Văn hóa Việt. Các công trình đều mang nét kiến trúc văn hóa truyền thống dân tộc, hài hòa với không gian thờ tự, thiết thực cho nhu cầu tín ngưỡng Tâm linh và tu học Phật pháp của tăng ni Phật tử.

Phật giáo Việt Nam Phục Hưng Hộ Quốc An Dân

Trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ nào Phật giáo chấn hưng Hộ Quốc An Dân, thời đó dân chúng Việt được sống Hòa Bình, An lạc và Văn hóa dân tộc phát triển rực rỡ. Phật giáo thời Lý- Trần đã chứng minh cho luận điểm này.

Phật giáo Việt Nam thời Lý- Trần với tinh thần ở đời vui Đạo, tùy duyên, hòa quang đồng trần, nhập thế hành Đạo, đã sản sinh ra những Thiền sư luôn luôn hướng về cuộc sống, hoà nhập với cuộc đời. Thời nào cũng có những vị Thiền sư tận tuỵ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc.

Chúng tôi tin tưởng cuộc chấn hưng Văn hóa Phật giáo Việt Nam của Giáo Hội Phật giáo hôm nay, hòa tiếng chuông chùa đồng vọng, mỗi sớm, mỗi chiều ngân nga, lan tỏa khắp nẻo đồng làng, núi cao, biển, đảo Việt Nam. Tiếng chuông vô lượng Nhân Tâm Phật, giữ gìn đất nước, con người Việt Nam trường tồn. Không bị đồng hóa. Tiếp nối dòng chảy Văn hóa Tâm linh Tổ Tiên Việt. Bất khuất mấy nghìn năm Bắc thuộc vẫn giữ nguyên vẹn Một dòng chảy Tâm linh Bách Việt.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 27.12.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004