Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Thủ Thiêm 150 năm về trước



DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM






      ÐÔ THÀNH SAIGON


Một vài niên biểu


Cuối thế kỷ 16: Lưu dân Việt Nam bước chân vào đất Nam. 1623: Lập đồn thu thuế tại Gia Định. 1658: Chúa Nguyễn sai Nguyễn Phước Yến vào Mô Xoài, bắt vua Cao Miên đưa về Quảng Bình. 1674: Thống suất Nguyễn Dương Lâm phá vỡ 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang. 1679: Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên được phép sống quanh Sài Gòn. 1698: Lập Phiên Trấn và phủ sở Gia Định. 1708: Mạc Cửu xin cho Hà Tiên thuộc chúa Nguyễn. 1732: Chúa Nguyễn lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (Cái Bè). 1772: Nguyễn Cửu Đàm xây lũy Bán Bích. 1777: Tây Sơn làm chủ Sài Gòn. 1780: Nguyễn Ánh xưng vương tại Sài Gòn. 1788: Nguyễn Ánh lấy lại thành Gia Định. 1788 - 1801: Nguyễn Ánh lập Gia Định Kinh làm bàn đạp tấn công Tây Sơn.1790: Xây thành Bát Quái (thành Quy). 1802 - 1832: Sài Gòn là thủ phủ Gia Định Thành. 1833 - 1835: Lê Văn Khôi khởi binh.1836: Xây thành Phượng.


Giai đoạn thành lập


Trước khi những lưu dân người Việt vào miền Nam khẩn hoang lập ấp thì trên vùng đất nầy, cư dân nào sinh sống? Đây là một trong những vấn đề về miền Nam đã gây nhiều tranh luận, đến nay vẫn chưa thống nhất quan điểm.

Kết quả tư liệu còn ít, lý giải chưa thoả đáng, tư liệu khảo cổ còn nghèo nàn. Thời sơ sử của Sài Gòn theo nhiều nhà nghiên cứu phải kể từ thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, tức là khi thành lập nước Phù Nam.

Những lý giải về vấn đề cư dân nầy chỉ là những gợi ý:

Theo Trịnh Hoài Đức, có lẽ vùng nầy trước kia thuộc nhiều tiểu quốc mà nước Bà Lợi tức là Bà Rịa, nước Chu Nại tức là Sài Gòn. Nhưng khi đi sâu vào, thì tác giả Gia Định Thành Thông Chí không ghi thêm một chứng liệu xác quyết nào hơn. Giả thuyết nầy ít đượcgiải minh thêm.

Theo Nguyễn Siêu: Theo tác giả Phương Đình Địa Dư Chí thì Biên Hoà ngày nay tức là nước Càn Đà Lợi và nước Xích Thổ trước kia. Thực ra, Nguyễn Siêu chỉ nhắc lại quan điểm của Trịnh Hoài Đức nhưng lại ghi địa danh khác mà thôi.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, thì vùng đất nầy trước kia nằm trong địa phận của nước Xích Thổ (Đất Đỏ). Vua Thiệu Trị giải thích rằng: Xiêm La nguyên xưa kia là nước Xích Thổ, về sau chia làm hai: nước Xiêm và nước La Hộc.

Nước Xiêm đất xấu, cày cấy không được. Nước La Hộc đất bằng mà tốt, cày cấy được mùa. La Hộc có thể là địa bàn miền Nam hiện nay.

Theo Trần Trọng Kim thì: Thoạt tiên, vùng nầy là nước Phù Nam. Vào quảng thế kỷ thứ 6 - 7, đất Phù Nam chia hai: nửa phía đông là Chân Lạp, nửa phía tây là Xích Thổ. Vào thế kỷ 12, nước Xích Thổ lại chia làm hai: một nước là La Hộc, nước kia là Tiêm.

Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu nêu thêm: cư dân hínhcủa Sài Gòn xưa có thể là hai dân tộc Stieng và Mạ. Người Mạ nói tiếng nói tiếng gốc Mã Lai, khác với tiếng gốc Môn Khmer (theo Bình Nguyên Lộc). Dân tộc Stieng hiện nay có khoảng 40,000 người, sinh sống vùng biên giới Tây nam, tập trung ở Sông Bé, Tây Ninh và Đồng Nai. Địa vực cư trú của người Stieng giáp với người Mnong ở phía Bắc, người Mạ ở phiá Đông. Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ là giả thuyết. Khoa khảo cổ học, sử học, nhân chủng học nghiên cứu vùng nầy cũng không soi sáng rõ gì thêm.


Người Việt đến vùng Đồng Nai


Từ thế kỷ thứ XIII, đã có một số người Việt đến vùng nầy, sau đó chuyển dần lên phía Tây, đến tận Phnom Penh. Lưu dân vào ngày càng đông.

Tháng 6 năm 1698, khi phủ Gia Định được thiết lập những cơ sở đầu tiên, hai trung tâm thương mải của vùng đất nầy là Bến Nghé (nay thuộc quận I) và Sài Gòn (nay thuộc quận 5) đã được hình thành. Chỉ thời gian sau đó thì phát triển nhanh chóng.

Hình thái ban đầu của hai trung tâm nầy mới là một ngôi chợ lớn hay là một phố thị nhỏ, nhìn chung mỗi trung tâm có diện tích không quá một cây số vuông.

Bến Nghé tọa lạc bên bờ sông Bến Nghé, thời đó thuộc tổng Bình Dương. Còn Sài Gòn theo danh xưng hồi đó thì nằm cạnh rạch Sài Gòn, trong địa hạt của tổng Tân Long. Cả hai tổng nầy họp lại thành quận Tân Bình.

Về tổ chức hành chánh và quân sự, thủ phủ Gia Định đóng gần ngôi chợ Bến Nghé có những doanh trại san sát nhau. Vào tháng 4 năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm được lệnh xây dựng thành Bán Bích.

Chức năng của thành nầy trên nguyên tắc là để bảo vệ hai vùng Sài Gòn và Bến Nghé trong hoàn cảnh khá nhiễu nhương. Thành nầy chạy dài từ chùa Cây Mai cho đến phần đầu của con kinh Nhiêu Lộc. Như vậy, nhìn vào tổng thể thì Nguyễn Cửu Đàm chính là người quy hoạch toàn bộ thành phố trong giai đoạn đầu.

Với địa thế khá thuận lợi, lớp lưu dân Việt và Hoa gia tăng nhanh, lại thêm nhiều nguồn lợi, cho nên hai vùng Bến Nghé cũng như Sài Gòn đã phát triển nhanh chóng.

Nhưng tình thế đã không mấy ổn định. Từ năm 1776 cho đến 1788, trong suốt 12 năm ròng rã, quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn lại tranh chấp ưu thế và địa thế vùng đất Gia Định trong nhiều lần. Hoàn cảnh nầy gây nhiều thiệt hại, tang tóc cho dân chúng.

Việc xây dựng cũng bị đình trệ. Năm 1790, khi tình thế khá thuận lợi, chúa Nguyễn Ánh cho xây Gia Ðịnh kinh theo hình Bát Quái (thành Quy) theo kiểu Vauban, với quy mô khá rộng (chu vi của thành ngoài vào khoảng 3,820km).

Trần Văn Học là vị kiến trúc sư có công lớn trong việc xây thành nầy, đồng thường quy hoạch hệ thống giao thông, để có thể nối liền Bến Nghé và Sài Gòn một cách dễ dàng. Sài Gòn (sau nầy là Chợ Lớn) trở nên phồn vinh trong một thời gian ngắn; còn Bến Nghé có "đô" lại có "thị", cho nên định hình nhanh chóng theo mô thức đô thị. Vua Gia Long lên ngôi, Sài Gòn trở thành một trung tâm kinh tế vàgiao dịch quan trọng.

Đến năm 1833, Lê Văn Khôi nổi loạn kéo dài 2 năm. Sau vụ nầy, vua Minh Mạng cho phá thành Quy để xây lại thành Phụng với quy mô nhỏ hơn (1/4 của thành Quy). Ý đồ của nhà là thu hẹp uy thế trong khi cần mở mang kinh thành Huế hơn.

Nhưng Bến Nghé vẫn đủ khả năng để vươn lên.Tình hình ổn định kéo dài đến năm 1859 thì quân Pháp vào chiếm Gia Định, khởi đầu cuộc xâm lăng. Thành Phụng bị phá thành bình địa. Trong chiều hướng chính trị mới, thực dân Pháp đã cho quy hoạch lại thành phố theo mô thức Tây Phương.

Vì Nam Kỳ là đất thuộc địa cho nên người Pháp cho xây dựng trị sở nhanh chóng vàmở rộng thêm. Dinh thự, bến cảng, doanh trại, đường sá mở mang. Sài Gòn trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông. Theo mô hình, trong thập niên 60 thế kỷ XIX, Sài Gòn chỉ nằm trong phạm vi của quận I ngày nay.

Chợ Lớn tuy phát triển nhưng cũng chỉ nằm trong phạm vi của quận 5 ngày nay. Giữa hai thành phố là ruộng rẫy. Mãi cho đến năm 1931, hai thành phố mới được nới rộng. Đường sá nối liền Sài Gòn - Chợ lớn. Nhà cầm quyền Pháp lập thành đơn vịhành chánh chung.

Khi người Pháp rút khỏi Việt Nam thì đô thành Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền quốc gia. Sài Gòn có 12 quận, mỗi quận chia nhiều phường. Hiện nay, Sài Gòn có 17 quận nội thành là quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Tân bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp và Thủ Đức. Năm huyện ngoại thành là Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ.


Địa danh Sài Gòn


Từ trước đến nay có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến địa danh Sài Gòn, từ tự dạng, nguồn gốc, phát âm.

Về địa danh Sài Gòn, có khi là tên nôm trong giao dịch, nhưng có khi là tên chính thức trên những văn bản pháp định. Trong Gia Định Thành Thông Chí có chép: "Người địa phương thường chỉ gọi đất Phiên An là Bến Nghé, Sài Gòn".

Trong Đại Nam Thực Lục có ghi: "Mùa xuân năm Đinh Dậu (1777) (...) Nguyễn Huệ vào đánh lấy Sài Gòn". Như vậy, vào thời Nguyễn, trong nhiều sách sử thì địa danh Sài Gòn trở thành tên hành chánh chính thức.

Ngày 11 tháng 4 năm 1861, trong một nghị định ban hành, thống đốc Bonard xác định địa giới "Thành phố Sài Gòn" nằm trong lòng các sông Thị Nghè, sông Sài Gòn, kinh Tàu Hủ và một đường ranh từ chùa Cây Mai vòng lên các đường lũy Chí Hoà, rồi ăn vào đầu sông Thị Nghè... Về sau qua từng giai đoạn phát triển, địa bàn của thành phố gia giảm từng vùng, tuy nhiên danh xưng Sài Gòn đã trở thành chính thức từ 1861 (theo nghị định) cho đến 1975.


Thời gian xuất hiện


Địa danh Sài Gòn xuất hiện từ lúc nào? Nhiều tác giả đã đề cập đến. Phần đông cho rằng: Ngay từ buổi đầu khi lưu dân từ những tỉnh miền Trung vào khẩn hoang lập ấp, tên Sài Gòn đã xuất hiện.

Thời điểm có danh xưng vào cuối thế kỷ XVI sang đầu thế kỷ XVII.Địa danh nầy đã được ghi vào sổ sách, giấy tờ vào lúc nào? Giữa hay cuối thế kỷ XVII? Đến nay vẫn chưa có chứng liệu nào minh định cả.

Sài Gòn là một danh từ Hán Nôm. Lê Quý Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776 có ghi: Tháng 4 (1672) Nguyễn Dương Lâm chia quân làm hai đạo nhân đêm đem quân đánh úp lũy Gò Bích, chặt đứtbè nổi và xích sắt, tiến thẳng vào thành Nam Vang. Nặc Đài bị chết. Nặc Thu ra hàng.

Tháng 7 rút quân về lập Nặc Thu làm chính quốc vương đóng ở Cao Miên. Nặc Nộn làm thứ quốc vương đóng ở Sài Gòn, hằng năm triều cống (..)".

Nếu căn cứ theo tài liệu nầy thì địa danh Sài Gòn đã xuất hiện từ 1776 để nói về cái tên Sài Gòn của địa phương đã có ít nhất từ năm 1672. Khi Aubaret và F. Garnier dùng đến địa danh "Tai ngon" hay "Ti gan" thì trước đó tên Sài Gòn đã xuất hiện.

Danh từ Sài Gòn (Rai Gon) trước đó chỉ được nhắc trong giao dịch hay bằng chữ Nôm, phải đợi đến năm 1747 thì trên những văn kiện chính thức mới xuất hiện bằng mẫu tự La Tinh. Thoạt đầu là trong bản danh mục của các họ đạo kê khai năm 1747 về tình hình của "tỉnh Rai Gon".

Bên cạnh đó có những địa danh được phiên âm khác như Ben Ghe (Bến Nghé) Lai Thiu (Lái Thiêu) Cai Nhum (Cái Nhum) Cai Ming (Cái Mơn) Rach tìa (Rạch Tra) Ruot Ngua (Ruột Ngựa) Mi Tho (Mỹ Tho) (Theo tài liệu của De Launay - Histoire de la Mission de Cochinchine).


Những dạng tự


Địa danh Sài Gòn dần dà cũng được trình bày trên những văn bản khác về chữ Nôm hay mẫu tự La Tinh.

Về chữ Nôm: Trong những văn kiện bằng chữ Nôm hồi đó thì viết ra "Sài Côn". Trong cách viết chữ Hán Việt thì chữ "Gòn" và chữ "Côn" cũng một dạng tự cho nên cách viết như nhau mà người phiên âm thì lại đọc khác nhau.

Mãi cho đến năm 1776 thì dạng tự bằng Hán Việt viết là "Sài Gòn" được dùng phổ thông cho đến nay.

Còn về dạng tự La Tinh: trong những văn kiện của người Pháp thìdùng đủ thứ Sài Gòn, Saigon, Sai Gun, Sai Gon, Rai Gon. Sự khác nhau nầy là do cách đánh vần của người Tây Phương khi phiên âm.

Địa danh Đề Ngạn và Tây Cống: Một số người Pháp khi trình bày vềđịa danh Sài Gòn (Như Aubaret và F. Garnier) thì cho rằng: Từ năm1778, khi người Hoa mới tạo dựng nên vùng Chợ Lớn trở thành trung khu thương mải thì đặt tên là Tai Ngon hay Ti Ngan; người Việt Nam mới bắt chước theo (?) mà phát âm ra là Sài Gòn.

Trong khi viết Tai Gon hay Ti Ngan, thì theo âm Hán Việt ta đọc là Đề Ngạn, còn người Quảng Đông thì phát âm là "Thì Ngòn" hay "Thầy Ngồn". Một cách phiên âm khác của người Hoa được người Việt đọc ra là Tây Cống, còn người Hoa thì phát âm là Xi Cún hay Xây Cón.

Trường hợp ngưòi Hoa viết và phát âm thì Sài Gòn và Tây Cống không khác gì nhau, nhưng với cách phát âm của người Việt thì sai lệch hẳn.

Trong tác phẩm "Sài Gòn năm xưa" Vương Hồng Sển viết: "Danh từ Tây Cống mà họ phát âm nghe ra Xi Cóon hoặc Xây Cóon (theo giọng Quảng). Theo ý tôi, Xi Xóon hay Xây Cóon đây là cách phát âm giữa người Tàu với nhau để ám chỉ vùng mà người Pháp kiểu là Sài-Gòn ngày nay, vùng ghi theo tiếng Sài-Gòn do giọng Tàu".

Một tài liệu khác - Thái Văn Kiểm - viết: Về danh xưng Đề Ngạn (...) nó chỉ xuất hiện vào năm 1778... Bọn Hoa kiều nầy đã phiên âm hai chữ Sài-Gòn bằng hai chữ Đề Ngạn mà họ đọc Tầy Ngồn (giọng Quảng Đông), còn Sài Côn họ cũng viết là Tây Cống để mà đọc là Xì Cúng".

Về cách giải thích địa danh nầy, cũng có nhiều lối khác nhau. Một số nhà nghiên cứu dùng theo từ nguyên học thông tục, cho rằng: trong Địa danh Sài Gòn, thì "Sài" có nghĩa là "củi", còn "Gòn" là"cây bông".

Họ ghép chung lại để giải thích là Củi Gòn, Cây Gòn hay Rừng Gòn. Vào giữa thế kỷ thứ XIX, Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nêu ra phương hướng để giải thích danh từ Sài Gòn bằng cách tìm hiểu danh xưng địa phương. Theo ông "dường như danh từ Sài Gòn là tên của người Kampuchia đặt ra cho đất nầy, rồi sau đó, dùng làm tên gọi cho thành phố" (Trong Souvenirs historiques sur Saigon et sesenvirons).

Ở trong một công trình nghiên cứu khác (Petit Cours de Géographie de la Basse Cochinchine), ông đã làm một bản đối chiếu của 187 địa danh Việt Nam - Kampuchia, để rồi ghép đôi danh từ "Sài Gòn" với "Prei Nokor" cũng như "Bến Nghé" với "Kompong Krabei" (Kas Krobey).

Những nhà nghiên cứu khác như Aymounier, Tandart, Parmentier trong khi nghiên cứu về ý nghĩa của địa danh Việt Nam (Miền Nam) cũng thực hiện giải thích theo phương hướng nầy. Danh xưng Sài Gòn là "Prei Nokor" của tiếng Kampuchia có nghĩa là "Rừng Vua" hay là "Thị trấn trong rừng".

Gần đây nhất, cuộc nghiên cứu của nhà địa bạ học Nguyễn Đình Dậu (trong cuốn "Địa chí Văn hoá Thành phố HCM" (1987) cũng đồng ýcách giải thích nầy và tiếp tục tìm ý nghĩa của nhiều địa danh ở miền Nam mà học giả Trương Vĩnh Ký đã mở đầu trong bảng Đối Chiếu 1885.


Địa bàn Sài Gòn bao gồm vùng nào?


Một vấn đề khó khăn khác nữa là khi dùng đến danh xưng Sài Gòn thì từng tác giả trong quá khứ đã mô tả phạm vi địa lý nào? Tên nầy thường dùng trong những hoàn cảnh sử dụng khác nhau, và chỉ đi sâu vào nội dung thì mới hiểu được ý nghĩa.

Ví dụ: Trong trường hợp chú thích trong sách "Gia Định Thành Thông Chí" thì: Sài Gòn chính là tiểu quốc Thù Nại ở miền đông Nam Kỳ trước kia; trong trường hợp thì phạm vi đất Sài Gòn lại là tên của một vùng đất bao gồm: Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, một phần của Long An và Tiền Giang, có diện tích rộng đến khoảng từ 20,000 đến 25,000 cây số vuông.

Tuy nhiên, trong trường hợp vào năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh được nhiệm vụ của chúa Nguyễn vào Nam "lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình" thì vị trí của Sài Gòn trong trường hợp nầy bằng cả một huyện Tân Bình, tức là có diện tích vào khoảng 5,000 cây sốvuông, gồm một miền đất rộng ở phía Tây của sông Đồng Nai. Thànhthử, đất đai lại không giống như đã ghi trong Gia Định Thành Thông Chí. Một trường hợp khác: trong Đại Nam Thực Lục hay trong thư của chúa Nguyễn Ánh ghi vào năm 1788 và trong "An Nam Quốc Đại Họa Đồ" vào năm 1838, thì vùng đất Sài Gòn chính là vùng đất tương đương với diện tích của thành phố Sài Gòn hiện nay, có diện tích vào khoảng 25 cây số vuông.

Trong một số trường hợp khác, thì địa diện lại khác. Chẳng hạn như trong bức thư của phái đoàn Crawfurd vào năm 1822 đời vua Minh Mạng, hay trong Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi "Chợ Sài Gòn cách phía Nam trấn (thành) 12 dặm", thì tên Sài Gòn trong trường hợp nầy lại là Chợ Lớn, có diện tích vào khoảng 1 cây số vuông mà thôi.

Thành thử trong việc nhận định địa danh Sài Gòn trong quá khứ phải tùy theo trường hợp để nói rõ phạm vi; những việc nêu địa danh Sài Gòn thời trước cũng thường lẫn trùng với Bến Nghé, Phiên An, Gia Định...

Qua những thời kỳ phát triển của thành phố nầy, phải nhận định trong từng giai đoạn một, nhưng những biến chuyển không ngừng trong việc mở mang, đồng thời có nhiều việc thay triều, đổi họ với thành phố nầy.


Phát triển Nam Kỳ


Những dữ kiện nầy cho thấy được những điểm chính yếu trong dụng ý của Đàng Trong như sau:

Chương trình di dân để Việt hoá cũng đã bắt đầu trên vùng đất của xứ Chân Lạp, tương tự như việc di dân vào hai châu Thuận - Quảng đời nhà Trần trên đất Chiêm Thành năm 1306.

Việc kiểm soát thuế khoá vùng đất nầy cũng đã khởi đầu cho việc bành trướng, dựa trên cơ sở kinh tế hơn là quân sự trong chương trình Nam tiến. Nhiều nhà nghiên cứu sử liệu tìm hiểu về những sự kiện chung quanh việc "lập đồn thu thuế" và ước định rằng một trong hai khuvực nầy nằm tại "xóm Bến Nghé" ngày nay, tức là đầu đường Nguyễn Huệ gần bờ sông Sài Gòn.

Một địa điểm thu thuế khác nằm trên "xóm Sài Gòn" tức là trong vùng giữa của quận 5 - Sài Gòn ngày nay. Công việc thu thuế càng ngày càng tổ chức chặt chẻ, kể cả phương diện hành chánh và kinh tế cho nên có thể hiểu được đây là đầu cầu của chương trình thu phục xứ Đồng Nai của chúa Nguyễn trong thời gian sau nầy.

Nhiều vết tích cho thấy trong hai vùng nầy đã có những doanh trại của vị phó vương Nặc Nộn, được xây dựng lên trong khoảng từ năm 1674 cho đến 1696; phạm vi kiến trúc trong khoảng từ Cây Mai chạy dài cho đến Phú Thọ (trong địa phận của quận 11 - thành phố SàiGòn hiện nay).

Trong cuốn Gia Định Thành Thông Chí cũng đã xác định vị trí nầy khá vững chắc. Năm 1679, trong chiều hướng "bảo vệ vùng thương chánh", đồn dinh Tân Mỹ cũng đã được thành lập, trong quy mô vừa phải, nhưng cũng đủ quân binh cần thiết để chống giữ.

Tài liệu Gia định Thành Thông Chí ghi thêm: (...) Đồn dinh (Tân Mỹ) dùng làm chỗ cho quan Tổng Tham Mưu cư trú... trong khi đó thi những nha thự dựng lên cho các quan Giám Quận, Cai Bộ và Ký Lục. Có những quân trại hộ vệ, ngăn ra từng khu riêng biệt; phần còn lại thì cho phép dân chúng được quyền trưng chiếm; chia ra những khu làng xóm, phố chợ..."

Theo ước tính thì dân số tại Sài Gòn trong thời điểm nầy khoảng chừng 10,000 người. Một tư liệu khác cũng ghi thêm: "

(...) Xem như vậy, Sài Gòn ngay từ thời quá bán của thế kỷ XVII, với vị trí thiên nhiên thuận lợi, với sự tập trung của các cơ quan Việt Nam bán chính thức, với thành phần khẩn hoang, lập ấp và thông thương của các lưu dân, đã nhanh chóng trở thành một thị trấn quan trọng trong vùng Nam Đông Dương, tương đương với Nam Vang (Phnom Penh) hay Vọng Các (Bangkok) rồi. (...) (Trích Địa lý lịch sử TP/HCM- NĐD - trang 154).



Lập đồn thu thuế ở Gia Định


Lịch sử xây dựng Sài Gòn dưới thời các chúa Nguyễn được nói đến từ năm 1623. Tháng chín năm đó chúa Nguyễn đã lập đồn thu thuế trên vùng đất Cầu Kho. Địa điểm thu thuế toạ lạc bên bờ sông Sài Gòn cũ, được xem là nơi hội tụ quan trọng của nhiều vùng lưu dân đến lập nghiệp trong vùng. Hai địa điểm thu thuế của chúa Nguyễn thiết lập tại Xóm Bến Nghé và Xóm Sài Gòn. (Xóm Bến Nghé nằm vào đầu đường Nguyễn Huệ ngày nay và Xóm Sài Gòn ở giữa quận 5 ngày nay).

Dần dà thì một số cơ quan công quyền của chúa Nguyễn cũng được tạo dựng quanh vùng kể từ năm 1679. Sài Gòn từ đó phát triển không ngừng, dù trong giai đoạn nầy có những tranh chấp ác liệt giữa nhiều thế lực.Vào giữa tháng hai năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn cử Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh làm Kinh lược sứ miền Nam.

Thời điểm nầy những lưu dân trong vùng vẫn còn thưa thớt, rải rác nhiều nơi, nhưng sự hiện diện từng cụm đã tạo thành hình mạo sinh hoạt ban đầu. Địa bàn phát triển chạy từ sông Tiền đến vùng Vàm Cỏ, đến vùng Ðồng Nai và chạy đến tận Bà Rịa.

Như vậy, hướng phát triển đã lan toả nhiều nơi. Theo Gia Định Thành Thông Chí thì "Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị (...)"


Chiêu mộ cư dân


Sau khi thiết lập được những cơ sở cần thiết, quan Phiên trấn mới chiêu mộ lưu dân đến. Theo Phủ Biên Tạp Lục (Lê Quý Đôn) thì: Quan Phiên Trấn bắt đầu chiêu mô những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho dời vào đây.

Họ được phân chia ra từng vùng để phát chặt, vỡ hoang đất đai, tập trung tại những nơi đất đai mầu mỡ. Họ làm nhà cửa và trồng nhiều loại cây.

Người Hoa: Riêng đối với người Hoa đến sinh sống thì dinh Phiên Trấn cho thi hành chính sách đồng hoá.

Họ hợp thành xã Minh Hương, rồi sau đó ghép vào sổ hộ tịch. Với sổ bộ nầy, người Hoa có dân tịch, quốc tịch Việt Nam với quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân khác. Xã Minh Hương tức là vùng Chợ Lớn hiện nay, nơi có hội quán Minh Hương Gia Thạnh.

Theo chứng liệu nầy thì người Hoa xã Minh Hương đã đến ở Sài Gòn trước cả năm 1698. Điều nầy phản bác lại một số tài liệu cho rằng: Phải chờ đến năm 1778, người Hoa của xã Thanh Hà, tức Nông Nại đại phố bỏ vùng cù lao Phố về đây lập "chợ Sài Gòn" (tức là Chợ Lớn ngày nay).

Tại miền Nam, từ trước năm 1698 tức là khi Nguyễn Hữu Cảnh lập dinh Phiên trấn, đã có người Việt vào đây làm ăn. Họ đã lập những thôn ấp từ vùng Bà Riạ cho đến Đồng Nai, rồi Sài Gòn.

Họ làm nghề trồng lúa nước, lúa cạn, khai thác nghề rừng, nghề chài lưới. Những vùng khác tại đồng bằng sông Cửu Long và sông Đồng Nai với đất đai phì nhiêu cũng được lưu dân tìm đến để sinh sống. Kinh đô Chân Lạp tại vùng nầy cũng đã có dấu vết người Việt đến ngụ cư.

Nhiều giáo sĩ Tây Phương đến vùng nầy đã chứng kiến điều đó; chẳng hạn như trong thư từ giai dịch của giáo sĩ Chevreuil năm 1665 có viết: (...) Khi đến Colompé (tức Phnom Penh) vào cuối năm, đã thấy hai làng người Việt".

Hai năm sau đó, chính ông ta đã thấy có hàng ngàn người Việt và người Hoa sinh sống. Họ tranh chấp nhau về nơi sinh sống. Triều đình Chân Lạp ngả theo người Hoa, người Việt phải bỏ về nước. Con số trở về có đến 700 – 800 người. Người Việt sống đủ nghề. Nông thôn thì làm ruộng. Gần phố thị thì buôn bán; họ làm nghề thủ công, chài lưới, trồng trọt. Như vậy vào cuối thế kỷ thứ XVI, người Việt đã hiện diện trong vùng nầy rồi.


Liên hệ với Chân Lạp


Trong thế kỷ thứ XVII, lịch sử còn nói đến những liên hệ của chúa Nguyễn và vua nước Chân Lạp như sau: Trường hợp Công chúa Ngọc Vạn được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định là chấp nhận việc hôn nhân với vua Chân Lạp là Chey Chetta (1618 - 1627) lúc đó đang muốn tìm một đối lực để chống lại Xiêm La.

Chey Chetta muốn cưới một Công nữ chúa Nguyễn làm Hoàng hậu, trông mong ủng hộ của chính quyền Thuận Hoá thời đó. Công chúa Ngọc Vạn "nối gót Huyền Trân" trong hôn nhân nầy, đem theo nhiều người Việt, trong đó, có nhiều người giữ chức quan trọng trong triều Chân Lạp.

Với cuộc hôn nhân nầy, vào năm 1623, vua nước Chân Lạp đã đồng ý cho chúa Nguyễn lập đồn thu thuế thương chánh ở vùng Sài Gòn và vùng Bến Nghé; trong thời gian nầy, đã có nhiều người Việt đến định cư, lập nghiệp, khẩn hoang trong vùng nầy; họ sống bằng nghề thủ công, làm ruộng và buôn bán.

Dần dà nhiều đợt khác cũng didân đến. Chứng liệu nầy cũng được một số nhà nghiên cứu đi sâu hơn: Vào Phật Lịch 2167, tức là Công nguyên 1623, một sứ thần của Quốc Vương An Nam đem thư tới Quốc Vương Kampuchia là Prea Chey Chesda (hay Chetta). trong nội dung, Quốc vương An Nam tỏ ý muốn "mượn" xứ Prei Nogor và Kas Krobey để lập hai trạm thu thuế thương chánh.

Sau khi tham khảo ý kiến triều đình, Prea Chey Chesda thuận theo ý của Quốc Vương An Nam. Vua nước Chân Lạp cũng đã gửi quốc thư cho chúa Nguyễn trình bày việc chấp thuận và bày tỏ sự giao hảo của hai nước. Những chức sắc trong coi về thương chánh cũng được đưa vào hai trú khu nầy; và việc thực hành thuế vụ vùng nầy cũng bắt đầu từ đó dưới quyền chúa Nguyễn.


Những biến động


Trên đại thể, vào khoảng thế kỷ XV và XVI, Sài Gòn chỉ là khu rừng rậm, ít người đến làm ăn. Cư dân đến đây có thể vài nhóm nhỏ thổ dân Indonésiens. Cũng có thể vài Phum, Sóc người Miên dựng lên. Ông chỉ có thể dựng nhà ở trên những giồng đất cao. khi lưu dân người Việt đến, thì Sài Gòn được khai phát. Họ sống tại vùng bến sông và lập bến bãi. Chợ nhỏ được dựng lên để trao đổi hàng hoá.

Sau đó thì chúa Nguyễn đã thương lượng để lập sở thu thuế rồi lập cơ sở hành chánh.Vị trí Sài Gòn với những điều kiện thuận lợi, trở nền một trung tâm thu hút. Năm 1623, khi chúa Nguyễn lập đồn thu thuế thì cư dân đã phát triển khá đông. Cho đến năm 1698, phủ sở Gia Định được dựng lên,Sài Gòn đã vào nề nếp.

Biến cố Mô Xoài: trên bước đường tìm kiếm nơi sanh sống làm ăn, nhiều lưu dân người Việt đã đến khai thác Bà Rịa (Mô Xoài) rồi mới đến Sài Gòn. Theo tài liệu trong Gia Định Thành Thông Chí thì: Năm Mậu Tuất (1658) vào tháng chín, Cao Miên phạm biên cảnh. Chúa Nguyễn sai Vũ Yến Hầu (Nguyễn Phước Yến) đem 3000 quân đi tuần, rồi tiến đến Mô Xoài. Nguyễn Phước Yến bắt đưa vua Cao Miên là Nặc Ông Chân về Quảng Bình. Qua thương nghị vua Cao Miên thoả thuận lập quan hệ.

Năm 1674: khi Nặc Ông Nộn cầu cứu với chúa Nguyễn, Thống suất Nguyễn Dương Lâm được lệnh mang quân vào bình định. Ông ta đã phá vỡ ba lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang. Sài Gòn thời đó đã là nơi đóng quân của phó vương Nặc Ông Nộn.

Tuy nhiên sách sử không ghi rõ vị trí của cơ sở nầy.Năm 1679 : Nặc Ông Nôn dựa vào thế lực của chúa Nguyễn, mang quân tiến đánh Nặc Thu nhiều lần. Nặc Thu có quân Xiêm yễm trợ đắc lực nên Nặc Nộn không phá được, đành lui về Sài Gòn.

Năm 1682: Nặc Nộn lại vận động lấy thêm quân trong giới Minh Hương và cả người Chăm Pa tấn công, đánh chiếm vùng Trà Vinh, Bathắc và Hà Tiên, tiến lên U Đong. Nhưng rồi Nặc Thu cũng nhờ quân Xiêm cứu trợ, đã đuổi lui được Nặc Nộn.Qua những sự kiện trên cho thấy Sài Gòn thời đó đã trở thành mộthậu cứ lớn. Thế lực thân chúa Nguyễn phải đối đầu với âm mưu thôn tính của Xiêm La đang chiếm gần hết lãnh thổ Cao Miên.

Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên Năm Kỷ Vị (1679) có một số viên chức quan lại cũ của nhà Minh ở Trung Hoa là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) tên là Dương Ngạn Địch cùng phó tướng Hoàng Tiến, và tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Đông) tên là Trần Thượng Xuyên (cũng gọi là Trần Thắng Tài) cùng phó tướng là Bình Nguyên Trần An Bình đã không chịu khuất phục nhà Thanh, đã đem 3,000 quân và toàn gia quyến trên 50 chiếc thuyền sang xin chúa Nguyễn xin sinh sống, lập nghiệp.

Sau khi cân nhắc mọi điều hơn thiệt, chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) đã chấp nhận và biệt đãi. Chúa cho người đưa họ vào làm ăn sinh sống quanh vùng đất Sài Gòn. Những người Long Môn và Dương Ngạn Địch đem binh lính ghe thuyền chạy vào Cửa Tiểu và Cửa Đại rồi lên đồn trú trong vùng đất Mỹ Tho. Còn những người thuộc Cao, Lôi, Liêm cùng Trần Thượng Xuyên thì đem binh thuyền chạy vào cửa Cần Giờ, sau đó lên đồn trú ở điạ phương Bàn Lân của xứ Đồng Nai (Biên Hoà ngày nay).

Những nhóm lưu dân nầy cùng với những người Việt đã cùng nhau khẩn hoang lập ấp. Những người Minh Hương thì thiên di về lập phố chợ, mở mang thương mãi tại vùng Nông Nại Đại Phố ở Đồng Nai.Trong giao dịch họ liên hệ buôn bán với người Tàu, người Nhật, người Tây Dương, người Đồ Bà.

Những thuyền buôn tụ tập đông đảo (GĐTTC). Trong việc phân chia khu vực hai nhóm người Quảng Tây ở Mỹ Tho và Quảng Đông ở Biên Hoà phát triển hai miền nam bắc của Sài Gòn. Cả hai chú trọng về thương mãi; họ bảo vệ khu vực làm ăn của mình, tươngnhượng nhau và càng ngày càng phát triển thêm.

Trong khi đó thì hai vùng Đồng Nai và Mỹ Tho khi đó đã có thêm nhiều người Việt ở miền Trung vào lập nghiệp rồi. Những nhóm Quảng Đông và Quảng Tây đến sau, sống đan xen vào những thôn ấp Việt Nam trên những cánh đồng còn bỏ hoang rộng lớn. Thời gian sau thì họ chuyển nghề; số người làm ruộng không nhiều, nên đa số đều trở lại tập trung ở những khu phố chợ Mỹ Tho và Nông Nại để phát triển nghề buôn bán sở trường.

Nhìn chung lại, việc khẩn hoang lập ấp tại miền Nam là do người Việt cùng với sự đóng góp của người Hoa. Trong buổi đầu, những người lưu dân vẫn còn giữ nhiều tính võ biền quân phiệt, nên dễ sinh những biến động. Trường hợp Hoàng Tiến tạo loạn, gây phản giết chết Dương Ngạn Địch rồi toan chiếm cứu một vùng; Chúa Nguyễn vội sai Mai Văn Long đem quân tiêu diệt.

Mạc Thiên Tứ Mạc Thiên Tứ (còn gọi là Mạc Thiên Tích) là một trong những vị tướng nhà Minh sang lánh nạn tại Việt Nam.Ông đã nhiều lần mang quân tấn công sang xứ Xiêm La và bảo hộ vùng đất phía Nam và Tây nam của xứ Chân Lạp.

Điều đáng nói nhất là Mạc Thiên Tứ có công mở rộng thị trấn Hà Tiên, và đến năm 1739 đã lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (vùng Cà Mâu), Kiên Giang (Rạch Giá) Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc của Bạc Liêu). Mạc Thiên Tứ có kiến thức sâu sắc, giỏi về ngoại giao, có tài thi văn.

Trong thời gian đó đất Chân Lạp có cuộc tranh chấp nội bộ. Năm1747, Nặc Ông Thâm (Thommo Racha III) từ miền đông Xiêm La trở về đánh đuổi Nặc Ông Tha (Chettha V) chiếm ngôi vua. Ông Tha thất thế, phải đem thuộc hạ sang Gia Định cầu cứu.

Sau đó thì Nặc Ông Thâm bị Satha II giết, con cái lại tranh giành ngôi báu. Năm1749, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho quân hộ tống Ông Tha trở về nước lấy lại ngôi. Một trong những người con trai của Ông Thâm là Nặc Nguyên (Nac Snguon) nhớ quân Xiêm La sang đánh giành lại ngai vàng. Ông Tha lại thua, phải chạy về đất Gia Định. Ngay khi đó thì Nặc Nguyên tìm cách mật giao với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài để hợp lực đánh lại chúa Nguyễn. Nhờ nội phản ở Chân Lạp, Nguyễn Vương biết được, nên tháng 4 năm 1753 cử Nguyễn Cư Trinh sang Nam Vang đánh Nặc Nguyên. Nặc Nguyên thất thế, thua chạy về Hà Tiên, nương nhờ Mạc Thiên Tứ.

Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ của 2 phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để tạ tội. Chúa Nguyễn thuận và cho Nặc Nguyên trở về Nam Vang trị vì.

Vào tháng 4 năm 1758, Nặc Nguyên qua đời, không người thừa kế. Nặc Nguyên là chú họ, tạm quyền giám quốc; nhưng khi đó người con rễ là Nặc Hinh giết chết rồi tự xưng vương. Chúa Nguyễn nhân cơ hội nầy lại sai Trương Phúc Du mang quân sang đánh. Nặc Hinh bị thuộc hạ tạo phản giết chết.

Do đề nghị của Mạc Thiên Tứ, chúa Nguyễn chấp nhận cho Nặc Tôn, con của Nặc Thuận lên ngai vàng. Nặc Tôn dang lên chúa Nguyễn vùng đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc) để đền ơn. Mạc Thiên Tứ cũng được Nặc Tôn 5 phủ miền đồng Chân Lạp. Tính kế lâu dài, năm sau Mạc Thiên Tứ đã dâng hết vùng đất do mình cai quản cho chúa Võ Vương. Chúa Nguyễn sát nhập tất cả vùng đất nầy vào đất Hà Tiên và giao cho Mạc Thiên Tứ cai quản.

Lũy Bán Bình (1772) Theo Gia Định Thành Thông Chí thì: "Khi Nguyễn Cửu Đàn đem đại binh sang Xiêm La đánh đuổi Nặc Ôn trở về Gia Định thì cho đắp luỹ đất, phía nam từ Cát Giang, phía tây đến cầu lão Huệ, phía bắc giáp thương khẩu Nghi Giang, dài 15 dặm, bao quanh đồn dinh, cắt ngang đường bộ, để ngăn ngừa sự bất trắc".

Như vậy trong việc xây lũy nầy, tướng chúa Nguyễn đã nhắm vào vị trí chiến lược bảo vệ vùng Sài Gòn, đồng thời nhấn mạnh đến ýnghĩa quan trọng của vùng nầy. Nhiều tài liệu được nói đến cấu trúc thành; chẳng hạn như trên bản đồ Trần Văn Học (năm 1815) đã có ghi dấu Cựu Lũy tức là Bán Bích Cổ Thành và những chi tiết phác thảo tương đồng với những điều Trịnh Hoài Đức trình bày.

Về tuyến bố phòng của lũy được đắp năm 1772 cho thấy được những điểm chính yếu bảo vệ những cơ sở trong vùng: Hai đầu lũy nối vào hai đầu rạch Bến Nghé và Thị Nghè, điều mà những nhà nghiên cứu ví thành phố quy hoạch như một hòn đảo. Vị trì nằm giữa ba mặtsông, phần lũy ở phía tây có diện tích gần 100 dặm vuông. Trên sông và trên đường bộ có những đồn bảo bố phòng.

Nhìn chung, lũy Bán Bích dài khoảng 15 dặm (tức là hơn 8 cây số);hình dáng và chiều dài khá thống nhất giữa bản đồ cổ với những công trình thực địa trong những năm gần đây. Luỹ nầy bao quanh Đồn Dinh vì là nơi chính yếu trong hoạt động quân sự và hành chánh. Đồn Dinh là nơi trú đóng của hầu hết cơquan công quyền.

Trong giai đoạn nầy việc phát triển trong vùng gia tăng nhanh chóng. Mỗi cuộc điều động quân binh trong vùng phải thì cần đến hàng mấytrăm chiến thuyền, hàng vạn quân sĩ. Thành thử việc xây rộng nới thêm đồn canh, bến bãi, kho lẫm... trở nên cấp bách. Ngoài ra chung quanh lại có nhiều sông rạch thiên nhiên, cho nên việc giao thông rất thuân lợi, trong chiều hướng phát triển.

Những vị trí được nói đến trong việc xây dựng nầy phải kể đến: dinh Điều khiển, xã Minh Hương, kinh Ruột Ngựa, chợ Tân Kiểng,Công quán Nghi Giang, chợ Nguyễn Thực, những ngôi chùa chính (chùa Giác Lâm, chùa Kim Chương, chùa Cây Mai) cầu Thị Nghè.

Dinh Điều Khiển: nơi quản trị trong toàn vùng. Cạnh dinh có chợ Điều Khiển. Chợ điều Khiển toạ lạc trong vị trí gần đường Nguyễn Trãi, giữa Ngã sáu và chợ Thái Bình. Phía trước dinh Điều khiển là trục giao thông chính từ Bắc đi vào rồi xuôi về miền Tây. Hai bên dinh có những lộ nhỏ, nối đường cái quan đến rạch Bến Nghé.

Xã Minh Hương: Ở trung tâm quận 5 hiện nay. Xã nầy lập năm 1698, hầu hết là con cháu người Tàu (GĐTTC). Theo Trương Vĩnh Ký thì: Địa phận (xã nầy) nằm giữa đường Marins (Trần Hưng Đạo) với mé rạch Chợ Lớn, là nơi trú ngụ của người Minh Hương.

Đền Trần Tướng Quân: Đền nầy thờ Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) nằm khoảng ngã tư Nguyễn Trãi và Nguyễn Tri Phương. Ông làn gười có công "lập ra chợ phố ở Sài Gòn" (ĐNNTC).

Kinh Ruột Ngựa: Con kinh nầy do Nguyễn Cửu Đàm đốc thúc đào vào mùa thu năm Nhâm Thìn (1772), có chiều dài thẳng "như ruột ngựa" chạy từ cửa Rạch Cát cho đến Lò Gốm. Kinh nầy giúp cho thuyền bè đi lại giữa vùng Sài Gòn với những vùng đất miền Tây.

Cầu Cao Miên: Cầu nầy tức là Cầu Bông hiện nay, nằm trên rạch Thị Nghè nối quận I với quận Bình Thạnh. Trong Gia Định Thành Thông Chí có ghi về chiếc cầu nầy như sau "Nặc Tha khi đó (1736) chạy sang Gia Định, viên Khổn súy lấy đất hoang rậm ở thượng du Nghi Giang về phía bắc Đồn Dinh để cho Tha Vương ở. Nơi đây cách sông nên phải làm cầu qua lại, người đương thời gọi là cầu Cao Miên".

Chợ Tân Kiểng: Theo Trịnh Hoài Đức thì "Chợ Tân Kiểng cách phía nam trấn hơn 6 dặm, chợ phố trù mật, thường năm đến ngày Tết Nguyên đán, có cuộc chơi vân xa và đu tiên, đáng gọi là một "Chợ lớn". Cách sông ở phía đông, nguyên trước có Nặc Đích người Cao Miên theo Tha Vương đến, được an cư tại đây, bèn làm cầu ngang qua sông đến chợ, gọi là cầu Nặc Đích". Theo những nhà nghiên cứu thì chợ Tân Kiểng có thể là Chợ Quán ngày nay.

Chợ Nguyễn Thực: Gia Định Thành Thông Chí ghi: Chợ nầy cách phía tây trấn 10 dặm. Năm Đinh Tỵ (1727) Nguyễn Văn Thực người Quảng Ngãi khai phá rừng hoang, lập chợ ở đây, thành một chỗ tụ tập đông đúc nơi gò núi". Theo ước định thì chợ Tân Kiểng ở khoảng Hoà Hưng, ngã tư Bảy Hiền và Phú Thọ.

Chùa Cây Mai: Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì: Chùa Cây Mai ởđịa phận thôn Phú Giáo, huyện Tân Long, nơi gò cao có bảy câymai, bóng ngả lơ thơ, mùi hương phảng phất, rất thích ý cho những kẻ tầm phương du lãm. Người xưa lập chùa Ân Tôn trên đỉnh gò".

Cầu Thị Nghè: Cầu Thị Nghè dài 9 trượng; tương truyền Thị Nghè là con gái của quan Thống suất Nguyễn Cửu Vân có công khai khẩn ruộng vườn, nên phải làm cầu để người qua lại. Không biết cầu được xây vào năm nào; chỉ biết được rằng tướng Nguyễn Cửu Vân là quan Thống suất đem quân sang Cao Miên năm Ất Dậu (1705). Như vậy, cầu Thị Nghè được làm khá sớm để khẩn hoang vùng Thị Nghè,khoảng đầu thế kỷ XVIII.


Tổ chức hành chánh Sài Gòn 1860


Sau khi chiếm được đồn Kỳ Hoà, Phó đô đốc Pháp Charner đã cho ban hành nghị định ngày 11 tháng 4 năm 1861, nội dung quy định ranhgiới để cai trị. Thành phố Sài Gòn trong khi đó năm trong khu vực giới hạn bởi:một bên là hai con rạch Thị Nghè (Arroyo d' Avalanche) và rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois); bên kia giới hạn bởi sông Sài Gòn vàcon đường nối liền giữa chùa Cây Mai cùng những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hoà (Chí Hoà). Nhà cửa, sinh hoạt, trị an đều phải theo đúng giới hạn quy địnhđó.

Còn về lãnh vực tổ chức hành chánh của Sài Gòn thì lại đượcquy định theo Thông Tri số 145 ký ngày 14 tháng 8 năm 1862 của viên Thống đốc Bonard cho biết: Quy định tạm thời của tổ chức hành chánh tỉnh Gia Định bao gồm 3 phủ: Phủ Tân Bình, phủ Tây Ninh và phủ Tân An.

Mỗi phủ lại được phân chia làm ba huyện. Như vậy thì Sài Gòn nằm trong huyện Bình Dương của phủ Tân Bình. Chợ Lớn thuộc huyện Tân Long cũng phủ Tân Bình. Theo tác giả Chénier thì: người Pháp tách rời Sài Gòn và Gia Định như thế là để ấn định rõ hai phạm vi hành chánh và kinh tế rõ ràng. Để tránh những xáo trộn bao đầu, hệ thống phủ huyện của Sài Gòn - Gia Định trong thời gian nầy đều do các quan lại cũ của triều đình (Huế) đảm nhiệm. Nhưng tất cả thuộc dưới quyền chỉ đạo chung của viên Bố Chánh người Pháp. Viên chức nầy thuộc ngạch Thanh Tracác công việc bản xứ (Inspecteur des affaires indigènes). Ngoàira, hệ thống tổ chức dưới cấp huyện như tổng, xã, thôn, lý, ấp thì vẫn như cũ.Dần dà về sau, để tránh những khó khăn trong điều hành, đã có những canh cải. Khi đó, tuy có sự phân định về hành chánh, quảntrị giữa hai vùng Sài Gòn và Chợ Lớn, trong hai huyện khác nhau, tuy nhiên, trong thực tế, bản đồ địa bạ của thành phố Sài Gòn bao gồm cả Chợ Lớn và Đồng Tập Trận (Plaine des Tombeaux).

Đồng Tập Trận tức là khu vực bệnh Viện Bình Dân và khu Cư Xá Đô Thành hiện nay. Việc phân chia nầy nhắm vào tổ chức hành chánh, quân sự và anninh vùng.

Uỷ Ban Thành Phố: Khuôn rập theo việc tổ chức ở những thành phố của nước Pháp, ngày 4 tháng 4 năm 1867, Thống đốc De La Grandière đã ban hành Nghị định số 53 về việc tổ chức và điều hành của ỦyBan Thành Phố (Commission Municipale). Cơ quan nầy gồn có một Uỷ Viên thành phố và 12 thành viên.Ủy viên nầy được chọn trong hàng công chức.

Những thành viên đượcchọn trong số những cư dân châu Á cũng như châu Âu cư ngụ trong thành phố Sài Gòn. Nhiệm vụ của Ủy Ban Thành Phố là: biểu quyết những vấn đề quản trị tài sản công cộng, ngân sách thành phố, quy định về thuế khoá, đề ra những dự án xây dựng hạ tầng, các dự án xây dựng, khai triển đô thị, tiếp nhận những tặng dữ, chăm lo việc hoạch định về bảo trì đường sá, cầu cống.

Ngoài ra, Ủy Ban nầy còn cố vấn một số vấn đề liên quan đến những hoạt động thường xuyên của thành phố liên quan đến cộng đồng.Mọi hoạt động của Ủy Ban thành Phố đặt dưới sự giám sát trực tiếp của viên Đổng Lý Nội Vụ (Directeur de L'Intérieur).

Nhưng hai năm, khi người Pháp bình định được những vùng mới chiếm thì đã có những thay đổi. Ngày 7 tháng 8 năm 1869, Thống đố Ohier đã ban hành Nghị định số 131 về tổ chức lại thành phố; theo nội dung, thì Ủy Ban thành Phố được đổi tên là Hội Đồng Thành Phố (Conseil Municipal), gồm một Ủy viên trưởng và 13 ủy viên. Ủy viên trưởng của Hội đồng được gọi là Đốc Lý Sài Gòn, do viên Thống Đốc bổ nhiệm trong số những công chức cao cấp người Pháp tại Sài Gòn.

Những uỷ viên nầy một số (6 người) do sự chỉ định của Thống đốc Nam Kỳ; một số (7 người) thì do cuộc bầu cử trực tiếp. (1870)


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 27.12.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004