Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Chùa Tứ Pháp ở Luy Lâu

(Thuận Thành - Bắc Ninh, Việt Nam)

- Di Tích Ấn Độ giáo từ đầu Công nguyên






    T rước đây, chúng ta vẫn coi Luy Lâu là sở lị của chế độ phong kiến Bắc Thuộc, nhưng thực chất, đây còn là một đô thị cổ diễn ra nhiều hoạt động phong phú của người Việt. Với giá trị lịch sử to lớn đó, nhà nước đã sớm nghiên cứu và công nhận thành Luy Lâu là di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1964.

Trên bờ sông Dâu ngày nay chỉ còn lại là một lạch nước cạn nằm trên địa phận huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), tọa lạc di tích thành Luy Lâu, nơi được coi là kinh đô thứ ba của nước ta sau Phong Châu (thời đại Hùng Vương), Cổ Loa (thời đại An Dương Vương), là trung tâm văn hóa, giáo dục của đất nước từ thế kỷ thứ II. Luy Lâu – đô thị của Giao Châu cũ - ngày nay nằm giữa khung cảnh làng quê Kinh Bắc yên ả, thanh bình với những cánh đồng lúa xanh mướt, thơm mùi nắng sớm. Nếu không am hiểu về vùng đất này thì ít ai ngờ rằng, vùng đất đầy vẻ nguyên sơ và bình dị ấy lại mang trong mình những giá trị lớn về văn hóa và lịch sử.

Thành cổ Luy Lâu sau nhiều biến động của thời gian, nay đã không còn nguyên vẹn. Nhưng những dấu tích cổ hiện còn lưu giữ ở nơi đây vẫn giúp chúng ta hiểu được vị trí của thành Luy Lâu trong lịch sử dân tộc. Luy Lâu chính là trung tâm, hoặc có thể gọi là kinh đô của đất nước trong vòng 40 năm (185 – 225) dưới thời đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc – Trung Quốc trong gần 1.000 năm của ba thời kỳ Bắc thuộc (111 trước công nguyên – 939 sau công nguyên).

Nhiều tài liệu, thư tịch cổ đều ghi nhận, Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của nước ta. Đây là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn trong đế chế Hán, trong đó Bàn Thành và Lạc Dương đều ở phía Bắc Trung Quốc. Phật giáo đã được truyền thẳng từ Ấn Độ vào Luy Lâu có thể từ trước công nguyên, và sau đó, người có công lập nên sơn môn Dâu là Khâu Đà La. Tài liệu “Cổ Châu Pháp Văn Phật bản hạnh”, các nguồn tài liệu di tích ở Luy Lâu và Phật Tích chỉ rõ rằng sư Khâu Đà La đã vào Luy Lâu rồi lên Phật Tích hành đạo, sau đó trở lại Luy Lâu, lập nên sơn môn này. Mối quan hệ giữa Luy Lâu và Phật Tích đã được xác lập từ những thế kỷ đầu công nguyên và được thực hiện qua sông Dâu – một con sông lớn có vai trò quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, văn hóa và tôn giáo của đô thị Luy Lâu. Nó có mối quan hệ giao thương với khu vực chung quanh qua sông Dâu nối với sông Đuống, sông Hồng, sông Cầu, Lục Đầu giang tới biển Đông. Đây còn ngã tư đường bộ đi về các vùng của đất nước, trong đó có Con đường của những kẻ xâm lược (Route des Envahisseurs) từ ải Nam Quan tới Luy Lâu. Hơn nữa, Luy Lâu trở thành đầu mối ban giao quôc tế. Từ các nước phía Tây và Nam muốn tới Trung Quốc phải đi qua Luy Lâu.


Khi Phật Giáo vào Luy Lâu cũng là lúc văn hóa Ấn Độ - một trong những nền văn minh của phương Đông cổ đại, truyền vào nước ta qua trung tâm Luy Lâu, mà nay còn để lại những di tồn rất rõ trong tượng Pháp, truyền tích, lễ hội Dâu, hệ thống kiến trúc chùa tháp và tư tưởng Phật giáo được thấm sâu vào đời sống dân chúng, trong đó có Ấn Độ giáo xuất hiện trước.

Theo các nguồn sử liệu, các nước phương Tây và phương Nam muốn buôn bán, giao thiệp với Trung Quốc đều phải theo con đường Giao Chỉ, sau đổi tên Giao Châu. Từ Tr.C.N và nhất là từ thế kỷ II-III S.C.N trở đi, ngày càng có nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở Giao Châu và thuyền buôn của họ thường xuyên có mặt ở Luy Lâu. Những chứng tích vật chất và các nguồn tài liệu ở Luy Lâu đã khẳng định Luy Lâu thực sự là trung tâm thương mại lớn - một đô thị cảng mang tính quốc tế của nước ta thời Bắc thuộc.

Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tắm Phật, rước Tứ Pháp, rước nước đã cho thấy Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và sớm nhất Việt Nam. Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn hợp tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt ở miền Kinh Bắc.

Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đang khởi công xây dựng trung tâm văn hóa Luy Lâu tại thị trấn Hồ nhằm tái hiện lại một phần lịch sử của vùng đất Luy Lâu - Siêu Loại - Thuận Thành. Hai con đường tại thành phố Bắc Ninh và huyện Thuận Thành cùng mang tên địa danh Luy Lâu. Đó là đường vành đai Trung tâm văn hóa Kinh Bắc và đường vành đai Trung tâm văn hóa Luy Lâu.

Sôi động và cuốn hút nhất vẫn là lễ hội Dâu hàng năm vào ngày 8 tháng Tư Âm lịch. Các nghi lễ tắm Phật, rước tượng “Thạch quang”, “Tứ pháp”, diễn trò cướp nước… đã thể hiện sức sống mạnh mẽ của văn hóa bản địa người Việt và sự hòa nhập của văn hóa tín ngưỡng Ấn Độ, Trung Quốc tại trung tâm Luy Lâu thời Bắc  thuộc.

Nói về Tứ pháp ngày nay, người ta cho đó là thuật ngữ để chỉ các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm : Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữ thần này được tôn vinh là Tứ pháp (mỗi chùa thờ một tượng nữ thần) có liên quan tới truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương. Các vị nữ thần đó đều là con của Phật Mậu Man Nương, theo thứ tự lớn nhỏ, gồm có:

-Pháp Vân (nữ thần mây) thờ ở chùa Dâu

-Pháp Vũ (nữ thần mưa) thờ ở chùa Đậu

-Pháp Lôi (nữ thần sấm) thờ ở chùa Tướng

-Pháp Điện (nữ thần chớp) thờ ở chùa Dàn

Riêng Phật mẫu Man Nương thờ ở chùa Tổ.

Theo ông Nguyễn Minh San (Tín ngưỡng dân dã Việt Nam – NXB Văn hóa Dân tộc,1998), sự ra đời của tín ngưỡng dân dã gắn liền với câu chuyện về sự thai sinh gián tiếp của Man Nương – một người con gái bản địa với nhà sư Ấn Độ tên là Khâu Đà La trong không khí thần bí, lộ rõ yếu tố Mật tông, được ghi lại trong sách “Lĩnh Nam chích quái”. (trang 81). Nhà sư Khâu Đà La đã lấy Man Nương khi cô đến sơn tự của vị sư này để học đạo. Năm sau, Man Nương sinh con và đem đến giao cho sư này. Nếu nghiên cứu tận cội nguồn, chúng ta có thể hiểu nhà sư Khâu Đà La không phải là tu sĩ Phật Giáo mà chính là một giáo sĩ truyền đạo của Ấn Độ giáo thuộc giai cấp tăng lữ của Bà La Môn nên mới có chuyện lấy vợ. Người dân bản địa thời ấy ngộ nhận cho rằng hễ nhà sư Ấn Độ đều là tu sĩ Phật Giáo. Họ chưa phân biệt được Phật giáo (Buddism) với Ấn Độ giáo (Hinduism) hay đạo Bà La Môn (Brahmanism). Sự thật, Ấn Đô giáo du nhập vào nước ta từ thời đại Hùng Vương (2879-258 trước Công nguyên) liên quan tới câu chuyện Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung (đời Hùng Vương thứ 3 – 2525-2253).

Ch Đồng Tử và Tiên Dung ngày nay còn đền thờ ở Dạ Trạch – Khoái Châu (Hưng Yên). Hai vợ chồng Chử Đông Tử - Tiên Dung theo học đạo của nhà sư Ấn Độ (Ấn Độ giáo) được tặng phép thần là chiếc gậy và nón lá. Như vậy vào những năm 2250 tr. CN, Ấn Độ giáo đã có mặt ở Khoái Châu –Hưng Yên. Còn sau đó ở Luy Lâu qua chuyện nhà sư Khâu Đà La với Man Nương và Tứ pháp. Còn tới thế kỷ thứ II Phật giáo mới du nhập và phát triển nhanh chóng ở Luy Lâu.

Theo ông Phan Lạc Tuyên, sách “Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á”, Khoa Đông Nam Á học (Bộ Giao dục và Đào Tạo, 1992, trang 24-25), đạo Phật du nhập vào nước ta theo con đường Hồ Tiêu (đường biển Ấn Độ Dương) và con đường Đồng Cỏ (dọc theo hai sông Ménam và Mékong) và ông còn nhắc tới chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung (theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam,1988) nhưng vẫn nói hai vợ chồng này theo học đạo Phật của một nhà sư, trong khi trước đó, ông viết :”Những thương nhân Ấn Độ đã tới vùng này (khu vực Đông Nam Á) để buôn bán. Đi theo những con thuyến buồm viễn dương ngoài những tu sĩ Bà la Môn giáo còn có tu sĩ Phật giáo.” Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo có trước Phật giáo ở Ấn Độ nên khi truyền sang Đông Nam Á cũng theo tuần tự trước, sau ở thời kỳ trước và sau công nguyên. Thời kỳ ấy, Ấn Độ Giáo truyền sang khu vực Malaysia, Indonesia, Chân Lạp (Cam pu chia ngày nay, di tích Angkor Wat, Angkor Thom), Phù Nam (Bà chúa Xứ Châu Đốc, Tây Ninh), Văn Lang trước công nguyên, Champa sau công nguyên nhưng vẫn có trước Phật giáo. Hiện nay, trong động Phong Nha (động ướt) bút tích chữ Phạn (Sanscrit) khắc trên vách động, loại chữ cổ Ấn Độ thời kỳ của Ấn Độ giáo, Phật giáo. Có thể tác giả bút tích này thuộc nhóm nhà sư Ấn Độ giáo thời Chử Đồng Tử - Tiên Dung và Chử Đồng Tử đi theo nhà sư để học đạo đây.

Chúng ta có thể khẳng định Ấn Độ giáo du nhập nước ta đầu tiên thời Hùng Vương thứ 3 vào những năm 2250 trước công nguyên qua chuyện Chữ Đồng Tử - Tiên Dung và chuyện nhà sư Khâu Đa La – Man Nương. Từ Dạ Trạch (Đầm) Khoái châu (Hưng Yên) tới Luy Lâu không xa. Hơn nữa, Luy Lâu là nơi đô hội thời Bắc thuộc đã có Giao Chỉ - Giao Châu. Tứ pháp có trước Phật Giáo và Phật giáo phát triển trên nền của Tứ Pháp. Thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp là của Ấn Độ giáo khi ấy trở thành loại tín ngưỡng dân gian (hay dã) như tác giả “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” đã lý giải.

Nhắc lại, khi Man Nương sinh con thì đem giao trả cho cha nó là nhà sư Khâu Đà Lâu. Ông này dùng phép thuật vỗ tay vào một thân cây cổ thụ bên bờ sông Dâu, tức thì thân cây nứt ra để cho nhà sư đặt đứa bé vào đó. Thời gian sau, qua một đêm mưa to gió lớn, cây ngã đổ xuống sông và trôi đi. Dân làng xúm nhau đem thân cây vào bờ và phân ra bốn đoạn để đục đẽo thành bốn pho tượng gỗ. Bốn tượng này đều là nữ thần được thờ ở bốn chùa khác nhau, có tên gọi theo bốn hiện tượng mây (vân), mưa (vũ), sấm (lôi), chớp (điện) và đều là thần vì cây ngã đổ trong đêm có mây mưa to gió lớn kèm theo sấm, chớp…

Theo Ấn Độ giáo, thần sấm sét có tên Thần Indra được nhắc đến trong Kinh Veda của thần thoại Ấn Độ, là vị thần mang mưa đến cho vùng nông thôn khô hạn của Ấn Độ, nắm giữ lưỡi tầm sét hình tượng của chiến sĩ dân Aryen từ phía Bắc xâm lược và đồng hóa dân bản địa Dravien trước công nguyên hàng ngàn năm ở Ấn Độ. Trước khi Thần mưa xuất hiện thì có thần mây (Vân), thần Sấm (Lôi) và thần chớp (Điện) cùng hoạt động. Man Nương sau này được tôn thờ là thần Tổ (mẹ) - Phật Mẫu của bốn thần kia và được thờ riêng trong chùa Tổ.

Chùa Tổ và hệ thống chùa Tứ Pháp vùng Dâu huyện Thuận Thành là tinh hoa của sự dung hội giữa Phật giáo Ấn Độ khi du nhập vào nước ta với tín ngưỡng bản địa của người Việt cổ thờ các lực lượng tự nhiên (mây, mưa, sấm, chớp), để tạo nên một trung tâm tín ngưỡng tôn giáo mang đậm sắc thái dân tộc. Từ trung tâm Dâu, Phật giáo đã lan tỏa đi khắp các vùng miền của cả nước. Vì vậy, chùa Tổ và hệ thống của Tứ Pháp đã trở thành dấu tích quan trọng của quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam, đúng hơn là Phật giáo phát huy trên nền tảng Ấn Độ giáo – trở thành Tín ngương dân gian qua chuyện hình thành Tứ pháp.

Hiện nay, trong khuôn viên chùa Tổ vẫn còn 1 giếng nước cổ, tương truyền từ thời  các cụ thân sinh Phật mẫu Man Nương. Ngoài giếng nước cổ còn có phần mộ của Phật mẫu Man Nương ở phía trước ngôi chùa. Chùa Tổ, nơi thờ Phật mẫu Man Nương là người “sinh” ra bốn thần nữ Tứ Pháp  từ thế kỷ trước Công nguyên. Tương truyền rằng, chùa được xây trên nền nhà cũ của ông bà Tu Định là thân phụ và thân mẫu của Man Nương. Khi ông bà Tu Định hiển Thánh thì ngôi nhà trở thành chùa. Và Phật Thích Ca cũng chỉ được thờ bên ngoài trang khánh đang thờ các nữ thần đã có sẵn. Điều này cho thấy Thích ca Mâu ni xuất hiện sau Tứ Pháp nên không được thờ chung. Hơn nữa, theo Ấn Độ giáo, Phật Thích ca hóa thân ra sau 9 đời của thần Vishnu, một trong ba thần chủ (Trimiti) của Ấn Độ giáo là Brahman, Vishnu và Siva.

Ở vùng Luy Lâu, Mây đứng đầu, nên chùa Dâu là chùa chính. Nơi đây còn lưu giữ nhiều chứng tích của Phật giáo bản địa thuở sơ khai, trong đó có tượng cừu bằng đá, nhưng lại là con cừu Ấn Độ, có niên đại khoảng thế kỷ 3 sau công nguyên. Đây là ngôi chùa thờ pháp vân, bà cả trong 4 bà mây mưa, sấm, chớp.Tuy nhiên, chúng ta vẫn gặp ở đây cả tượng thờ pháp vũ bởi chùa Đậu, ngôi chùa thờ pháp vũ xưa kia nay đã không còn. Đi liền với hệ thống Tứ Pháp ở Bắc Ninh, hiện nay còn thờ Tứ pháp trong các chùa ở Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên.

Bộ bốn chùa ở thành cổ Luy Lâu : Chùa Dâu (Pháp Vân), Chùa Đậu (Pháp Vũ), Chùa Tướng (Pháp Lôi), Chùa Dàn (Pháp Điện)


Trung tâm điện phật là nơi thờ Phật mẫu Man Nương. Tượng Phật mẫu Man Nương được tạo tác trong tư thế tọa thiền trên tòa sen, cao gần 1,70m, được tạo giống với các tượng Tứ Pháp, khuôn mặt từ bi thánh thiện, toàn thân phủ một lớp sơn mầu mận chín đầy vẻ huyền bí linh thiêng. Phía trên cao hơn là tượng ông bà Tu Định là thân phụ và thân mẫu của Man Nương, toàn thân sơn mầu nâu sẫm, áo cà sa khoác ngoài trùm kín đùi. Góc bên phải của Thượng điện tượng sư tổ Khâu Đà La, đầu trọc để trần, khuôn mặt từ bi, ngồi thiền trên tòa sen, áo cà sa khoác ngoài.

Bốn tượng nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện


Cách chùa Dâu chừng vài trăm mét là chùa Dàn, nơi thờ pháp điện.. Chùa nằm ở thôn Phương Quan, xã Trí Quả. Bức tượng pháp điện cũng được đặt ở vị trí trong cung cấm một cách tôn nghiêm và chỉ đến dịp mùng 8 tháng 4 âm lịch, khi đến hội dâu, bức tượng mới được rước về chùa Dâu cùng với 3 chị em pháp vân, pháp vũ và pháp lôi.

Trong các chùa thờ những nữ thần này, tượng của các nữ thần được tạc với kích thước to lớn hơn rất nhiều so với các tượng Phật. Hệ thống chùa Tứ pháp là chứng tích cho sự kết hợp giữa Ấn Độ giáo với các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thuỷ ở Việt Nam. Theo Ấn Độ giáo, ngoài ba thần Tam thể (Trimiti) là Brahman, Vishnu và Siva, các địa phương đều thờ nữ thần như Bà Đen (Tây Ninh), Ba Chúa xứ (Châu Đốc), Po I Naga (Tháp Chăm Nha Trang), Pô Sa nư (Tháp chăm Phan Thiết)…Bà Mariamman (Di tích Ấn giáo ở 45 Trương Định, Bến Thánh Quận 1). Điều này cho thấy Tứ pháp (Mây (Vân), Mưa (Vũ), Sấm (Lôi), Chớp (Điện) đều là Thần nữ thuộc Ấn Độ giáo. Từ việc thờ thần nữ của Ấn Độ giáo đã chuyển sang ý thức hệ tín ngưỡng dân gian của dân Việt thờ “mẫu” (Mẹ) ban đầu ở Luy Lâu, về sua lan tỏa từ Bắc, xuống Trung tới Nam.

Kết luận

Như vậy, Ấn Độ giáo được truyền vào Việt Nam ở ba thời kỳ : trước Công nguyên ở Luy Lâu - Bắc Ninh, trong thời gian này, Ấn độ giáo cũng tới miền Trung với tộc Cau và tộc Dừa (phát tích từ nền văn hóa Sa Huỳnh – Lịch sử Việt Nam tập 1, 1983, trang 285-287) di tích chữ Phạn trong động Phong Nha (Quảng Bình) như nói ở trên. Đầu công nguyên (năm 190) hai tộc này hợp nhất thành lập quốc gia Champa do Khu Liên khời nghĩa chống ách đô hộ của Hán thành công. Căn cứ bia đá Võ Cạnh (đào được ở Khánh Hòa) nhiều người cho Ấn độ giáo biết được thế kỷ thứ II qua khu đền tháp Mỹ Sơn ở Champa (Sách “Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ” của bà Huỳnh Thị Được xuất bản năm 2010) và cuối thế kỷ 19 ở Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) di tích của ba đền Ấn Độc giáo mà một đền nổi tiếng thờ thần nữ Mariamman (thần mưa). Còn tượng bà Đen ở Tây Ninh, bà Chúa Xứ ở Châu Đốc có thể xuất hiện từ trước Công nguyên rất xa, thời kỳ vùng này còn ngập nước biển, ứng với hiện tượng “Hải xâm” (chuyện Hoàng tử Ấn Độ và công chúa xứ Rồng tên Liễu Diệp theo ông Phan Lạc Tuyên, sđd). Sau khi công chúa kết hôn cùng hoàng tử, vua Rồng nhường ngôi báu và dùng phép thuật rút hết nước biển, ứng với hiện tượng “Hải thoái” ở đồng bằng sông Cửu Long.

Cả ba vương quốc Chân Lạp, Phù Nam và Champa đều nói chung một truyền thuyết lập quốc là chuyện Hòang tử Ấn Độ với công chúa xứ Rồng (đồng bằng sông Me kông). Ấn Độ Giáo được truyền sang Đông nam châu Á có thể từ thời này, ở miền Nam trước rồi tới miền Trung và sau cùng là Luy Lâu (Bắc Ninh). Ấn Độ giáo là một phần của văn hóa Ấn Độ thể hiện qua kiến trúc đền tháp và các nữ thần thờ trong ấy. Ở Chân Lạp có đền Angkor Wat, Angkor Thom. Ở Phù Nam có đền Tháp mười, ở Cà Mau (nay không còn nữa do hải xâm hủy hoại), đền Bà chúa xứ được xây mới (di tích còn ở trên đỉnh núi Sam), ở Tây Ninh. Ở miền Trung (di tích chữ Phạn trong động Phong Nha, Quảng Bình), tháp cổ hư hỏng ở Thừa Thiên Huế. Ở miền Bắc (Luy Lâu, Bắc Ninh) với hệ thống chùa nữ Tứ Pháp được bảo tồn tới ngày nay qua. Ở Sài Gòn, vào thế kỷ 19 mới được truyền sang lần thứ hai, sau gần 2.000 năm. Đó là hệ thống các đền Ân Độ giáo ở phường Bền Nghé, Bến Thành quận 1 thành phố Hồ Chí Minh), mà đền chính thờ thần nữ Mariamman (thần mưa ở miền Nam Ấn Độ), còn hai đền kia thờ ông (Muruga và Ganesha là hai con của Nữ thần Mariamman (hóa thân của Parvati và Siva).

Tất cả các dẫn chứng trên, trong sách cổ và trong thực tế, đều cho thấy Ấn Độ giáo được truyền sang Việt Nam từ trước công nguyên ở cả ba miền Nam, Trung, Bắc mà Bắc (ở Luy Lâu – Bắc Ninh) lại ở sau cùng vào thời kỳ trước công nguyên.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 22.12.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004