Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Chàng Nhái < > Chằng Tinh







C ách đây gần 60 năm, khi còn theo học bậc Tiểu Học ở trường Trương Minh Ký Sàigòn 1, tôi đã mê loại truyện thơ bình dân Miền Nam của mấy nhà xuất bản Phạm Văn Thình 2, Phạm Đình Khương và Thuận Hòa ở Chợ Lớn. Đặc biệt về hình thức, mỗi truyện người viết và nhà in xếp đặt sao cho đầy 16 trang, trang bìa, giấy màu, có hình khắc ván thường kèm theo hai câu lục bát, trang cuối ghi lại tất cả những quyển cùng loại đã xuất bản. Bên trong sự trình bày cũng độc chiêu, mỗi hàng in câu lục và câu bát kế tiếp nhau chớ không xuống hàng giữa câu lục và câu bát như ngày nay. Quán nhỏ của người cô tôi sinh sống và nuôi hai anh em tôi ăn học nằm ở góc nhỏ của Chợ Cầu Ông Lãnh là đường Boresse và đường Quaie de Belgique, lúc đó bán tạp hóa, tạp hóa có nghĩa bán nhiều thứ không dính dáng gì với nhau, từ xà-bông Cô Ba, bri-dăn-tin ba số 5 tới tiểu thuyết hay va-li, túi xách, xi-ra Kiwi, mực viên Ara, thuốc tẩy Toàn Trắng, kem đánh răng Gibbs, Kol, phấn trắng Everblanc đánh nón đánh giày, dây giày, sữa Con Chim…. Truyện thơ bình dân nói trên và truyện Tàu của nhà in Trí Đức Thư Xã ở đường Sabourin là những món hàng bán chạy, tuy không lời nhiều, nhưng được nhiều người mua. Khách hàng tất cả đều là người lao động ở gần đó hay dân quê miệt vườn theo ghe chài lên Sàigòn bán tam tứ thập vật, có thể là cá, khô, lu, hủ hay mía, thơm, dừa; có thể là bàn ghế, chiếu lát hay cát dùng để trộn hồ, hoặc nước uống3. Họ ghé lại mua một vài cuốn truyện cho mình hay mua giùm lối xóm vì đâu phải ai cũng rảnh rang mà cơm ghe bè bạn lên được Sàigòn? Nhiều ông già bà cả tới quán cô tôi, cố gắng nhớ lại được cái tựa mà không biết lựa sách vì không biết chữ, thằng nhỏ mười tuổi là tôi phải lựa giùm.

Và tôi đọc hết tất cả mấy chục quyển thơ ấy với mấy chục bộ truyện Tàu dầy cui của nhà Tín Đức Thư Xã đương một mình một chợ lúc nầy. Cứ trốn vô góc sạp coi cho cẩn thận, đừng làm rách, rồi thế nào cũng bán được như là sách mới. Nhân vật truyện Tàu và nhân vật truyện thơ theo đuổi tôi trước khi tôi thi đậu vào trường Trung Học Pétrus Ký năm nào đó có cuộc tấn công vào căn cứ của Bình Xuyên trấn đóng ở trường nầy. Những La Thành, La Thông, Lá Xán, La Côn, Lý Quảng, Na Tra, Tề Thiên Đại Thánh, Tiết Giao, Mộc Quế Anh, Tiết Nhơn Quí, Dương Văn Quảng…, tôi nhớ nằm lòng gia phả và hành vi của họ.. Những anh hùng chinh Đông, chinh Tây, bình Liêu, Những ông tiên Bắc du, Nam du, Đông du, Tây du tôi thuộc làu còn hơn thuộc sử Việt. Những Phạm Công Cúc Hoa, Tam Nương, Ông Trượng Tiên Bửu, Phụng Kiều Lý Đán, Sáu Trọng, Hai Đẩu, Sáu Nhỏ, Trần Minh, Trò Đông, Ngọc Cam Ngọc Khổ, Nam Kinh Bắc Kinh…. mài giủa để lần lần tạo thành tâm hồn con người tôi. Nhưng điều quan trọng nhứt là nhờ đây tôi thích văn chương, tiểu thuyết kể từ những ngày còn rất nhỏ.

Vật đổi sao dời, hơn nửa thế kỷ sau, hơn năm chục quyển truyện thơ đó không dễ gì tìm gặp cho đủ bộ4! Tôi nhớ nhiều lần, nơi quê người buồn bã, ngồi ôn lại chuyện ngày qua, ước ao nếu biết ai đó bán đủ bộ truyện thơ bình dân kia thì dầu mắc mỏ bao nhiêu cũng sẽ cố gắng chạy tiền mua cho lấy được.

Và rồi tôi gặp may có được5, tuy là bản sao, hầu hết các người bạn thời thơ ấu của mình. Hôm nay xin giới thiệu tập thơ Chàng Nhái Kiển Tiên.


Chàng Nhái Kiển Tiên là tên bình dân theo cách kêu tên của đa số độc giả thời đó. Tên chánh thức của nó trên bìa in năm 1968 là Thơ Chàng Nhái, người mua hầu hết đều nói: ‘Bán cho tui cuốn Chàng Nhái Kiển Tiên6 coi.’ Như hầu hết các quyển khác, quyển nầy được in lại nhiều lần. Bìa trước có ghi nhà xuất bản Thuận Hòa và soạn giả là Nguyễn Bá Thời, bìa sau có ghi giấy phép xuất bản số… ngày…. Quyển Hậu Chàng Nhái, tức là thơ tiếp theo thơ Chàng Nhái, cũng của nhà xuất bản Thuận Hòa nhưng tác giả lại là Nguyễn Văn Khỏe7. Chuyện nầy ngày nay là chuyện lạ, không thể xảy ra được vì không ai lại viết tiếp theo tác phẩm của người khác để công trình mình nằm nép ké theo công trình của người trước, nhưng với thời xưa, đó là chuyện bình thường vì người ta thường coi tác phẩm là của chung về mặt tinh thần nên họ sửa đổi, mô phỏng để cải biên thành thể loại khác hay viết tiếp theo8 một các thoải mái, không có vấn đề gì.

Vậy thì ta hãy coi như truyện thơ và ‘hậu’ là một toàn thể của một tác phẩm hoàn chỉnh, và tất cả các truyện thơ nầy hợp thành quần thể tôi gọi chung là truyện thơ bình dân Miền Nam. Nói rộng ra nó bao gồm luôn cả các truyện thơ Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa… xuất hiện riêng ở Miền Bắc, nếu ta nói chung về truyện thơ bình dân của nước Việt…

Truyện kể rằng ở xứ Tòng Giang có một người con gái quá thời xấu xí tên là Giảng Dung. Giảng Dung không chồng mà tự nhiên thai nghén, sanh ra một con nhái. Tình mẹ thương con bao la dầu con mình hình dạng ra sao cũng vậy thôi nên Giảng Dung nuôi Nhái như bất cứ bà mẹ nào nuôi một đứa con bình thường của mình. Đến năm 13 tuổi thì Nhái nhờ mẹ đi hỏi cô công chúa út của vua Hồ Đế cho mình. Dĩ nhiên vua không chịu và chỉ chấp nhận sau khi Nhái trổ tài chứng tỏ mình là người nhà Trời, có phép biến hóa, thần thông quảng đại siêu phàm, có thể mời Tiên Phật cũng như mãnh sư thần thú xuống ngay giữa triều đình. Về ở với vợ, Nhái được vợ thương yêu vô vàn. Có lần Nhái giả chết và dùng mẹo của Trang Tử hóa ra một chàng trai tuấn tú khác đến gạ gẫm vợ bước thêm bước nữa, nhưng Kiển Tiên vẫn một lòng chung thủy từ chối. Hiểu được lòng Kiển Tiên nên Nhái thú thiệt với vợ rằng mình là con của Ngọc Hoàng, Rồi Nhái lột da biến thành người đẹp đẽ không ai bì. Kể từ đây cặp vợ chồng nầy sống với nhau rất hạnh phúc, thuận hòa, tương đắc…

Biến cố xảy ra khi Nhái phải về chầu vua cha trên Trời. Ở lại trần, Kiển Tiên bị hai người chị ruột của mình ganh tỵ bàn mưu lập kế giết chết thả trôi sông vì họ muốn được chàng Nhái là chồng. Khi Nhái xong việc thượng giới trở về trần thì không thấy vợ đâu nên rất buồn khổ. Nhái đi xuống hết mười cửa Địa Ngục 9 để tìm vợ nhưng không thấy hồn vợ đâu hết. Cuối cùng Nhái phải hỏi cha thật của mình là Ngọc Hoàng. Được mách bảo, Nhái xuống Thủy Cung của Long Vuơng rước vợ về vì Long Vương đã cho hồn Kiển Tiên sống tạm ở đây kể từ ngày bị giết.

Từ đó Chàng Nhái và Kiển Tiên sống đời sung sướng, hạnh phúc. Hai cô công chúa chị xấu nết kia bị vua cha bắt tội, đày lên rừng vì hành động ác đức của họ bị phanh phui. Rồi thì vua Hồ Đế nhường ngôi cho Nhái vì ông không có con trai. Nhái lên ngôi cai trị nhân đức, thiên hạ kính mến vô ngần…

Truyện hậu: Hai chị xấu nết ác tâm của Kiển Tiên lên rừng bị Chằng Tinh bắt đem về làm vợ. Họ cùng sống đề huề, mỗi người sanh được một đứa con cho chằng. Chằng Tinh tuy xấu xí nhưng biết thương vợ con, thường xuống xóm làng bắt heo bò, ăn cắp bánh trái đem về cho hai vợ cùng hai con. Một ngày kia hai người vợ Chằng nhớ chuyện xưa, nổi lên lại lòng thù hận, mới cùng nhau bàn luận tìm dịp nào đó sẽ mượn tay chồng trả oán vì chồng Chằng của họ cũng có pháp thuật, chưa chắc sẽ thua Nhái, nếu phải đấu phép thuật, chưa chắc ai ăn ai.

Dịp may đến, Chàng Nhái phải về trời dự lễ theo lịnh của vua cha Ngọc Hoàng. Nhái biết trước có thể chuyện chẳng lành xảy ra cho vợ nên dặn vợ kín tiếng việc mình ‘chết’. Dầu vậy chuyện cũng bị bại lộ do Thừa Tướng Vương Bội quyết lòng dò la. Nắm được tin hay, Vương Bội lên đường đến Lãnh Sơn bàn kế hợp tác với Chằng, hứa rằng nếu Chằng xuống núi cướp được nước thì mình lên làm vua, phong Chằng chức trọng quyền cao. Hai công chúa khuyên Chằng giết Vương Bội và Chằng sẽ làm chuyện loạn trào.

Dĩ nhiên Chằng Tinh thắng thế và Kiển Tiên phải lánh nạn trong khi bụng mang dạ chữa.

Phần kế tiếp là chuyện khổ sở của Kiển Tiên tr ên đường thiên lý bôn ba, sanh nở… và sự trở về của Chàng Nhái để dẹp yên kẻ loạn trào.

Kết thúc là sự xum họp của người hiền, người nhà trời và sự đền tội của kẻ xấu….

Dòng truyện bình dân, hợp với lòng tin chắc nịch của người dân Nam Kỳ Lục tĩnh, đi theo mô thức thông thường: ác giả ác báo, thiện giả thiện báo. Một vài khái niệm thường thấy là (1) con Trời (Thạch Sanh Lý Thông), (2) xuống địa ngục tìm người thân (Phạm Công Cúc Hoa, Quan Âm Tế Độ), (3) trời đánh hay cho trừng phạt kẻ ác (Lục Vân Tiên), (4) xuống Long Cung (ảnh hưởng từ truyện Tây Du ký, Truyền Kỳ Mạn Lục) (5) hoàn hồn sống lại sau khi chết (Lâm Sanh Xuân Nương)… được sử dụng đi sử dụng lại từ truyện nầy sang truyện khác. Truyện bình dân vì vậy nhìn ở mặt nầy thì thiếu tính sáng tạo với những bứt phá có những tình tiết mới của riêng từng truyện, nhưng bù lại việc nhắc đi nhắc lại những sự kiện trên của truyện bình dân đã lần lần ghi dấu trong lòng người đọc những khái niệm mà người viết và phần đông dân chúng thời đó tin tưởng. Tôi cho rằng sự thuần lương, dễ tính của người Miền Nam một thời phần nào được tạo thành do các truyện thơ bình dân nầy. Thời cuộc và những đổi mới của văn học, thể loại truyện thơ bình dân với kết thúc luân lý dạy đời mất tuyệt, cũng là điều đáng tiếc!

Đi tìm ý tưởng nào đó chuyên chở trong thơ Chàng Nhái, ta có thể nhắc đến tình mẫu tử, niềm tin về sự tương thông của ba giới - Trời Phật, Nhân Gian và Địa Ngục, thiện duyên ác duyên, lòng ganh tỵ của con người, sự tham lam quyền lực… là những vấn đề thường thấy.

Tôi tâm đắc với hai vấn đề như là ý tưởng riêng của bộ truyện Chàng Nhái mà ta có thể nói là ít thấy ở các truyện bình dân khác:

1. Tà dâm là nguyên nhân đầu tiên của những trọng lỗi.

2. Mê tâm vì sự xúi xiểm của vợ là con đường đi xuống của nam nhân.

Chằng tinh thú thiệt với hai vợ rằng trước đây mình là người của chánh phái, cũng tu hành, cũng có phép mầu, hình dung mình thanh tú, nhưng lỗi lầm tà dâm khiến mình bị phạt trở thành xấu xa hình dạng:

      Anh đây xưa vốn Đại-Bàng,

      Dài công tu luyện hơn ngàn năm nay.

      Thành người xinh đẹp lắm thay,

Trước anh phạm-tội cách vài mươi năm.

Phép tu cấm sự tà-dâm,

Bỡi anh chẳng cử lòng ham tư-tình.

Gặp nàng con gái đẹp xinh,

Anh ép trăng gió thỏa tình bướm ong.

Chẳng dè nàng phải mạng vong,

Tội kia trời tỏ lâm vòng luật thiêng.

Ngọc-Hoàng mới phạt anh liền,

Làm anh hình dạng chẳng tuyền như xưa.

Từ hình dạng xấu xí, Đại Bàng Chằng Tinh phải sống trong hang núi, ăn đồ sống sít, dần dần vướng vô vòng tục lụy vợ con và rồi phải tiêu ma đời tu luyện ngàn năm trong phút chốc. Hình thể xấu xí của Chằng chẳng qua là một cách diễn tả sự xấu xa trong lòng con người tà dâm của anh ta, để anh ta luôn luôn thấy được sự sai bậy đã qua của mình mà chừa tội lỗi.

Chằng Tinh thấy và hiểu được điều đó. Anh muốn quay đầu lại làm người lương thiện, tu tỉnh không gây thêm ác nghiệp nữa, không sát sanh hại vật nữa. Nhưng sự đời vướng mắc bước vô rồi không dễ dàng cho phép anh thoát ra. Anh không còn lối giải quyết nào khác, anh phải kiếm sữa sùng, cơm gạo, bánh trái cho con mình, anh phải kiếm chút vinh vang để vợ được trả mối hận thù cũ. Và những thứ đó dìm đầu anh xuống, dẫn theo những chuyện lùm xùm lề xề khiến anh phải miễn cưỡng đối đầu với lực lượng của lẽ phải, của hướng thiện, của quần chúng. Và anh bị chết mất xác thảm thương, tiêu tan ngàn năm tu luyện. Cái đau xót của Chằng là anh biết trước mình thuộc về lực lượng tà, không thể nắm giữ thắng lợi lâu dài được, nhưng như đã nói, anh không thể thối lui, biết bậy tất phải thua mà cứ phải đi tới. Con đường anh đi có thể là đã quá xa trong lỗi lầm, nhưng anh phải đi theo luôn, yếu tố chánh là sự có mặt và lời thúc đẩy của vợ:

      Trong lòng hồi hộp muốn kiêng,

Chẳng dè hai vợ phút liền bước ra.

Chị em bàn luận kia là,

Chồng mình tài phép ai mà hơn qua.

Chằng muốn phục quỵ cầu tha,

Biết mình khó nỗi đánh mà hơn vua.

Trăm phần đà muốn chịu thua,

Nhưng thấy hai vợ gượng đua tranh tài.

Gắn gượng tranh tài hay ngoan cố chống lại lẽ phải do sự thuốc nước của đàn bà là con đường thất bại muôn đời của đàn ông. Chằng Tinh cũng không thoát ra được định luật đó. Biết mình tấn tới nữa sẽ chết, phần thắng còn rất nhỏ nhưng Chằng cũng tấn tới vì có ánh mắt của hai bà vợ ở đằng kia. Anh ra trận theo mang tâm trạng Anh đà trót lỡ, chẳng màng tồn vong vì anh là người tình lụy, phải như thế thôi!

Đó là mấy điều tác giả muốn trao cho người đọc, và ông đã nói nó mơ mơ hồ hồ giữa những chuyện trời trăng mây nước khác. Ta đọc thơ Chàng Nhái như người đi tìm nấm quí trong một khu rừng minh mông, bạt ngàn…. Càng xa thời gian xuất hiện lần đầu tiên của nó thì sự thấu hiểu càng khó vì sự hiện diện của một số từ cổ, từ địa phương ít dùng, đã bị biến nghĩa, giới hạn nghĩa.. có khi thật là khó hiểu.


Tại sao lại là Chằng tinh, lại là Chàng Nhái? Đó chỉ là một hình thức hóa thân một giai đoạn của cuộc đời nhân vật, hình ảnh mà tác giả mượn để nói lên sự khác với người thường trong một khoảng thời gian nào đó của nhân vật mà mình tạo dựng. Vì chỉ là hóa thân giai đoạn nên người xấu hình dáng đa phần là tốt, nhứt là trên bản chất. Người đọc đừng chú ý nhiều đến hình thể bên ngoài mà lầm đó là hình thức trường cữu. Tác giả thơ bình dân tưởng tượng ra nhiều hình thức hóa thân giai đoạn. Ta có Nàng Út chỉ lớn bằng ngón tay út của người thường (Thơ Nàng Út) ta có Lang Châu cùi, hình dạng biến thể, lở lói (Thơ Lang Châu), ta có Trần Minh đóng khố bằng lá chuối (Thơ Trần Minh Khố Chuối), ta có Phạm Công (Thơ Phạm Công Cúc Hoa) Lý Công (Thơ Lý Công) là những người ăn mày dơ dáy, lang thang xóm nầy xóm kia, sống bằng sự bố thí của người đời để chờ thời, ta c ó người đốn củi nghèo nàn nằm ngủ hàng lang Thạch Sanh (Thơ Thạch Sanh Lý Thông)... Qua giai đoạn hóa thân nhân vật sẽ trở lại làm người bình thường, lập công danh, chăn dân trị nước nếu cái tâm không bị sa đà vào đường sai lầm tội lỗi mà Chằng tinh là trường hợp điển hình.

Thơ bình dân miền Nam được ưa thích một phần cũng nhờ tác giả áp dụng kỹ thuật hóa thân giai đoạn cho nhân vật chánh, người đọc vừa được khiêu gợi sự tò mò, vừa thấy khoan khoái vì biết chắc rằng rồi đây nhân vật sẽ được trở về tình trạng bình thường với một tương lai rực rỡ. Người bình dân đọc vì muốn thỏa mãn ước mơ thoát khỏi cảnh đời nghèo khổ của mình trong thực tế? Câu trả lời sẽ không có. Chỉ có một điều chắc chắn, ở Thơ Chàng Nhái cũng như ở các quyển thơ bình dân khác: Sự xung đột chánh tà là lẽ đương nhiên và cuối cùng thì tà phái sẽ chịu diệt vong thôi, dầu thắng thế bao lâu cuối cùng rồi cũng sẽ bị diệt, và tiếng xấu vẫn còn hoài hoài, miên viễn. (NVS, Port Arthur, Dec, 2006)



Truyện thơ bình dân


CHÀNG NHÁI


KiÊN TIÊN


Nguyễn Văn Sâm sưu tầm, giới thiệu


11/2006

Lưu hành nội bộ



Họ Vương trị nước thái bình,

Nhơn dân lạc nghiệp thỏa tình ca xang.

Xưa kia tại xứ Tòng-giang,

Có ông trưởng-giả10 vốn hàng nho gia.

Sanh đặng một gái xấu xa,

Giảng-Dung tên gọi tuổi đà cập kê.

Ông bà buồn bực ủ ê,

Con ta quái dị người chê kẻ cười.

Ai ngờ số hệ nơi trời,

Giảng-Dung mình một nàng thời thọ thai11.

Sanh đặng một nhái lạ thay,

Thật là khác tục xưa nay trên đời.

Gia-nhơn đi báo tức thời,

Ông bà nghe rõ đến nơi xem tàng.12

Giảng-Dung lụy nhỏ đôi hàng,

Thưa cùng cha mẹ rõ ràng lạ thay.

Người sanh ra thú mấy ai,

Thật điềm quái dị con nay khó bàn.

Ông bà khuyên chớ phàn nàn13,

Con tua nuôi Nhái kỹ cang thường thường.

Chớ cho nhảy bậy ra đường,

E cho gà vịt nhai xương nuốt rày.

Hay là trời giúp báu nầy,

Mắt phàm khó thấu gọi nay bất tường14.

Ai ngờ họa phước nan lường,

Ông bà nhuốm bịnh khó tường tử sanh!

Kêu con vào trối đành rành,

Ắt cha mẹ chẳng toàn sanh dương trần.

Con tua nuôi Nhái ân cần,

Chớ nghe lời thế phân vân luận bàn15.

Phận cha mẹ thác đã an,

Thương con cui cút ghe đàng gian nan16.

Dứt lời hồn phách biến tan,

Giảng-Dung kêu khóc thở than lắm lời.

Tưởng là cha mẹ trọn đời,

Nào hay nay lại tách dời âm quang17!

Nàng bèn thọ chế cư tang,

Lo bề tống táng đã an việc nhà.

Từ đây hiu quạnh vào ra,

Tấm thân cô độc thật là thảm thay.

Dưỡng nuôi chàng Nhái ngày ngày,

Mười ba năm chẳn hình hài y nguy18.

Nhái bèn thưa mẹ một khi,

Xin mẹ hãy cưới vợ thì cho tôi.

Giảng-Dung nghe nói hỡi ôi,

Vợ đâu mà lại cưới thôi cho mầy?

Họa tao kiếm rắn về đây19,

Đặng mầy với nó ngày nay giao hòa.

Nhắm trong thiên hạ người ta,

Ai thèm lấy nhái mầy mà bảo tao?

Nhái bèn thưa mẹ âm hao,

Mẹ cưới dân thứ con nào thèm đâu.

Mẹ vào nơi chốn long-lâu,

Nói con Hồ-Đế kết câu duơn tình.

Giảng-Dung nghe nói thất kinh,

Con muốn cho mẹ bỏ mình hay sao?

Người là vua chúa tại trào,

Phận ta lê thứ dám nào lộng ngôn.

E cho thác chẳng còn hồn,

Thôi đừng tính việc tầm ruồng20 uổng công.

Nhái rằng: Mẹ hãy an lòng,

Tới nơi mẹ khá đục trong tố trần21.

Giảng-Dung nghe trẻ dời chơn,

Đường xa diệu viễn quan san quản gì.

Nói việc Hồ-Đế trào nghi,

Có nàng gái út tên thì Kiển-Tiên.

Mới mười hai tuổi đương xuân,

Hình dung yểu điệu tợ tiên non bồng.

Đang khi trào chánh hộ đồng,

Quân nhơn vào trước bệ rồng tâu qua.

Có người phụ nữ xấu xa,

Xin vào yết kiến Hoàng gia cửu trùng.

Đức vua phán trước trào trung,

Cho nàng nhập điện kiết hung tỏ bày.

Giảng-Dung vào tới kim giai,

Nàng bèn quì lạy bày ngay mọi đàng.

Tôi người quê ở Tòng-Giang,

Giảng-Dung tánh tự rõ ràng đồng trinh22.

Việc nầy gẫm quá ức tình,

Khi không mà lại trong mình thọ thai.

Đến ngày nở nhụy hoa khai,

Sanh đặng một Nhái gái trai biết nào.

Nhái thời hụp lặn vũng ao,

Nhái đâu lại biết ra vào bổn gia23.

Lần lần đông mãn xuân qua,

Nuôi chàng nay đã mười ba năm rồi.

Nhái xưng rằng: Nhái con trời,

Biểu tôi kiếm chốn định đôi Châu Trần.

Nhưng mà chẳng khứng con dân,

Dầu con các bực trào thần cũng chê.

Bảo tôi trào chánh vào kề,

Tâu cùng chúa thượng kết bề suôi gia.

Đức vua nghe tấu thở ra,

Nghĩ rằng: Nhái ếch thì là ở ao.

Thấy người sợ nhảy lao xao,

Nhái nầy sao dám cầu cao làm vầy.

Hay là yêu quái chi đây,

Ước điều phi lý toan bày hại ta?

Nghĩ rồi vua mới phán ra,

Bần nhơn đâu sánh Hoàng gia con trời.

Con ta dầu gã con người24,

Khá đem chàng rể đến nơi xem tường?

Giảng-Dung trở lại gia đường,

Nói cùng chàng Nhái tỏ tường phân minh.

Vua đòi xem rõ vóc hình,

Biết rồi vua mới kết tình suôi gia.

Nhái rằng: Mẹ hãy đến tòa,

Đặng cho con trẻ vậy mà đi theo.

Nhảy vào tay áo nằm queo25,

Giảng-Dung lội suối trèo đèo xuống kinh.

Đến nơi vào chốn đơn đình,

Quì bên thánh thượng tỏ tình âm hao.

Tôi đà đem Nhái đến trào,

Vua bèn phán hỏi chớ nào Nhái đâu.

Giảng-Dung nhắm trước xem sau,

E cho gà vịt bước vào tha đi.

Bèn dũ tay áo một khi,

Nhái bèn nhảy đến đơn trì ngồi trơ.

Đức vua xem thấy ngẩn ngơ,

Thật là quái dị lẫn lơ26 thay là.

Hỏi rằng: Nhái muốn con ta,

Vậy trong ba gái Nhái mà ưng ai?

Nhái chàng trước điện tâu bày,

Kiển-Tiên nàng út duyên hài cùng tôi.

Hồ-vương suy nghĩ vừa rồi,

Phán rằng Nhái khó sánh đôi với người.

Nhái thì phận Nhái con trời,

Khi quân vọng thượng tội thời chẳng tha.

Hồ-vương trước điện hét la,

Truyền bắt lũ nó đem ra hành hình27.

Dứt lời biến sự nên kinh,

Đầy trào cầm thú dị hình đông thay.

Lướt vào gầm thét vang dầy,

Hầm hầm nó muốn nuốt rày Hồ-vương.

Giảng-Dung hỏi giữa trào đường,

Đòi chi vua nói lo lường chạy thêm.

Hồ-vương run sợ nói êm,

Chị ôi tôi chẳng đòi thêm vật gì.

Giảng-Dung đem Nhái ra đi,

Để mặc cầm thú đơn trì vào ra.

Hồ-vương than thở thiết tha,

Cũng vì chàng rể làm già kinh mang.

Một rể mà trẫm chẳng an,

Nếu có ba rể thác oan còn gì!

Kiển-Tiên vội vã tâu quì,

Tại cha sanh sự chàng thì dám đâu.

Muốn cho nhơn nghĩa bền lâu,

Viết thơ tôi bảo chồng thâu phép mầu.

Hồ-vương truyền viết mau mau,

Thú cầm làm dữ để lâu khó lòng.

Tả thơ một bức đã xong,

Truyền cho bả trạo lướt xông dặm ngàn.

Quân nhơn lãnh bức thơ lan28,

Xuống thuyền lướt dặm giòng vàng ra khơi.

Tòng-giang nay đã đến nơi,

Vào dâng thơ nhạn bày lời thiệt hơn.

Nhái chàng nghe rõ nguồn cơn;

Mở thơ đọc thử giả chơn dữ hiền.

Thơ rằng: Công-chúa Kiển-Tiên,

Gởi lời kính lạy mẹ hiền gia trang.

Sau là trình dữ phu lang29,

Thiếp xin mạn phép khuyên can ít lời.

Vả chàng tiền kiếp con trời,

Lẽ nào cố chấp người đời thế gian.

Cha tôi mắt thịt chẳng tàng,

Mới là lầm lỡ nói càn chẳng suy.

Từ chàng gia nội hồi qui,

Thú cầm lừng lẫy khắp thì ngoài trong.

Vua cha lo sợ phập phồng,

Bá quan văn võ thảy đồng kinh mang.

Xin chàng phép báu thâu an,

Kẻo mà trào sĩ nhộn nhàng lắm thay.

Ơn kia ghi tạc lòng đây,

Thân nầy thiếp nguyện dưng nay cho chàng.

Một lời cũng nghĩa tào khang,

Xin chàng tưởng chữ tam cang đạo hằng30.

Mấy lời tâm huyết gởi sang,

Mong ơn quân tử đá vàng thứ tha.”

Xem thơ Nhái luống xót xa,

Khá khen Công-chúa cũng là trí tri.

Phu-thê là đạo xướng tùy,

Nếu ta cố chấp phân ly vợ hiền.

Chàng bèn thâu hết phép tiên,

Thú linh khi ấy nằm yên trong bầu.

Nói về Hồ-Đế tại trào,

Thú đà mất hết xiết bao vui mừng.

Mới cùng Hoàng-hậu tỏ phân,

Nước ta rày mới mười phần đặng an.

Rễ tiên gìn giữ giang san,

Hết lo địch quốc ngoại bang dấy loàn.

Thốt đoạn chàng Nhái gia trang,

Một mình suy nghĩ tính toan trong lòng.

Nếu mà việc nọ chẳng xong,

Ắt là người thế họ phòng chê ta.

Trước là cười đến mẹ cha,

Sau là cười Nhái tinh tà yêu ma.

Xin mẹ kinh địa31 sang qua,

Tới trào Hồ-Đế đặng mà tính toan.

Hỏi người muốn của thế gian,

Hay đòi bửu vật thiên đàng chi chi.

Giảng Dung vội vã ra đi

Mấy ngày đã đến kinh kỳ trào ca

Hồ-vương bèn phán trước ngai,

Sui gia lời thật nói ngay cho tàng.

Bên tôi tôi đã lo an,

Bên trai phận chị phải toan lễ bày.

Sắm sẵn mọi việc mới hay,

Có đủ thì mới con rày gả cho.

Đám cưới con vua phải lo,

Lễ vật trong thế tiếng cho để đời.

Lễ đủ một trăm mặt trời,

Một trăm mặt nguyệt giữa vời chiếu ra.

Một trăm phật tử trên chùa.

Thành-hoàng trăm vị đến mà cho đông.

Một trăm mãng xà có lông,

Trăm con nai trắng trong đồng kéo ra.

Một trăm hùm dữ hét la,

Một trăm sư tử phục mà trước sân.

Lại sắm một trăm kỳ lân,

Trên lưng trăm vị Tôn thần cỡi đi.

Trăm rồng ngũ sắc cao phi,

Giởn cùng mặt nhựt ta thì xem chơi.

Hoàng-hậu sợ đã hết hơi,

Ông đòi những việc bằng trời32 khó thay.

Đức vua thôi mới tỏ bày,

Thử cho biết rể tài hay bực nào.

Giảng-Dung nghe cũng ngạt ngào33,

Tạ từ trở lại dàu dàu chẳng an.

Phen nầy phải thác suối vàng,

Triều-đình nghiêm lịnh khó toan yên rày.

Đến nhà còn hởi châu mày,

Nhái chàng bước đến hỏi nay đuôi đầu.

Cớ chi mẹ những âu sầu,

Hay vua khi dễ lẽ nào nói ra?

Nàng rằng: Người chẳng khi ta,

Nhưng đòi lễ vật thật là quá ghê.

Nói rồi phân lại mọi bề,

Phen ni con mẹ hồn về âm-ty.

Nhái rằng: Mẹ chớ sầu bi,

Hồ-vương khi trẻ, trẻ thì liệu xong.

Nói rồi biến hóa thinh không,

Thiên-đình về đến ngõ phòng liệu toan.

Tới nơi vào chốn đền vàng,

Lạy mừng vương phụ chào hàng bá quan.

Ngọc-Hoàng thôi mới hỏi han,

Sao con chẳng ở dương-gian phản hồi?

Thái-tử quì tấu khúc nôi,

Đầu đuôi các việc một hồi tâu ngay.

Ngọc-Hoàng phán trước kim-giai,

Hồ-vương tánh dữ ta rày phải răn.

Con tua trở lại dương-gian,

Tháng giêng mười sáu cha ban đủ rày.

Ngọc-Hoàng mới phán lời nầy,

Nam Tào lãnh chiếu truyền rày khắp nơi.

Tây-phang Phật tổ khá mời,

Bồng-Lai tiên-trưởng cùng thời Lão Quân.

Tề-Thiên lại với Ngụy Trưng,

Chư thần chư thánh đề chừng dương-gian.

Mãng-xà các giống hổ lang,

Kỳ-lân sư-tử tứ phang lên đàng.

Đều vưng Thái-tử lịnh truyền,

Đằng-vân giá-võ thẳng đàng dương-gian.

Đoạn nầy nói việc Nhái chàng,

Phân cùng từ mẫu mọi đàng đã xong.

Bây giờ mẹ khá thẳng xông,

Tâu cùng Hồ-Đế mau phòng liệu toan.

Cất trăm cái rạp nghiêm trang,

Chiếu hoa trải lót cỗ bàn cho xuê.

Giờ thìn họ đến bộn bề,

Sẵn đủ các món mựa hề sai ngoa.

Giảng-Dung nghe trẻ bước ra,

Mấy ngày đi đến trào ca tấu tường.

Vua rằng: Chị chớ lo lường34,

Y như lời chị mọi đường lo xong.

Giảng-Dung bái tạ đền rồng,

Trở về gia-nội lo xong việc mình.

Tháng giêng mười sáu thượng trình,

Nhái chàng mở nắp bầu linh tức thì.

Tự nhiên chư-vị đến nơi,

Nhơn dân kinh hãi tức thời tránh xa.

Lao xao Tiên Phật hằng hà,

Mãng-xà thú dữ lại qua chật đàng.

Trống chiêng inh ỏi tiếng vang,

Trào thần mất vía kinh mang nhộn nhàn.

Tam cung lục viện thở than,

Hồ-vương Hoàng-hậu vén màn ngã lăn.

Mặt trời chiếu nóng muôn vàn,

Kiển-Tiên thấy vậy tâm can bàng hoàng.

Cha tôi làm rối nhơn gian,

Đào hang trốn tránh bỏ hoang cửa nhà35.

Làm thinh thì rối quốc-gia,

Làm văn ta tấu đến tòa thượng thiên.

Nhựt nguyệt xin giảm cho yên,

Để chi nóng nảy ngửa nghiêng dân lành.

Nói rồi hạ bút tâu rành,

Sớ văn bèn đốt lòng thành cầu xin.

Ngọc-Hoàng xem sớ phân minh,

Kiển-Tiên nhơn đức gẫm tình khá thương.

Truyền cho các bộ Long-vương,

Khá thâu nhựt nguyệt một đường biến tan.

Lại thâu các thú hổ-lang,

Kẽo mà phàm thế lòng toan lo lường.

Bây giờ bá tánh an khương,

Trào-đình Hồ-Đế nhứt tràng hỉ hoan.

Hồ-vương truyền lịnh vội vàng,

Mau mau ra rước họ hàng vào trong36.

Họ trai đông đã nên đông,

Chư-tiên chư-phật thủy-long nhộn nhàng.

Chư-thần chư-thánh tứ phang,

Lại có liệt vị đền vàng thượng-thiên.

Hồ-vương quì gối lạy liền,

Chúc mừng Ngọc-Đế phật tiên xuống trần.

Trà-thung rượu cúc ân cần,

Tiêu-thiều nhạc-võ mười phần vui thay.

Đồ ăn mọi món sắp bày,

Của tiên vật quý xem nay lạ kỳ.

Ai từng đám cưới thế ni,

Đồ chay đồ mặn dọn đi hai dòng.

Họ gái thì ăn mặn ròng,

Họ trai nam-nữ thảy đồng ăn chay.

Của phàm dọn đã dẫy đầy,

Phật tiên chứng kiến thấy rày như ăn37.

Hồ-vương đứng dậy thưa rằng:

Kính trình hai họ mựa hằng chấp chi38.

Ngày nay ái-nữ nghi kỳ39,

Xin cho phép nó ra thì chào ta?

Kiển-Tiên rón rén bước ra,

Lạy cha rồi mới lạy qua họ hàng.

Họ trai trưởng-tộc bày tàng,

Kiếng cho ngọc-báu40 phàm gian có nào.

Ngọc-hoàng mới tỏ thấp cao,

Tiệc kia đã mãn hồi trào thượng- thiên.

Dầy dầy chư-phật chư-tiên,

Đằng-vân giá-võ tách miền phàm gian.

Bây giờ mọi việc đã an,

Vợ chồng sum hiệp phụng-loan thỏa nguyền.

Hai chị nói với Kiển-Tiên,

Thiệt em lấy Nhái chị phiền lắm thay.

Nó là yêu quái chẳng sai,

Có ngày nó nuốt mất thây chẳng toàn.

Kiển-Tiên rằng: Nghĩa đá vàng,

Mẹ cha sở định phải an một bề.

Ngày nay đã hiệp phu thê,

Một ngày cũng nghĩa mựa hề thở than.

Đoạn nầy nói việc Nhái chàng,

Quyết lòng thử vợ coi nàng thể nao.

Kêu nàng bày tỏ âm hao,

Ắt qua41 phải thác sống nào đặng đâu.

Nàng không xem trước xem sau,

Kiến cắn ta thác bỏ âu mình nàng.

Phương chi cứu đặng mạnh toàn,

Kiến cắn đau thấu ruột gan anh rày.

Chàng quyết thử vợ hôm nay,

Xác chàng bỏ đó hồn bay lên trời.

Kiển-Tiên lụy ngọc tuôn rơi,

Chàng ôi bao nở tách dời Âm-quang!

Tiếc chưa đồng tịch đồng sàng,

Cùng nhau mới gá đá vàng mà thôi.

Chàng sao đành dạ bỏ tôi,

Kẻ còn người mất nghĩ thôi đoạn tràng.

Ta mau vào chốn đền vàng,

Tâu cùng vương-phụ thọ tang cho chàng.

Hồ-vương nghe thấu quở vang,

Sao con để kiến cắn chàng thác đi?

Tiếc thay diệu-thuật ai bì,

Ngày nay lại khiến đôi đường phân ly.

Đã đành sanh ký tử qui,

Thôi con trở lại lo thì chế tang.

Kiển-Tiên trở lại lo toan,

Đặt bày lễ vật để tang cho chồng.

Đọc văn lòng những não nồng42,

Sống sao thác vậy một lòng với nhau.

Tế rồi than khóc xiết bao,

Trách thay loài kiến bây sao vô nghì.

Nhà tao thịt cá thiếu chi,

Sao bây nỡ dạ cắn thì chồng tao?

Nhái chàng xem rõ âm hao,

Khá khen hiền phụ trước sau thật lòng.

Nay ta đã rõ đục trong,

Dương-gian trở lại ngỏ phòng toan đương.

Biến trai xinh tốt phi thường,

Mày tầm mắt phụng đường đường dung nghi.

Lân la vào chốn cung vi,

Kiếm lời hoa nguyệt một khi ghẹo nàng.

Kiển-Tiên bèn hỏi vội vàng,

Người đâu lạ mặt đến toan việc gì?

Chàng bèn đáp lại một khi,

Tôi là Thái-tử con thì Tề-vương.

Nghe nàng xinh tốt phi thường,

Giữa đàng gảy gánh lòng thương chẳng cùng.

Nên tôi mới đến cung trung,

Tỏ điều lợi hại thỉ chung43 với nàng.

Đứt gióng mà phải tạm choàn,

Hoa tươi người chuộng đến tàn chúng chê.

Khuyên đừng trực tiết phòng huê,

Cùng tôi chấp nối vẹn bề phụng loan.

Kiển-Tiên quát mắng đã vang,

Khá mau ra khỏi chớ toan nhiều lời.

Chàng nghe nàng nói liền cười,

Chưa chi sao lại nàng thì đuổi ra?

Nàng dầu chẳng tưởng đuổi ta,

Thác tôi chịu thác đứng xa hầu nàng.

Dầu cho lịnh thánh trào đàng,

Gia hình tôi chịu hầu nàng mà thôi.

Cớ sao nàng lại chê tôi,

Chồng nàng là Nhái vô hồi xấu xa?

Có đâu dám sánh cùng ta,

Tề-trào Thái-tử xinh đà quá xinh.

Kiển-Tiên nổi trận lôi đình,

Rút gươm ta chém bỏ mình chẳng tha.

Cầm gươm tay chém miệng la,

Tam cung lục-viện bắt mà cường-gian.

Bắt gươm chàng bảo khoan khoan,

Qua nay cởi lốt Nhái chàng chẳng sai.

Chẳng tin sau trước phân bày,

Qua thiệt chàng Nhái ở nơi phòng nàng.

Kiển-Tiên nhiếc mắng đã vang,

Tử giả biệt luận44 lại hoàn đặng đâu.

Chồng ta Nhái thác đã lâu,

Nhái đâu mà lại biến hầu người ta?

Nhái chàng thôi mới phân qua,

Thật anh cổi lốt người ta rõ ràng.

Chẳng tin đem xác Nhái chàng,

Ta huờn cửu xác cho nàng lòng tin.

Kiển-Tiên đem lốt đến trình,

Nhái bèn nhập xác huờn tinh rõ ràng45.

Kiển-Tiên ôm Nhái khóc than46,

Cớ sao chàng lại phụ phàng bỏ tôi?

Nhái rằng: Thượng giái phản hồi.

Về chầu quên nói đặng thời nàng hay.

Ngày nay mừng đã sum vầy,

Lốt anh em giữ hôm mai ân cần47.

Âu ta vào viếng phụ thân,

Sau là thăm hết quần thần bá quan.

Vợ chồng vào chốn đền vàng,

Chúc mừng vương-phụ, mẫu-hoàng, bá-quan.

Hồ-vương phân hỏi vội vàng,

Kiến cắn con thác rõ ràng chẳng sai.

Cớ sao mà đặng tái lai,

Hình dung tươi tốt phân nay cha tàng?

Nhái bèn quì tấu bệ vàng,

Kiếp đày con mãn, Ngọc-hoàng ban ơn.

Cho nên mới đặng thành nhơn,

Con vào kính lạy, bệ đơn hãn tàng.

Vợ chồng bái tạ đền vàng,

Sửa sang xe giá Tòng-giang băng dời.

Vợ chồng đi đã đến nơi,

Bước vào lạy mẹ chúc thời bình an.

Giảng-Dung mừng rỡ trăm đàng,

Ngày nay mẫu tử nhứt tràng hiệp nhau.

Mẹ thời già yếu ở xa,

Con thời ở chốn chương tòa đế-vương.

Ngày nay tiết rỡ bốn phương,

Xấu kia tốt nọ cũng đồng cả hai.

Đã sanh ra phận làm trai,

Ơn nhà nợ nước hai vai nặng nề.

Con tua giữ vẹn một bề,

Mấy lời mẹ dạy chớ hề sai ngoa48.

Vợ chồng quì lạy mẹ già,

Lên xe lướt dặm trở về trào ca.

Tối thời Nhái cổi lốt ra,

Ngày thời mặc lốt vào ra trào đàng49.

Đoạn nầy nói việc Tần bang,

Thiết lập đại hội trào đàng vui thay.

Đấu tài đấu lực đủ rày,

Đấu xinh đấu lịch đủ nay trăm nghề.

Rao cùng khắp chốn khắp nơi,

Chư bang mời đến hội hè xem chơi50.

Chư bang liệt quốc tới nơi,

Xa xuôi lặn lội đồng thời kéo sang.

Hồ-vương phân giữa trào đàng,

Truyền quân sửa soạn tàu thoàn ra đi.

Truyền hai công- nữ đơn trì,

Điểm trang nghiêm chỉnh đặng thì xem chơi.

Hồ-vương sai sứ qua mời,

Chẳng hay phò-mã đi thời cùng chăng?

Nhái chàng vào chốn tâu rằng,

Đường xa vạn dặm nửa trăng chẳng gần.

Cha cùng mẫu-hậu quần thần,

Hãy toan đi trước con lần theo sau.

Hồ-vương liệt vị xuống tàu,

Trương buồm trực chỉ Tần-trào lướt xông.

Trời xanh nước bích mênh mông,

Thoàn loan xuôi ngược xa trông bãi gành.

Nhái chàng còn ở tại thành,

Mới toan giá võ thượng hành trẩy sang.

Tới nơi dạo cảnh xuê xang,

Nhơn dân xem thấy nghĩ càng lạ thay.

Người sao xinh tốt ai tày,

Rồng chầu hổ phục xem nay khác thường.

Hào quang chiếu sáng tứ phương,

Hội Tần thiên hạ đầy đường thiếu chi.

Chen nhau đón mấy ngã đi,

Đặng coi chàng Nhái thử thì ra sao.

Tần-vương xem thấy hồn bay,

Ngỡ là thiên-sứ trời sai việc gì.

Nhái chàng mới tỏ vân vi,

Tôi là phò-mã ở thì Hồ-bang.

Phải nào là sứ Ngọc-Hoàng,

Chẳng qua Hoàng-đế coi lầm mà thôi.

Kiển-Tiên chàng Nhái dạo chơi,

Cỡi con bạch tượng xem thời như tiên.

Hai chị xem thấy chẳng yên,

Quả là chàng Nhái Kiển-Tiên dạo đàng.

Tốt xinh thiên hạ ai đang51,

Nhái chàng cổi lốt rõ ràng tiên gia.

Hai nàng cãi lẩy lại qua,

Xuống tàu trộm lịnh về mà Hồ bang.

Dắt nhau vào chốn cung vàng,

Kiển-Tiên chàng Nhái rõ ràng vốn không.

Kiếm tìm khắp hết ngoài trong,

Hoa viên chẳng có huê phòng vắng tanh.

Lốt Nhái để đó đành rành,

Hai người nổi giận tanh bành xé tan.

Phải xưa ta rõ cơ quan52,

Thì ta lấy nó xuê xang thay là.

Lốt này đem bỏ cho xa,

Còn chi cho nó hóa mà nên tiên.

Hai nàng bèn rủ nhau liền,

Xuống ao bắt Nhái về đền ấp chơi.

Hai nàng tìm kiếm đôi nơi,

Bắt đặng đôi Nhái kết đôi vợ chồng.

Nưng niu đem lại khuê phòng,

Ấp Nhái mỗi bữa vui lòng biết bao.

Chàng tua cổi lốt mau mau,

Thỏa tình phu phụ ngồi cao tại trào.

Chờ chàng cổi lốt thấy nào,

Nếu chàng chẳng cổi ta vào cổi cho53.

Lẽ nào khó tỏ căn do,

Dầu chàng chẳng đẹp phận ta hãn tình.

Hỏi hoài sao cứ làm thinh,

Chàng buồn thiếp cũng sầu tình chứa chan.

Một ngày cũng nghĩa tào khang,

Vái cùng trời đất khắp phang chứng lòng.

Than thân trách phận tủi lòng,

Lấy dao bèn cổi lốt chồng xem qua.

Nhái đau ẹo ẹo kêu la,

Hai nàng mừng rỡ nhái mà biết kêu.

Mùa đông lạnh biết bao nhiêu,

Hai nàng mới lấy nhiễu điều đắp thây.

Lốt chàng thì lại cầm tay,

Hai nàng than thở kể rày xiết chi.

Hai nàng lụy nhỏ lâm ly,

Bèn làm văn tế một khi tế chàng.

Tế rồi còn hỡi thở than,

Bỗng đâu bãi hội Thánh-hoàng về kinh.

Đức vua vào chốn đơn đình,

Bèn đòi hai gái sự tình hỏi qua.

Cớ sao lén trở về tòa,

Mà không tâu lại cho ta hãn tàng.

Hai nàng tấu trước đền vàng,

Chàng Nhái đã thác rõ ràng cha ôi.

Đức vua nghe tấu rụng rời,

Chàng Nhái đâu nữa bây giờ nói điên.

Hai nàng bày tỏ căn nguyên,

Hai tôi thấy bóng hữu duyên thay là.

Nhìn chàng dường thể tiên nga,

Ngồi voi bạch tượng xem đà hữu duyên.

Hai tôi bèn trở về liền,

Bắt đặng hai Nhái hồi thiềng54 kết đôi.

Bảo chàng cổi lốt cho rồi,

Nhưng chàng chẳng cổi tôi thời cổi ra.

Ai dè lốt Nhái chưa già,

Hai tôi vội cổi chàng mà thác đi.

Thương chàng khóc kể xiết chi,

Tế chàng trọn nghĩa rồi thì để tang.

Hồ-vương nghe tấu mắng vang,

Quân ngu mà lại làm ngoan cớ gì?

Nhái phàm Nhái ấy biết chi,

Nhái ấy thiên hạ để thì xào măng55.

Nhái nầy Nhái biết đạo hằng,

Kiếp tiên phải đọa ai bằng Nhái đâu.

Bây không suy nghĩ trước sau,

Thấy người vinh hiển đua nhau ghét rày.

Phen nầy tao thứ cho bây,

Sau còn tái phạm tao rày chẳng tha.

Bắt mi cho voi nó chà,

Xé thây trăm miếng kẻo mà thói gian.

Kiển-Tiên chàng Nhái hồi thành,

Vào chúc vương phụ bệ vàng đặng an.

Hồ-vương mừng rỡ hỏi han,

Hai con xem hội Tần bang thể nào?

Tâu rằng: Nước thạnh dân giàu,

Võ văn nhiều đứng anh hào lắm thay.

Lịnh truyền diên yến sắp bày,

Quân thần hoan lạc vinh thay trong tòa.

Bãi chầu văn võ lui ra,

Kiển-Tiên chàng Nhái về tòa nghỉ an.

Kiếm tìm lốt mất nào tàng,

Nhái rằng: Có kẻ lòng gian dạ tà.

Có lòng ganh ghét đôi ta,

Cho nên lấy lốt bỏ ra ngoài thành.

Em tua giữ dạ đành rành56,

Bằng không thì sẽ lụy mình mai sau.

Phút đâu có sứ Thiên-tào,

Xuống triệu chàng Nhái về chầu Thượng-thiên.

Nhái bèn than với vợ hiền,

Nay anh về chốn Thượng-thiên chương-tòa.

Đặng chầu Ngọc-đế vua cha,

Thương em thui thủi vào ra một mình.

Thở than chẳng xiết chi tình,

Nhái bèn từ giã vân trình bay ngay.

Kiển-Tiên lăn khóc thảm thay,

Chàng ôi sao nỡ phân tay chia đàng.

Đã đành xa cách bạn vàng,

Từ đây thiên các đôi phang57 dứt tình.

Nhái chàng về tới thiên-đình,

Bá quan mừng rỡ sự tình hỏi han.

Yến-diên nữ nhạc ca xang,

Ngày mai rồi sẽ sửa sang nhập trào.

Nói việc hai chị gươm đao58,

Nghe tin chàng Nhái về chầu thượng-thiên.

Âm mưu quyết hại Kiển-Tiên,

Nếu mà nó thác Nhái liền về ta.

Hai chị thôi mới đến nhà,

Rủ em đi tắm suối mà rất trong.

Nàng rằng: Chị chớ chấp lòng,

Vốn em chẳng tắm suối sông đâu là.

Hai chị bèn trở về nhà,

Mới cùng Thị-Thảo luận bàn mưu hay.

Thảo rằng: Việc ấy dễ thay,

Tôi có một vật ăn rày mê man.

Bỏ vào trong miếng trầu vàng.

Bà đem đến đó bảo nàng ăn chơi.

Nàng ăn sảng sốt59 biến dời,

Mặc tình chém giết bà thời liệu toan.

Hai chị qua đó vội vàng,

Hỏi em có nhớ Nhái chàng hay không?

Nàng rằng: Đạo ngãi vợ chồng,

Tình giao một thuở mặn nồng thiên thu.

Lòng em thương nhớ tình phu,

Vào ra trông ngóng mịt mù tứ phang.

Chị rằng: Có miếng trầu vàng,

Ăn cho vui miệng bày tàng chuyện chơi,

Kiển-Tiên thấy nói hết lời,

Ăn vào phút chút nàng thời mê man.

Hai chị lòng dạ bạo tàn,

Chẳng thương cốt nhục lòng toan giựt chồng.

Đồng bào coi thể như không60,

Đem nàng xuống chốn biển đông giết rày.

Vì mầy xấu hổ dẫy đầy,

Giết mầy báo oán bỏ thây giang hà.

Kiển-Tiên tỉnh lại khóc la,

Chị ôi cốt nhục sao mà chẳng thương!

Phận em còn mất chẳng lường,

Thương vì đôi cụm thung-đường tại gia.

Chúc chị ở lại an hòa,

Sớm khuya săn sóc mẹ cha cho thường.

Hai chị độc ác phi thường,

Cầm dao cắt cổ Kiển-nương hồn dời.

Xác xô xuống biển tức thời,

Bỗng đâu sóng gió khắp nơi ầm ầm.

Giang-hà chuyển động ba đào,

Hai chị thấy lạ tâm bào hồn kinh.

Hai ta độc ác thật tình,

Cho nên trời đất bất bình chi đây.

Thôi thôi mau khá lui hài,

Việc mình giấu nhẹm mựa rày bày ra.

Chư-thần tuần vãng giang-hà,

Trở về tấu cáo giữa tòa Long-vương.

Bày tường việc của Kiển-nương,

Hai chị độc ác mọi đường tâu ngay.

Long-vương phán trước kim-giai,

Xác kia gìn giữ chớ rày vi sơ.

Đem hồn nàng đến bây giờ,

Đặng ta hỏi lại sự cơ cho tàng,

Thủy-tộc vưng lịnh thủy-hoàng,

Giang-hà liền đến tầm nàng Kiển-Tiên.

Oan hồn phưởng phất61 nào yên,

Thủy-tộc dẫn lại nạp liền trước ngai.

Long-vương trên điện hỏi rày,

Việc nàng phân rõ bỡi nay cớ nào?

Kiển-Tiên thôi mới tâu vào,

Đầu đuôi mọi nỗi giữa trào phân ngay.

Vua rằng: Căn đọa kiếp đày,

Ở đây rồi sẽ có ngày minh oan.

Đoạn nầy nói việc Nhái chàng,

Bãi chầu trở lại thăm nàng Kiển-Tiên.

Vào nhà vắng mặt vợ hiền,

Biết rằng: Nàng đã tầm miền Âm-ty.

Khóc than thảm thiết xiết chi,

Xưa anh đã dặn em thì chẳng nghe.

Bây giờ chích mác phu-thê,

Biết bao giờ đặng trọn bề với nhau.

Trách lòng hai chị hiểm sâu,

Đồng-bào cốt nhục nỡ nào đoạn phân.

Sắp bày lễ vật ân cần,

Hồn em bể Sở non Tần chứng minh.

Xốn xang dường cắt tâm tình,

Bèn đọc văn tế, tế linh cho nàng.

Tế rồi lụy nhỏ đôi hàng,

Kiển-Tiên em hỡi suối vàng có hay?

Trách ai lòng một dạ hai,

Đành tâm độc ác phân tay thiếp chàng.

Hai chị bèn đến hỏi han,

Vì sao xem sắc tướng chàng sầu bi?

Nhái chàng mới tỏ vân vi,

Vợ tôi chẳng biết nó đi phương nào?

Sợ nó sa hố té hào,

Nên đà thác mất chốn nào biệt tin.

Hai chị thôi mới ướm tình,

Cần chi mà lại để mình sầu riêng.

Dầu mà có mất Kiển-Tiên,

Chàng dùng người khác than phiền ích chi.

Kiển-Tiên mà có thác đi,

Hai ta xin thế can chi mà rầu.

Mất cha mất mẹ lo âu,

Vợ chồng như áo mặc vào cổi ra.

Khuyên chàng mựa chớ lo xa,

Giống kia mà đứt thì ta tạm choàng62.

Vui vầy một phụng đôi loan,

Mất một đền lại hai nàng kém chi63.

Trăm năm đẹp phận xướng tùy.

Phòng loan vào đó kết nghì keo sơn.

Nhái chàng nghe nói ngỡ ngàng,

Hai chị sao khéo bày đàng gió trăng.

Làm người phải giữ năm hằng,

Em người quân-tử phải rằng tiểu-nhân?

Hai chị nghe nói hổ thầm,

Trở về suy nghĩ lương tâm bàng-hoàng.

Tưởng xong ta đặng lấy chàng,

Nào hay chàng lại chẳng màng đến ta.

Nhái chàng lòng những xót xa,

Bèn vào bệ ngọc tâu qua phụ-hoàng.

Trước sau mọi nỗi bày tàng,

Tôi về chầu lịnh Ngọc-hoàng vua cha.

Vợ tôi thì lại ở nhà,

Tôi về vắng mặt nàng đà mất đi.

Kiếm tìm khắp hết tứ vi64,

Vợ tôi mất biệt thiệt thì khó toan.

Hồ-vương mẫu-hậu kinh mang,

Khôn cùng kêu khóc thở than thảm phiền.

Nhái chàng đặt gối tâu quì,

Tôi xin tầm kiếm dưới miền Âm-ty.

Biệt từ chàng mới ra đi,

Giang-hà rạch nước xuống thì Diêm-la.

Lướt vào trước điện tâu qua,

Vợ tôi dương-thế tên là Kiển-Tiên.

Thác oan chẳng rõ căn nguyên,

Dám xin Diêm-chúa công miêng hải hà65?

Diêm-vương thôi mới xem qua,

Ta chào Thái-tử đàng xa tới rày?

Kiển-Tiên chẳng có ngục nầy,

Thái-tử mau khá thứ hai tầm nàng.

Nhái chàng bái tạ đền vàng,

Lui ra lòng luống đoạn tràng khó khuây.

Xảy nghe khóc kể vang dầy,

Tội nhơn trong ngục dẫy đầy thiếu chi.

Nhái chàng bước đến tức thì,

Bèn hỏi chủ ngục tội gì cầm đây.

Quỉ rằng: Thứ nhứt cửa đây,

Thầy chùa bà vãi cầm đây đời đời.

Giã tu dối thế bày lời,

Bá-gia phụng cúng tiền thời luôn luôn.

Lại bày đúc phật đúc chuông,

Xin nhiều làm ít giấu luôn tiêu xài.

Chàng rằng: Tội ấy đáng thay,

Trốn xâu lậu thuế lòng nay gian tà.

Kiếm tìm chẳng thấy bước ra,

Thứ hai đến đó kiếm mà có không.

Đến nơi bước tới sân rồng,

Diêm-vương xem thấy mừng lòng hỏi han.

Việc chi Thái-tử băng ngàn,

Công tử hà sự phân tàng cớ duyên?

Chàng rằng: Tầm vợ Kiển-Tiên,

Con vua Hồ-Đế ở miền dương-gian.

Thây thi biệt mất khó tàng,

Kiếm tìm khắp hết dương-gian thấy nào.

E khi sa giếng té hào,

Thây thi dấu mất hồn vào diêm-la.

Diêm-vương thôi mới bày lời,

Trong bộ chẳng có thật thời khó tra.

Thái-tử mà chẳng tin ta,

Cho vào ngục thất xem qua hãn tàng.

Chàng bèn vào chốn ngục đàng,

Thấy tù bị kẹp than van đất trời.

Chàng hỏi chủ ngục một lời,

Tội chi khảo kẹp phân thời căn đo.

Quỉ rằng: Ngục lớn gông to,

Giam cầm thầy bóng giả66 đồ dối gian.

Thấy người tật bịnh tai nàn,

Dối rằng thần thánh đi đàng vương mang.

Đòi lễ gà vịt rộn ràng,

Không tiền lo chạy giết oan thú cầm.

Thật là gian trá chi tâm,

Thác chịu hành phạt giam cầm rục xương.

Nhái chàng nghe nói phân tường,

Tội hành đã đáng thật phường dối gian,

Bèn vào từ tạ bệ vàng,

Thứ ba đến đó tầm nàng có chăng.

Ra đi giọt lệ không ngăn,

Kiển-Tiên em hỡi hay chăng nỗi nầy.

Thứ ba đến cửa vào rày,

Chàng bèn quì trước chương đài diêm-la.

Diêm quân mừng rỡ hỏi qua,

Chẳng hay Thái-tử xuống mà việc chi?

Nhái chàng bèn tấu vân vi,

Tôi đi tìm vợ tên thì Kiển-Tiên.

Biệt thây chẳng rõ cớ duyên,

Dám xin Diêm chúa truy nguyên cho tàng!

Diêm-vương truyền lịnh vội vàng,

Mau mau tra sổ tìm nàng Kiển-Tiên.

Phán quan xem bộ tâu liền,

Cửa nầy chẳng có Kiển-Tiên đâu là.

Vua rằng vào ngục xem qua,

Kẻo e Thái-tử lòng còn nghi nan.

Nhái chàng vào ngục xem tàng,

Thấy tù trăn trói muôn ngàn khóc la.

Chặt đầu mổ bụng lột da,

Lấy kềm kéo lưỡi máu ra dầm dề.

Bầm to bầm nhỏ chỉn ghê,

Tội chi mà rất nặng nề thể ni.

Chủ ngục phân lại vân vi,

Nó ở dương thế vậy thì nói gian.

Hung dữ chửi mắng dọc ngang,

Bán dầu pha nước67 lời ngoan dụ người.

Gạt đặng rồi lại chê cười,

Đong lưng đo thiếu lòng thời gian ngoan.

Tù nhơn trong ngục dư ngàn,

Hơi nào mà kể những đàng bất minh.

Nhái chàng vào chốn đơn đình,

Tạ từ Diêm-chúa thượng trình thứ tư.

Gian nan lao khổ dễ từ,

Qua cầu trăm nhịp thiềm-thừ vào ra.

Nhớ nàng chua xót lòng ta,

Nào khi hội ngộ vào ra vui vầy.

Thứ tư nay đã tới đây,

Vào tâu Diêm-chúa tỏ bày sự ta.

Diêm-vương bắc mặt68 ngó ra,

Chào rằng Thái-tử đến ta việc gì?

Nhái chàng đặt gối tâu quì,

Tôi đi tìm vợ tên thì Kiển-Tiên.

Nhơn sao chẳng rõ căn nguyên,

Xác hồn mất biệt lòng phiền xiết bao.

Mong ơn Diêm-chúa lẽ nào,

Tra coi hồn phách có vào đây chăng?

Diêm-vương thôi mới phán rằng,

Phán quan tra bộ có chăng tên nàng?

Phán quan dở bộ xem tàng,

Tâu rằng tên ấy rõ ràng vốn không.

Diêm-vương thôi mới tỏ lòng,

Thái-tử69 vào ngục ngõ hòng xét tra.

Nhái chàng vội vã bước ra,

Vào nơi ngục thất xem mà dường bao.

Thấy tù kêu khóc lao xao,

Hỏi rằng: Hà tội giam vào nơi đây?

Thưa rằng: Đạo tặc lũ nầy,

Đâm heo thuốc chó tà tây đốt nhà.

Ngày nay phải đọa Diêm-la,

Hành cho mạt kiếp gông kia đời đời.

Nhái chàng dạo khắp các nơi,

Kiếm tìm chẳng đặng chàng thời bước ra.

Vào đền từ tạ Diêm-la,

Thứ năm đến đó đặng ta kiếm tầm.

Nhái chàng thôi mới xăm xăm,

Bỗng đâu đã tới thứ năm Long-đình.

Diêm-vương chào hỏi phân minh,

Chẳng hay Thái-tử lộ trình việc chi?

Nhái chàng vội vã tâu quì,

Kiển-Tiên thật vợ thác đi mất hồn.

Nên tôi mới đến ngục môn,

Chẳng hay tên ấy xác hồn có đây?

Diêm-vương phán trước kim giai,

Xét coi tên ấy có rày hay không.

Phán quan tâu trước bệ rồng,

Kiển-Tiên tên ấy vốn không ngục nầy.

Vua rằng: Thái-tử vào ngay,

Ngục trung tìm kiếm coi rày có không.

Nhái chàng tìm khắp tây đông,

Kiển-Tiên chẳng thấy trong lòng buồn thay.

Thấy tù than khóc kể bày,

Hỏi rằng khảo kẹp hành hài tội chi?

Quỉ rằng: Phụ nữ gian phi,

Xưa ở trên thế nó thì lấy trai.

Chê chồng ham sắc tham tài,

Lại thêm những tội phá thai cãi trời.

Hiếp chồng mắng chửi tơi bời,

Mai dong miệng lưỡi hại người chia tay.

Nên nay mắc đọa Diêm-Đài,

Bị cưa bị xẻ làm hai nấu dầu.

Nhái chàng trở lại thảm sầu,

Tạ từ Diêm-chúa trong lầu bước ra.

Không cùng than thở xót xa,

Kiển-Tiên em hỡi lòng qua rã rời.

Thứ sáu đã đi đến nơi,

Bước vào trước điện chào thời Diêm quân.

Diêm-vương xem thấy lòng mừng,

Hỏi rằng: Thái-tử đến phân việc gì?

Nhái chàng trước điện tâu quì,

Tôi đi tìm vợ tên thì Kiển-Tiên.

Tức thì hồn xác mất nguyên,

Tôi đà tìm kiếm khắp miền dương-gian.

Biết tin thật khó liệu toan,

Chẳng hay nàng có ẩn tàng ngục ni?

Vua truyền xem bộ tức thì,

Phán quan dò bộ bèn quì tâu qua.

Tôi xem kỹ lưởng kia là,

Kiển-Tiên công-nữ thật là vốn không.

Vua rằng: Thái-tử an lòng,

Vào nơi ngục thất xem trong xét ngoài.

Kẻo lòng Thái tử nghi rày

Ta không hẹp bụng giấu ngài làm chi

Nhái chàng vào ngục tức thì

Thấy lũ thầy bói đem đi hành hình

Mổ gan móc mắt quá kinh,

Hỏi rằng: Hà tội hành hình dữ thay?

Quỉ rằng: Lũ nó chẳng ngay,

Khi ở dương thế nó hay gạt người.

Hại cho chồng vợ đôi nơi,

Đặt điều nói dối làm người đảo điên.

Làm cho hao tốn hao tiền,

Mạo tên thần thánh phật tiên bắt người.

Ngục nầy giam cố mãn đời,

Hành cho mạt kiếp tội thời dư muôn.

Nhái chàng giọt lụy nhỏ tuôn,

Tìm không thấy vợ lòng buồn trở ra.

Vào đền bái tạ Diêm- la,

Đến cửa thứ bảy đặng ta tầm nàng.

Ra đi lòng luống đoạn tràng,

Bao giờ đặng gặp mặt nàng kẻo thương.

Trách ai dạ ở bất lương,

Làm cho chồng vợ đôi đường biệt ly.

Đường trường cách trở hiểm nguy,

Tới cửa thứ bảy chàng thì vào tâu.

Bước vào vừa gặp buổi chầu,

Vua chào: Thái-tử xuống hầu việc chi?

Nhái chàng tâu trước đơn-trì,

Vợ tôi mất xác thật thì ức oan.

Nàng là công chúa Hồ-bang,

Ở nơi dương-thế tên nàng Kiển-Tiên.

Diêm-vương thôi mới chỉ truyền,

Phán quan xem bộ kíp liền xét tra?

Phán quan xem bộ tâu qua,

Hồ-bang công-nữ thật là vốn không.

Đức vua phán trước bệ rồng,

Ta cho Thái-tử kiếm trong ngục đường.

Nhái chàng vào ngục xem tường,

Thấy tù kêu khóc thảm thương thay là.

Ngồi chông cưa xẻ xót xa,

Dầu sôi bắt buộc nhảy mà vào trong.

Nhái chàng mới hỏi đục trong,

Chẳng hay tù phạm thảy đồng tội chi?

Quỉ sứ mới tỏ vân vi,

Nam phụ lão ấu đều thì có đây.

Những tội học trò phản thầy,

Những đứa mãi quốc cầm đây gia hình.

Tội con bất hiếu quên tình,

Tội trên ở chẳng công bình tà tây.

Đàn bà lòng dạ đổi thay,

Tội như phản bạn mưu bày kế toan.

Ỷ khôn ỷ của ngang tàng,

Âm mưu chứng dối người mang lao hình.

Ngục nầy tội có muôn nghìn,

Kể sao cho hết sự tình gian ngoan.

Nhái chàng trong dạ chẳng an,

Kiển-Tiên em hởi ẩn tàng nơi nao?

Bước vào từ tạ giữa trào,

Qua cửa thứ tám thể nào cho thông.

Tới nơi vào chốn sân rồng,

Diêm-Vương xem thấy mừng lòng hỏi han.

Việc chi đến chốn Diêm-quan,

Dám xin Thái-tử phân tàng bạch minh?

Nhái chàng tâu trước đơn đình,

Nhơn tôi có việc ức tình xuống đây.

Việc mình sau trước phân ngay,

Vua truyền tra bộ coi ngay thể nào.

Phán quan quì tấu giữa trào,

Kiển-Tiên người chẳng có vào ngục ni.

Vua truyền mở ngục một khi,

Thái-tử vào kiếm kẻo nghi nọ nầy.

Nhái chàng vào chốn đông tây,

Kiển-Tiên chẳng gặp châu mày thở than.

Tù nhơn kêu khóc đã vang,

Ăn giòi uống máu70 gian nan rõ ràng.

Mổ ruột lấy dao mà bàn71,

Kẻ cưa người giã nát tan thân mình.

Dám xin chủ ngục trần tình,

Tội chi rất nặng hành hình khá thương.

Quỉ rằng: Ở thế bất lương,

Cướp trộm giựt của nhiều đường đa đoan.

Lấy của rồi lại giết oan,

Lấy của rồi lại sanh đàng hãm dâm.
Tiểu sự kết oan thù thâm,

Lại âm mưu độc chém đâm mạng người.

Ngục này hành tội đời đời,

Hơi đâu mà kể tội thời muôn trăm.

Nhái chàng giọt lụy khôn cầm,

Em ôi anh biết kiếm tầm phương nao.

Bước vào từ tạ Diêm-tào,

Đến cửa thứ chín lẽ nào cho hay.

Ra đi lòng những ai hoài,

Thứ chín đã đến cửa nầy nghiêm trang.

Chàng bèn vào chốn đền vàng,

Diêm-vương thôi mới hỏi han sự tình.

Ta chào Thái-tử thiên-đình,

Việc chi mà có hành trình Âm-quan.

Chàng rằng việc quả ưu oan,

Vợ tôi ở thế tên nàng Kiển-Tiên.

Vì đâu sanh sự chẳng hiền,

Xác hồn đều mất sạ duyên khó tàng.

Dám xin lượng rộng kim quan,

Xét xem sổ bộ tên nàng có không.

Phán quan tâu trước bệ rồng,

Tôi đà xem bộ vốn không cửa nầy.

Nhái chàng vội vã tâu bày,

Xin cho vào ngục xem nay thế nào.

Quỉ bèn dắt đến đại lao,

Thấy tù già trẻ lao xao nhộn nhàng.

Treo lên mổ ruột móc gan,

Nghiền xương tan nát thấy càng sợ thay.

Kẻ bị rọc miệng chặt tay,

Lóc từng miếng thịt loạn bày lớp xương.

Chàng rằng: Xem bắt thảm thương72,

Chẳng hay ở thế nó vương tội gì?

Quỉ rằng: Ngang ngược xiết chi,

Chẳng thương kẻ khó khinh khi người già.

Chưởi mưa chưởi gió kia là,

Chưởi trời chưởi đất thật là không kiêng.

Ấy là hoạch tội vu thiên,

Cho nên phải bị oan khiên thế nầy.

Chàng rằng: Tội ấy đáng thay,

Trở vào từ tạ chàng rày bước ra.

Đường trường ta kíp trải qua,

Thứ mười chẳng biết vậy mà có không!

Nhớ nàng lụy nhỏ ròng ròng,

Bao giờ thấy mặt kẻo lòng nhớ thương.

Thập điện trước mắt tỏ tường,

Tới nơi chàng mới vào bương73 điện tiền.

Vua chào Thái-tử Thiên-đình,

Dạo chơi nay có sự tình chi riêng.

Nhái chàng quì gối tâu liền,

Tôi đi tìm vợ Kiển-Tiên tên nàng.

Vốn là công-chúa Hồ-bang,

Xác hồn biệt mất khôn tàng bạch minh.

Dám xin lượng rộng Diêm-đình,

Tra cho tên ấy ngục hình có chăng?

Phán quan tra bộ thưa rằng,

Đã dò hai bộ hạ thăng74 không nàng.

Vua nghe Thái-tử nghi nan,

Truyền quỉ mở ngục cho chàng xem qua.

Ngục này tăm tối thay là,

Tạm giam nơi ấy sau mà đầu thai.

Tiền căn ơn ngãi mắc ai,

Đầu thai súc vật hôm mai đáp đền.

Hoặc là nghiệp báo cho nên,

Tiền căn nhơn quả đáp đền ưng oan.

Nhái chàng vào kiếm tứ phang,

Mà không gặp bạn chứa chan giọt sầu.

Kiển-Tiên em hỡi đi đâu,

Để qua luống những đớn đau lòng vàng.

Bước vào tâu dộng Diêm-quan,

Biết đâu mà kiếm đặng nàng Kiển-Tiên.

Trong mười cửa ngục khắp miền,

Kiếm tìm chẳng đặng căn nguyên khó tàng.

Diêm-vương thôi mới luận bàn,

Hoặc là nàng đã tầm đàng Thiên-Thai.

Chàng mau lên cõi Bồng Lai,

Hỏi thăm chư vị họa may gặp nàng.

Hoặc là về cõi Thiên-đàng,

Hỏi thăm Ngọc-Đế coi nàng nơi nao.

Nhái chàng từ tạ Diêm-tào,

Đằng vân giá võ về trào Thượng-thiên.

Nhái chàng về đến cõi tiên,

Hỏi thăm chẳng có qua miền Sum-la.

Hỏi thăm chẳng có trở ra,

Đến nơi Địa-Tạng Di-Đà hỏi thăm.

Hỏi cùng các chỗ biệt tăm,

Nhái chàng buồn thảm khôn cầm lụy sa.

Âu ta vào chốn chương tòa,

Hỏi thăm Ngọc-Đế sự ta dương-trần.

Bước vào bệ ngọc ân cần,

Tâu qua Hoàng-phụ xin phân cho tàng.

Vợ tôi ở chốn dương gian,

Con vua Hồ-Đế tên nàng Kiển-Tiên.

Biệt tin chẳng rõ căn duyên,

Tôi đà tầm kiếm khắp miền Diêm-la.

Cảnh Tiên cảnh Phật vào ra,

Nơi nơi chẳng có thật là khó toan.

Xin cha bày tỏ căn do,

Kẻo con tức tối lòng vàng xót xa.

Ngọc-Hoàng thôi mới thốt ra,

Vợ con nó ở nơi tòa Long-vương.

Việc kia con khá lo lường,

Thuở con về hội công đường thượng thiên.

Hai chị lòng dạ chẳng hiền,

Âm mưu quyết hại Kiển-Tiên suối vàng.

Thị-Thảo độc dược mưu toan,

Bỏ vào trong miếng trầu vàng cho ăn.

Kiển-Tiên việc nọ nào tàng,

Ăn vào sảng sốt mê man biết gì.

Hai chị thôi mới dắt đi,

Biển-đông đến đó tức thì ra tay.

Cầm dao cắt họng độc thay,

Giết rồi hai chị liệng thây giang-hà.

Hà-Bá tuần vãng xem qua,

Bắt nàng đem lại nạp mà Long-vương.

Bắt hồn đến đó hỏi tường,

Giấu nàng tại đó toan đương thử chàng.

Cha cho vương-sứ dan đàng75,

Biển đông đến đó gặp nàng chẳng sai.

Nhái chàng bái tạ kim-giai,

Theo cùng vương-sứ xuống rày Long- vương.

Một giờ đi tới tòa-chương,

Sứ bèn trao chiếu Long-vương xem tàng.

Long-vương truyền lịnh đòi nàng,

Đôi bên gặp mặt thiếp chàng mừng thay.

Cùng nhau kể nỗi đắng cay,

Đoạn trường chung thủy cạn bày căn duyên.

Nhái chàng tâu trước điện tiền,

Xin cho hồn xác Kiển-Tiên lai hoàn.

Hai tôi trở lại dương-gian,

Nợ nần rửa sạch sau toan trở về.

Long-vương y tấu một bề,

Bèn cho chồng vợ trở về dương-gian.

Vợ chồng bái tạ bệ vàng,

Giã từ liệt vị bá quan Long-đình.

Cùng nhau lướt dặm đăng trình,

Phút đâu đã tới đô-thành tòa-chương.

Bước vào quì lạy phụ-vương,

Vợ chồng phân lại mọi đường đắng cay.

Hồ-vương phán hỏi trước ngai,

Cớ sao con thác phân ngay cha tàng.

Nàng tâu hai chị mưu toan,

Giết tôi lại chốn biên-giang bỏ mình.

Hồ-vương nghe rõ sự tình,

Tức thì nổi trận lôi đình mắng vang.

Truyền quân kíp bắt hai nàng,

Giao cho chồng vợ liệu toan hành hình.

Kiển-Tiên quì tấu phân minh,

Đồng-bào cốt nhục chi tình khó toan.

Xin tha hai chị cho an,

Cùng chung khí huyết tương tàn sao nên.

Lòng con con giữ cho bền,

Chị dầu độc ác phú trên Phật Trời.

Hồ-vương chẳng khứng nhậm lời,

Truyền đem hai gã ra nơi pháp trường.

Cho voi nó xé chớ thương,

Tội kia độc ác phi thường chẳng oan.

Kiển-Tiên quì tấu phụ-hoàng,

Hại nhơn, nhơn hại là đàng xưa nay.

Hai chị tội chết đáng thay,

Nhưng nhờ vương-phụ đức dày rộng suy.

Tha chị toàn mạng một khi,

Khỏi điều cốt nhục phân ly tương tàn.

Hồ-vương nư giận chưa an,

Vội vàng hạ lịnh vén màn một khi.

Tội chết ta tha nó đi,

Tội sống hành phạt đây thì làm sao.

Đày cho biệt dạng xa ngàn,

Đày cho đói khát hổ lang ăn rày.

Quân nhơn vưng lịnh nội ngày,

Bắt hai chị em đem đày lâm san.

Chim kêu vượn hú trên ngàn,

Non cao chớn chở rừng toàn cây xanh.

Núi nầy có một Chằn Tinh,

Nó bắt hai ả vầy tình nợ dươn.

Quân về tâu trước bệ đơn,

Rằng hai nàng đã kết duơn Tinh Chằn.

Hồ-vương nghe tấu phân rằng,

Hai đứa nó lấy Tinh Chằn quá ghê.

E cho chúng nó trở về,

Thù kia oán nọ toan bề báo oan.

Nhái bèn tâu quì phụ-hoàng,

Xin cha cứ việc đền vàng nghỉ an.

Chằn-tinh loài thú rõ ràng,

Cha đừng lo sợ Tinh-Chằn rứa răng.

Chằn-Tinh nó có một thằng,

Dầu cho muôn vạn tinh chằn chẳng ghê.

Thuận thời nó ở sơn khê,

Nghịch thời con giết hồn về Âm-ty.

Hồ-vương phán trước trào nghi,

Trẫm nay tuổi tác vậy thì đã cao.

Tu hành nhờ lấy phước sau,

Nhường ngôi Phò-mã Hồ-trào trị dân.

Bá quan văn võ trào thần,

Đồng đưa Hồ-Đế am vân tu trì.

Phò-mã kế vị trị vì,

Phong quờn tôn tước khắp thì bá quan.

Lại bày yến tiệc ca xang,

Quân thần cộng lạc nhứt tràng hỉ hoan.

Ba năm tha thuế rõ ràng,

Lại truyền đại xá muôn ngàn tội nhơn.

Tân-vương Hoàng-hậu dời chơn,

Long-xa phụng-liễn lâm sơn đến rày.

Giảng-Dung xem thấy toại thay,

Mừng nay con trẻ gặp ngày vinh quang.

Đem nhau trở lại đền vàng,

Từ đây nước thạnh dân an đời đời.

Bổn môn soạn lại xem chơi,

Sửa sang thêm bớt tùy thời tùy câu76.

Cho hay thiện ác đáo đầu,

Người hầu xem đó dễ hầu làm gương.

Tuy là sự tích hoang đường,

Xong lễ hiếu nghĩa trung lương đủ đường.

Chúc cho nông sĩ công thương,

Văn minh tấn bước an khương đời đời.


thơ

HẬU CHÀNG NHÁI.


Chuyện xưa chép lại rõ ràng,

Sự tích Chàng-Nhái vẹn toàn thủy chung.

Quyển nầy nối hậu đến cùng,

Đủ điều tiết nghĩa hiếu trung đạo người.

Chàng-Nhái từ nối ngôi trời,

Dân an bốn biển nơi nơi thuận hòa.

Văn-quan võ-tướng trào-ca,

Thảy đều khâm phục gần xa an bình.

Tân-quân xưng hiệu Đức-Minh,

Kiển-Tiên chánh hậu tâm tình lành thay.

Ân ra khắp hết trong ngoài,

Lê dân trăm họ toại thay an nhàn.

Nhắc qua nơi chốn Lãnh-san,

Hai nàng Công-chúa cũng an chút tình.

Gá duyên cùng gã Chằn-Tinh,

Mình thời u cục thân hình lớn to.

Trán vồ đôi mắt tròn vo,

Nanh dài miệng rộng mũi to môi chì.

Lại thêm77 tài phép ai bì,

Non xanh núp ẩn ít khi ra đường.

Chằn-Tinh gá nghĩa tào khương,

Cùng hai Công-Chúa cang thường phu thê.

Hằng ngày bắt thịt đem về,

Cọp hùm tây tượng phải ghê tướng Chằn.

Từ ngày buộc chặc xích-thằng,

Hai nàng Công-chúa lòng hằng vui thay.

Ở ăn hơn bốn năm ngoài,

Thuận tình trên dưới chẳng hay rầy rà.

Nhứt-Kiều trổ nhụy khai hoa,

Sanh đặng nam-tử giống cha không cùng.

Gẫm thôi sự lạ vô chừng,

Bông nào trái nấy mới từng là đây.

Miệng to đầu lớn tay dài,

Nanh bén mắt lộ mặt mày nổi gân.

Nhị-Kiều thai nghén lần lần,

Sanh ra con gái trăm phần xấu xa.

Mắt tròn răng lộ đen da,

Mũi xẹp môi xệ thật là như yêu.

Chằn-Tinh mừng biết bao nhiêu,

Ẵm bồng hun hít có chiều quí thương.

Từ đây xuống núi thường thường,

Biến hình biến dạng ai tường âm hao.

Xóm làng bất kể nhà nào,

Thấy có con nít lén vào ngõ sau.

Ăn cắp quần áo chậu thau,

Lại lấy bánh sữa tóm thâu ra về.

Đem lên trên núi bộn bề,

Cho con ăn mặc rất xuê78 thay là.

Bánh trái cùng sữa đem ra,

Thức ăn đủ món vậy mà thiếu chi.

Nhứt-Kiều bèn tỏ vân-vi,

Chồng ta có nghĩa khác gì là ai.

Nhị-Kiều bèn tỏ vắn dài,

Xấu hình dạ tốt mới hay trên đời.

Chị em đàm luận khúc nôi,

Chằn-Tinh xuống núi kiếm nơi trộm đồ.

Nhứt-Kiều nhớ thuở trào-đô,

Chị em sang trọng ra vô cùng đền.

Tùy tùng thế-nữ đôi bên,

Thật là đúng bậc trước trên muôn người.

Bỡi mình xưa có dạ tư79,

Đoạt chồng lộ việc bây chừ khổ thân.

Nhị-Kiều nghe chị tỏ phân,

Rằng em xét lại căn-phần đôi ta.

Ở thì hang hố thẳm xa,

Chung quanh cây cỏ cùng là thú hoang.

Ngày nào đầu giắt trâm vàng,

Áo quần gấm nhiễu lụa hàng nhổm-nha80.

Sự này cớ đổi gây ra,

Phụ-vương yêu quí nghe mà Kiển-Tiên.

Nhớ càng đau đớn lòng phiền,

Làm sao ta rửa hận tiền cho xong.

Chị em đàm luận đục trong,

Ta chờ có dịp quyết không dung tình.

Rằng chồng ta có phép linh,

Lựa ngày thỏ-thẻ rồi mình tỏ phân.

Đốc người báo oán vẹn phần,

Thì là thỏa dạ chẳng cần nhọc lo.

Hai nàng đàm đạo nhỏ to,

Từ đây sẵn dạ dặn dò trước sau.

Đoạn này nhắc việc ở trào,

Tân-quân ngồi giữa ngôi cao phán rằng:

Các quan có việc chi chăng,

Khá tâu trẫm đặng hãn tàng phân minh?

Có quan Ngự-sử triều-đình,

Cúi đầu bẩm tấu trần tình âm-hao.

Rằng nghe chắc chắn sai nào,

Ở miền Tây Bắc lao-xao dân lành.

Từ trong chí những ngoài thành,

Thường ngày có một Tinh-Chằn rất hung.

Phép tà biến hóa vô cùng,

Ban ngày dám xuống thị-trung trộm đồ.

Nó bắt dê ngựa heo bò,

Áo quần cũng lấy hại cho dân tình.

Có khi thì thấy dạng hình,

Có khi chẳng thấy thình lình mất trâu.

Tưởng là đi lạc mất trâu,

Sau rình nghe rõ đuôi đầu chẳng ngoa.

Hình Chằn to lớn thay là,

Sức mạnh ghê gớm ai mà dám đương.

Mọi điều tâu giữa tòa chương,

Làm sao trừ khử an khương xóm làng.

Tân-quân nghe tấu rõ ràng,

Phán rằng như vậy thì Chằn lộng thay.

Chỉ truyền Đô-Đốc ra tay,

Cầm binh đến bắt về ngay trào đàng.

Đô-Đốc danh hiệu Hồ-Bang,

Vưng lịnh nai nịt vững vàng lên yên.

Khai thành giục ngựa huơi tiên81,

Dẫn theo quân mã một thiên bên mình.

Trọn ngày hăng hái tam binh,

Đến hướng Tây Bắc quyết tình trừ an.

Nói qua Chằn ở lâm-san,

Cùng hai Công-chúa luận bàn thực lương.

Thịt gạo phải sớm lo lường,

Bỡi vì gần hết liệu phương kiếm tầm.

Chằn-Tinh rằng chớ nhọc tâm,

Mai này xuống núi thịt đem về liền.

Cơm gạo mặc sức mà khiêng,

Lấy bao xuống chốn thị thiềng thiếu chi.

Hai nàng Công-chúa tường tri,

Như vầy mới khỏi lo nguy bọn mình.

Sáng ngày trời đã bình minh,

Chằn-Tinh xuống núi ẩn hình bắt trâu.

Xóm làng khắp cả đâu đâu,

Xúm nhau la lớn gạo trâu mất rồi.

Chằn-Tinh dời gót phản hồi,

Nhơn dân theo dấu gẫm thôi lạ lùng.

Bao gạo vốn nó không chân,

Cớ sao mà chạy trong rừng thế ni.

Trâu thì theo gạo mà đi,

Người đâu không thấy lạ kì lắm thay82?

Bao gạo nó cứ chạy hoài,

Nhơn dân theo đuổi hôm nay chật đàng.

Miệng thì la ó rền vang,

Làm cho Đô-Đốc chẳng tàng điều chi.

Kéo quân lướt đến tức thì,

Đô-Đốc thấy vậy lòng nghi vô cùng.

Quả là việc rất lạ lùng,

Bèn truyền quân sĩ tứ tung bao vòng.

Chằn-Tinh thấy chuyện không xong,

Muốn trở về núi nhưng lòng tiếc thay.

Lẽ nào của đã vào tay,

Bây giờ lại bỏ dạ nay không đành.

Thà là nhứt tử nhứt sanh,

Lấy cho đặng gạo non xanh đem về.

Dầu cho muôn tướng há ghê,

Một phen quyết trổ tài nghề đua tranh.

Chằn-Tinh hình hiện đành rành,

Nhơn dân xem thấy thất thanh chạy nhầu.

Hóa ra hình Chằn ba đầu,

Sáu tay quơ múa toan hầu làm hung.

Đô-Đốc thấy tướng lạ lùng,

Nhưng mà lòng dạ anh hùng chẳng nao.

Chằn-Tinh hình vóc lớn cao,

Chỉa ba tay thủ khác nào Dạ-Xoa.

Hào quang đôi mắt sáng lòa,

Nhăn nanh múa vuốt xem ra dị hình.

Đô-Đốc quyết lực chống kình,

Hươi tiên lướt mã truyền binh bao vòng.

Vội vàng tay quất ngựa hồng,

Nhắm Chằn xốc đến lướt xông đâm nhầu.

Chằn-Tinh há lại kiêng đâu,

Chỉa ba gạt đỡ trước sau lẹ làng.

Đô-Đốc đâm chém tứ phang,

Chằn-Tinh chống trả đôi đàng đua tranh.

Đánh thôi mão giáp tan tành,

Cát bay bụi lấp chẳng đành nhượng nhau.

Chằn-Tinh võ nghệ rất cao,

Sức còn hăng sức chẳng nao núng lòng.

Đô-Đốc tả đụt hữu xông,

Lực đà tổn lực thắng không đặng Chằn.

Truyền quân loạn xạ bốn phang,

Tên như mưa bấc bắn càn Chằn-Tinh.

Chằn-Tinh dạ chẳng hãi kinh,

Bao nhiêu tên bắn trúng mình dội ra.

Đô-Đốc khủng khiếp thay là,

Chằn-Tinh quái gỡ thịt da như đồng.

Ráng liều một trận thành công,

Nếu để thua nó oai phong không còn.

Chẳng dè sức đã hao mòn,

Chằn-Tinh lừa thế đâm lòn trúng vai.

Đô-Đốc thất vía hồn bay,

Tức thì vỗ ngựa chạy dài thoát thân.

Chằn-Tinh phép lạ muôn phần,

Hóa ra một vị Thiên-Thần trên mây.

Cầm búa nhắm xuống đánh ngay,

Đô-Đốc bị đánh nát thây chiến tràng.

Binh gia đều thảy vỡ tan,

Mạnh ai nấy chạy kiếm đàng lánh xa.

Nhơn dân từ nhỏ đến già,

Hồn bay phách lạc vô nhà bế môn.

Chằn-Tinh đắc thế thừa cơn,

Bắt thêm trâu, gạo lui chơn trở về.

Đến núi lương thực ê chề,

Hai nàng Công-chúa đề huề bước ra.

Lòng mừng chi xiết thay là,

Chằn-Tinh hơi mệt vào nhà nghỉ an.

Hai nàng bước lại hỏi han,

Cớ sao sắc diện của chàng không vui?

Chằn-Tinh thuật lại đầu đuôi,

Rằng nay gặp việc rất xui vô cùng83.

Hai em chưa rõ kiết hung,

Để anh nói lại thỉ chung cho tàng.

Anh đây xưa vốn Đại-Bàng84,

Dài công tu luyện hơn ngàn năm nay.

Thành người xinh đẹp lắm thay,

Trước anh phạm-tội cách vài mươi năm.

Phép tu cấm sự tà-dâm,

Bỡi anh chẳng cử lòng ham tư-tình.

Gặp nàng con gái đẹp xinh,

Anh ép trăng gió thỏa tình bướm ong.

Chẳng dè nàng phải mạng vong,

Tội kia trời tỏ lâm vòng luật thiêng.

Ngọc-Hoàng mới phạt anh liền,

Làm anh hình dạng chẳng tuyền như xưa.

Đặng mà chuộc tội cho vừa,

Hình thù ghê gớm phòng chừa tánh hung.

Từ khi chồng vợ chung cùng,

Đánh liều luật cấm chẳng tùng phép trên85.

Sớm mai dạo chợ xuống lên,

Nhơn dân trông thấy la rềnh tứ phương.

Bỗng có một tướng trào-đường,

Đem binh vây phủ cự đương nửa ngày.

Anh bèn hóa phép trên mây,

Thiên-thần cầm búa đánh ngay tướng trào.

Xương tan thịt nát còn nào,

Sát sanh phạm tội Thiên tào nan dung.

Nghe qua mọi sự thủy chung,

Công-chúa bèn nói anh hùng lo chi.

Chàng có lắm phép cao-kỳ,

Đã là hào-kiệt sá chi luật trời.

Chằn-Tinh rằng: Bớ em ôi,

Bỡi em không rõ khúc nôi nói càn.

Luật nào bằng luật Ngọc-Hoàng,

Chạy đâu chẳng khỏi vô phang lánh nàn.

Nhưng vì việc đã dỡ-dang86,

Anh đà trót lỡ chẳng màng tồn vong.

Nước đổ hốt lại sao xong,

Sát sanh tội nặng chẳng mong chữa mình.

Anh đây bao quản tử-sinh,

Hai em e phải lụy mình mà thôi.

Công-chúa rằng hỡi chàng ôi,

Đừng lo chi đến hai tôi rộn lòng.

Miễn là cừu trả đặng xong,

Dầu cho muôn thác cũng không nại hà.

Chằn-Tinh nghe vợ phân qua,

Hỏi rằng hiền phụ thù mà với ai.

Bấy lâu chẳng nói anh hay,

Phòng anh trổ lực ra tay báo hờn?

Công-chúa bày tỏ thiệt hơn,

Hai em xưa ở lầu son trào-đình.

Tam-cung lục-viện kiêng mình,

Nào ai sang-trọng hiển-vinh cho bằng.

Em út độc hiểm vô ngằn,

Kiển-Tiên tên nó dạ hằng ghét ghen.

Tâu cùng vương-phụ nhiều phen,

Bỡi chồng xinh đẹp lòng bèn nghi nan.

Nó phao hai đứa lăng-loàn,

Muốn giựt chồng nó tính bàn kế mưu.

Hai tôi nào có lòng tư,

Vì nó phao-phản thiệt hư ai tường.

Nó tâu cùng lịnh phụ-vương,

Vua cha nổi giận chẳng lường chẳng suy87.

Nghe lời cha chẳng cạn tri,

Hạ lịnh làm tội vậy thì hai tôi.

Đày lên trên chốn ni rồi,

Kiển-Tiên thỏa dạ gẫm thôi đại thù.

Phụ-vương nay lại đi tu,

Nhường ngôi chồng nó kể từ xưa nay.

Chồng nó chàng tưởng là ai,

Vốn thật loài nhái có tài phép cao.

Biến ra người thế khác nào,

Hình dung đẹp-đẽ tại trào rõ đâu.

Chị em tôi những ước-ao,

Xin chàng trổ lực anh-hào báo oan.

Kiển-Tiên nay đặng cao sang,

Chánh-cung chức ấy lại càng ỷ thay.

Khinh-khi ngạo-báng thường ngày,

Nghe đồn thôi đã điếc tai bể đầu.

Khi mình quân ở núi cao,

Theo loài cầm thú khác nào dã-man.

Tưởng là chồng được cao-sang,

Lấy chồng ở chốn núi hoang rừng già.

Chằn-Tinh nghe vợ phân qua,

Trong lòng phát giận hét la vang lừng.

Khen cho ỷ-thị quá chừng,

Khinh ta là kẻ ở rừng ở non.

Giết bây mới thỏa lòng son,

Kẻo mà lớn-lối chẳng còn kiêng ta.

Toại lòng Công-Chúa thay là,

Chị em bàn luận kế đà gần nên.

Đoạn nầy nói việc vua trên,

Giữa trào đang ngự đôi bên công-thần.

Luận bàn những việc binh quân,

Mỏi chờ Đô-Đốc đi gần nửa trăng.

Hơn thua sao chẳng tin rằng88,

Bặt vô âm tín trào thần ngại lo.

Bỗng đâu quân sĩ bước vô,

Cúi đầu tâu rõ nguyên do trận tiền.

Chằn-Tinh phép tắc linh thiêng,

Đô-Đốc tử tại trận tiền nát thân.

Vua nghe quân báo ân-cần,

Tức thì nổi giận muôn phần phán ra.

Chằn-Tinh dầu nó tài ba,

Cớ sao lại chẳng kiêng ta thế nầy.

Vậy ta chừ phải ra tay,

Nếu không nó sẽ có ngày làm hung.

Bãi trào tức tốc về cung,

Phân cùng Chánh-hậu thủy-chung mọi bề.

Kiển-Tìên nước mắt dầm-dề,

Tâu rằng vua chớ toan bề bỏ ngai.

Thần thiếp nay lỡ có thai,

Trào-đình vắng mặt một ngày hoài trông.

Vua rằng Chánh hậu an lòng,

Chằn-Tinh tài phép vốn không bằng mình.

Nửa ngày dẹp đặng loài tinh,

Tức thì trở lại trào đình không lâu.

Đôi hàng giọt lệ thâm bâu,

Nhớ khi vắng mặt ở trào ngày xưa.

Hai chị lòng ác chẳng vừa,

Vắng phu giết phụ dám thừa mưu cơ.

Bây giờ hai chị còn thù,

Chằn-Tinh kết nghĩa kể từ xưa nay.

Đến nơi nếu phải lỡ tay,

Thì chắc hai chị giết rày chẳng dung.

Vua rằng an dạ Chánh-cung,

Tài chi yêu quỉ sánh cùng ta đây.

Đoạn vua nai nịt an bài,

Chẳng cần binh mã theo rày làm chi.

Đằng vân giá võ tức thì,

Đến miền Tây, Bắc giải nguy dân lành.

Vua bèn han hỏi ngọn ngành,

Do hà chẳng thấy đành rành Chằn-Tinh?

Nhơn dân bèn tỏ phân minh,

Người muốn đến đó nạp mình hay sao?

Chẳng hay người ở nơi nào,

Đến đây thử cọp mà vào đàm luông89.

Bỡi vì dân sự chẳng tường,

Thấy vua họ tưởng tầm thường nhơn gian.

Vua rằng khó nỗi phân tàng,

Ta đến trừ dữ cứu nàn sanh linh.

Nhơn dân nghe hãn chơn tình,

Rằng Chằn trên núi ẩn mình lâu nay.

Nó giết Đô-Đốc thác ngay,

Rồi nó chẳng xuống đến đây lần nào.

Nếu muốn gặp nó cho mau,

Noi theo đường nhỏ non cao mà tìm.

Vua nghe hóa phép biến liền,

Đằng vân lên núi khỏi triền cách xa.

Nhơn dân thấy vậy khen la,

Phép mầu như thế họa là trừ an.

Vua bèn hạ xuống lâm san,

Lần lần gần đến miệng hang Tinh Chằn.

Vua bèn đứng trước hét rằng,

Chằn-Tinh tua khá đầu hàng cho mau.

Chằn-Tinh nghe rõ âm hao,

Bước ra xem lại trước sau hãn tàng.

Chiếu cặp thần nhãn rõ ràng,

Thấy vua Chằn rõ ấu hoàng thượng thiên.

Trong lòng hồi hộp muốn kiêng,

Chẳng dè hai vợ phút liền bước ra.

Chị em bàn luận kia là,

Chồng mình tài phép ai mà hơn qua.

Chằn muốn phục quỵ cầu tha,

Biết mình khó nỗi đánh mà hơn vua.

Trăm phần đà muốn chịu thua,

Nhưng thấy hai vợ gượng đua tranh tài.

Vua rằng chẳng chịu bó tay,

Tội người bằng núi sao nay chưa hàng?

Chằn-Tinh rằng: Chớ khoe khoang,

Quyết liều một trận đá vàng thấp cao.

Vua nghe nổi giận bào hao90,

Chằn-Tinh quỉ mị cớ nào đại ngôn?

Chằn rằng chớ có bôn chôn,

Ta yêu mi nhái ai hơn ai hèn.

Vua liền gươm báu đưa lên,

Nhắm Chằn chém xuống rất nên nguy nàn.

Chằn-Tinh đôi mắt rất ngoan,

Né hữu né tả rồi tràn bộ ngang.

Chỉa ba xốc đến đâm càng,

Hai bên đối thủ lẹ làng lắm thay.

Đánh thôi cây ngã đá bay,

Chằn-Tinh liệu thế đánh tay không bì.

Bèn hóa sư tử tức thì,

Muôn ngàn áp đến tứ vi bao vòng.

Nhăn nanh múa vuốt xừng lông,

Vua cười ha hả khéo hòng nhác ta.

Vua liền bắt ấn chỉ ra,

Muôn ngàn sư tử biến mà hết trơn.

Chằn-Tinh lòng muốn cho hơn,

Hóa phép nguy hiểm băng sơn rầm rầm.

Vua bèn niệm chú lâm-râm,

Tức thì yên tịnh sơn lâm như thường.

Chằn-Tinh cũng chẳng chịu nhường,

Hóa ra khắp cả bốn phương lửa hồng.

Quyết thiêu vua thác cho xong,

Chẳng dè vua lại chẳng lòng hãi-kinh.

Bắt ấn niệm chú rất linh,

Nước tràn lửa tắt tài tình lắm thay.

Phen nầy vua mới ra tay,

Truy hồn tróc quái phép hay lạ lùng.

Chằn đương diệu võ làm lung,

Hô thâu vua hét vang lừng rất oai.

Chằn-Tinh cúm cẳng cúm tay,

Đứng như tượng gỗ long lay đặng nào.

Vua rằng: Hết ỷ tài cao,

Phen nầy chớ trách ta sao chẳng vì.

Đoạn vua bước đến tức thì,

Rút gươm toan chém tiếc chi loài Chằn.

Hai nàng Công-chúa đến càn,

Cúi đầu quì khóc xin khoan hại chồng.

Bốn hàng nước mắt ròng-ròng,

Mong nhờ ơn huệ rộng lòng thứ dung.

Vì nhau xưa ở tại cung,

Cũng là vai chị trào trung những hồi.

Nhứt phen xin thứ chồng tôi,

Nếu mà giết thác thảm thôi vô ngằn,

Hai con thơ ấu của Chằn,

Lấy chi nuôi dưỡng lại càng khổ nguy.

Thân Chằn nào có tiếc chi,

Xin thương con dại hôm ni dung tình.

Rừng cao nếu ở một mình,

Bị loài thú dữ tồn sinh đặng nào.

Có Chằn bảo hộ trước sau,

Cho qua ngày tháng dám đâu binh Chằn.

Vua nghe vuốt giận nghĩ rằng,

Dầu sao cũng nghĩa xích-thằng phu thê.

Thương chồng giọt lệ dầm dề,

Ấy là vẹn đạo trọn bề phụ nhơn.

Riêng mình cũng rộng lòng son,

Thế nào cũng chị tiếng còn về sau.

Vợ mình Chánh-hậu tại trào,

Vẫn là em ruột lẽ nào không thương.

Xét suy thấu đáo cạn tường,

Tha cho làm phước tào khương hiệp hòa.

Vua bèn lời chánh phân qua,

Ta thứ cho đó vị mà Chánh-cung91.

Bảo Chằn sắp đến ngày cùng,

Cải ác tùng thiện ta dung phen nầy.

Nếu mà làm quấy ta hay,

Khó xin đặng nữa hôm nay nhớ lời.

Vua bèn thâu phép xong rồi,

Chằn-Tinh cử động như hồi khi xưa.

Chằn bèn quì gối liền thưa,

Cám ơn rộng lượng quyết chừa từ đây92.

Vua dặn mọi lẽ an bày,

Rồi liền hóa phép lên mây đi liền.

Đoạn nầy vua trở về thiềng,

Hoàng-hậu chực đón nỗi niềm hỏi qua.

Vua bèn tỏ hết kia là,

Bỡi vị tình hậu trẫm tha giết Chằn.

Trong triều tướng võ quan văn,

Thảy đều xúm lại hỏi han sự tình.

Vua cũng lời thật phân minh,

Các quan cả thảy triều-đình khen thay.

Từ đây an ổn trong ngoài,

Chằn không léo hánh phá thì lê dân.

Đức vua thỏa dạ trăm phần,

Khỏi lo bá tánh xa gần thiết tha.

Nhằm ngày mười sáu tháng ba,

Vua vào cung cấm đặng mà nghĩ an.

Vua nằm yên giấc long sàng.

Nửa đêm vua lại la khan “vưng lời”.

Chánh-hậu bèn bước đến nơi,

Hỏi rằng vua mớ “vưng lời” nghĩa chi?

Tỉnh ra vua những sầu bi,

Nhìn tường Chánh-hậu lâm ly lụy tràn.

Kiển-Tiên chi xiết kinh-hoàng,

Việc chi xin khá phân tàng thiếp hay?

Vua bèn dựa ngửa thở dài,

Rằng hậu chưa rõ trẫm bày căn nguyên.

Bỡi vì có lịnh Hoàng-thiên,

Sứ trời lai đáo tại thiềng canh ba.

Mách rằng có lịnh vua cha,

Vốn là Ngọc-Đế cho mà trẫm hay.

Bỡi vì có hội lớn thay,

Đủ mặt tiên thánh Đông, Tây khắp trời.

Cũng có chư Phật đến nơi,

Tam-đồng công-giáo đều mời đáo lai.

Thích-Ca Bồ-Tát Như-Lai,

Quan-Âm Phật-Tổ đến ngày cũng đi.

Ngàn năm mở hội một khi,

Phải cho đủ mặt thiếu thì đặng đâu.

Bát Tiên còn phải đến chầu,

Thế nào trẫm cũng phải hầu bên cha.

Thật là lòng trẫm xót xa,

Bỏ trào dương-thế ai mà chuyên lo.

Chánh-cung nghe rõ nguyên do,

Đôi hàng lệ chảy khiến cho sầu phiền.

Rằng thiếp lắm sự đảo điên,

Cho nên việc đến liền-liền thế ni.

Nếu mà vua bỏ trào-nghi,

Sợ e thần thiếp gian nguy không cùng.

Phần thì thai nghén nửa chừng,

Ra vào hiu quạnh tư cung cô phòng.

Từ đây ngày đợi đêm mong,

Hai phang chia cách Tây-Đông vợ chồng.

Vua nghe đau xót bấy lòng,

Rằng: Bậu chớ khá mỏi trông sanh phiền.

Trẫm đi thì trẫm về liền,

Lâu mau gì cũng hồi thiềng dương-gian.

Chớ nào dám cãi phụ-hoàng,

Sứ-thần đã triệu khó toan lánh mình.

Ngày nay trẫm đến Thiên-đình,

Đừng cho văn võ thấu minh việc nầy.

Hậu phân rằng trẫm còn đây,

Nhưng vì có bịnh dán bài cấm cung.

Nay xa sau cũng hiệp cùng,

Xin hậu vuốt dạ trào trung an lòng.

Phân tay giọt lụy ròng-ròng,

Kẻ đi người ở sao không ưu phiền.

Đức vua hóa phép bay liền,

Nương chòm mây bạc thượng-thiên chầu trời.

Đức vua từ giã đi rồi,

Chánh-cung buồn bã đứng ngồi không yên.

Bá quan lớn nhỏ tại thiền,

Xôn xao bàn luận liền liền dứt đâu.

Cớ nào vua chẳng lâm trào,

Hay là có bịnh ốm đau mới là.

Đại-thần quan lão thiết-tha,

Đồng nhau đến viếng xem mà việc chi.

Đến cung xem rõ một khi,

Trên bài long-phụng cấm thì viếng thăm.

Các quan trong dạ buồn thầm,

Vua đau cung cấm biết làm sao đây.

Bèn kêu quan-hoạn hỏi ngay,

Bịnh tình nặng nhẹ hôm nay thể nào.

Hoạn rằng không rõ âm-hao,

Chính tôi cũng chẳng đặng vào cấm cung.

Một mình Chánh-hậu trào trung,

Hôm mai săn-sóc cữu-trùng mà thôi.

Các quan luống những bồi-hồi,

Trở về áo não đứng ngồi không an.

Thái-sư ở tại trào đàng,

Tên là Vương-Bội tà-gian thay lòng.

Bấy lâu ai rõ đục trong,

Xảo trá đúng bực lại mong việc tà.

Tính toan những việc cao xa,

Ỷ mình quyền thế trào-ca ai bì.

Sang giàu lại lắm kiếng vi93,

Lăm-le phế-đế trào nghi đoạt quyền.

Song vì Vương-Bội còn kiêng,

Bỡi vua tài phép linh-thiêng vô cùng.

Nay nghe vua bịnh tư cung,

Thì lòng toan tính vẫy vùng đặng cơ.

Xét rằng văn-võ trào-đô,

Thảy đều khiếp-nhược tay xô cũng nhào.

Mấy hôm vua chẳng lâm trào,

Bị Chằn vua phải ốm đau lạ gì.

Chằn-Tinh tài phép ai bì,

Chắc vua bại trận trong khi tranh hùng.

Sợ cho văn-võ trào trung,

Chê cười nên nói thứ dung mạng Chằn.

Muốn cho vẹn-vẽ mọi đàng,

Ta mau lên núi hỏi han toại thay.

Nhưng phải dọ hỏi hôm nay,

Thử xem vua chắc bịnh hay giả đò.

Vương-Bội gian nịnh ai dò,

Liền kêu thế-nữ nguyên do truyền rằng:

Khá mau cung cấm liền sang,

Làm quen dọ hỏi mọi đàng tư cung.

Thế nữ y lịnh dời chưn,

Qua gặp bạn gái chào mừng cười mơn.

Rằng không có rảnh tay chơn,

Đặng đến trò chuyện thiệt hơn giải sầu.

Hôm nay may mắn làm sao,

Thái-sư dự tiệc ngoài trào rất xa.

Nhớ em chị mới sang qua,

Đặng dịp thăm viếng kẻo mà hoài ai.

Đáp rằng: Từ bấy lâu nay,

Mắc theo Chánh-hậu không ngày rảnh-rang.

Bỡi tôi trung hậu lẹ-làng,

Cho nên Chánh-hậu lòng càng mến yêu.

Hầu như từ sớm đến chiều,

Tay trong tớ ruột94 việc nhiều lăng xăng.

Rằng em có phước vô ngần,

Được bà tin cậy ai bằng thế ni.

Dầu cho quan-lớn trào nghi,

Nào rõ việc kín hơn thì em đâu.

Nghe qua lời phỉnh biết nào,

Rằng chị đoán trúng âm-hao vô cùng.

Dẫu cho việc kín trào-trung,

Em cũng thấu đáo thỉ-chung đuôi đầu.

Chánh-hậu tin cậy làm sao,

Chẳng hề giấu-giếm việc nào cùng đây.

Đáp rằng chị rất khen thay,

Nhưng có một chuyện em nay biết nào.

Rằng vua hiện tại đang đau,

Chị chắc không có em đâu rõ tình.

Rằng chị sao khéo khoe mình,

Em đây hiểu trước hắc-minh lâu rồi.

Nói ra chị khá nhẹm lời95,

Nếu mà bại lộ tội tôi nặng nề.

Em sao nghi ngại mọi bề,

Em tin bụng chị chẳng hề hở môi.

Rằng vua nay đã chầu trời,

Nên dặn Chánh-hậu kiếm lời nói đau.

Đặng người tưởng ở tại trào,

Khỏi lo kẻ nịnh xôn-xao hoành-hành.

Chánh-hậu thương em lòng thành,

Nên mới tỏ thật ngọn ngành em hay.

Cấm cung hơn mấy bữa rày,

Ấy là kế của vua bày gạt quan96.

Nghe đà tỏ rõ mọi đàng,

Kiếu em trở lại dinh lang kịp giờ.

Bỡi chưng vô ý nào ngờ,

Thế-nữ niên-thiếu ấu-thơ biết gì.

Trách mình chẳng cạn xét suy,

Tin chi những đứa tì-nhi, con đòi.

Thái-sư từ bảo đi rồi,

Trong lòng nóng nảy đứng ngồi không an.

Thế-nữ bước đến vội vàng,

Thái-sư mừng rỡ hỏi han ân cần.

Thế-nữ bèn mới tố trần,

Tôi đà dọ hỏi đã phân minh rồi.

Đức vua đã lén chầu trời,

Muốn giấu khanh-tể kiếm lời rằng đau.

Cấm cung chẳng đặng ra vào,

Cho khỏi bá-tánh lao xao nhộn nhàng.

Vài ngày trở lại trào-đàng,

Tôi đà dọ chắc kỹ cang vô cùng.

Thái-sư nghe nói thỉ chung,

Lấy bạc ban thưởng riêng mừng lắm thay.

Thái-sư mới tính thế nầy,

Ta mau lên núi báo lai cùng Chằn.

Kịp ngày xuống chốn trào đàng,

Phòng toan cướp giựt ngai vàng lên ngôi.

Mọi điều sắp đặt xong rồi,

Sửa sang tìm đến vậy thời lâm san.

Đường đi trót hai ngày tràng,

Non cao chớn chở hố hang gập ghình.

Thái-sư nào nại công trình,

Bao nhiêu cực nhọc hiển vinh có ngày.

Nhắc lại Chằn-Tinh lúc này,

Bèn cùng hai vợ hôm nay luận bàn.

Gạo thịt rày đã khô khan,

Thú rừng trốn hết nguy nan thay là.

Muốn xuống đoạt của người ta,

E vua hay đặng chẳng tha tội hình.

Vợ chồng luống những buồn tình,

Bỗng nghe có tiếng thình lình trước sân.

Chằn-Tinh đứng dậy vội vàng,

Bước ra xem lại rõ ràng hỏi qua.

Chẳng hay việc chi kêu ta,

Xin người phân rõ gần xa hãn tường.

Thái-Sư bèn nói mọi đường,

Ta nay vốn ở tòa chương đại thần.

Đến đây bỡi có việc cần,

Nếu người giúp sức được phần ấm no.

Chằn-Tinh nghe rõ nguyên do,

Mời vào hang nội để cho luận bàn.

Thái-Sư nối gót vội vàng,

Vô trong thăm thẳm vốn hang của Chằn.

Mùi tanh hôi thúi vô ngần,

Xương các loài vật chất bằng đống rơm.

Xem qua mà phải gớm nhờm,

Sọ người sọ thú có hơn muôn ngàn.

Thái-Sư qua khỏi miệng hang,

Vào trong thăm thẳm lại càng thêm ghê.

Ngó qua ngó lại bốn bề,

Thấy những lá đá97 lại kê thành tường.

Chằn-Tinh bèn mới hỏi tường,

Chẳng hay người đến lo lường điều chi.

Khá cho tôi đặng tường tri,

Nếu mà giúp đặng tiếc gì chút công?

Thái-Sư bèn nói đục trong,

Rằng hay Thánh-thượng vẫn không tại trào.

Xưa kia nghe rõ âm hao,

Người bị vua đánh trước sau rõ ràng.

Đặng dịp vua chầu Ngọc-Hoàng,

Cũng nên thừa thế báo oan những ngày.

Xét ra thì cũng tức thay,

Vốn là loài Nhái mà ai phục tùng.

Lòng ta nay muốn vẫy vùng,

Cướp đoạt trào đất cửu trùng phế vương.

Hiềm vì vua thật cao cường,

Tinh thông võ nghệ chẳng nhường chi ai.

Sẵn vua vắng mặt hôm nay,

Lên đây cầu đó giúp tay chống kình.

Chừng vua trở lại trào đình,

Có đó đủ sức cầm binh ngăn ngừa.

Nếu ta mà đặng làm vua,

Sẽ phong tặng đó cho vừa lòng đây.

Chằn nghe mọi sự tỏ bày,

Bước vào cho vợ tỏ hay sự tình.

Hai nàng nghe đã phân minh,

Nghĩ suy giây lát bất bình thốt ra.

Thái-Sư vốn bụng gian tà,

Lẽ nào mình lại thuận hòa giúp công.

Thà mình vào đến bệ rồng,

Loạn trào làm chúa toại lòng còn hơn.

Trong tay cầm vững giang sơn,

Tóm thâu thiên hạ gặp cơn sang giàu.

Thừa dịp vua chẳng ở trào,

Cũng nên xuống đó lẽ nào bỏ qua.

Chẳng phải Lữ-Bố đâu là,

Làm con thiên hạ công mà nhọc thay.

Chằn-Tinh khen vợ bàn hay,

Thôi ta trừ phứt lão này cho xong.

Thịt nó đem nạp đỡ lòng,

Cũng là may mắn nên không nhọc mình.

Đoạn Chằn bước đến thình lình,

Mắng loài phản chúa dám sinh lòng tà.

Tức thì Chằn lấy đao ra,

Đè đầu chận cổ giết mà Thái-Sư.

Cho hay muôn việc nên hư,

Số trời đã định con người đâu qua.

Thái-Sư miệng chẳng kịp la,

Hồn lìa khỏi xác gẫm ra nực cười.

Chưa làm cho toại lòng tư,

Mạng đà dĩ tuyệt con người ra ma.

Chằn-Tinh xong việc kia là,

Tức thì làm thịt nội nhà lại ăn.

Nhị vị Công-chúa nói rằng,

Thôi thì chàng khá lên đàng cho mau.

Nội ngày kịp đến tại trào,

Tóm thâu thổ võ theo sau thiếp về.

Chằn-Tinh sửa soạn an bề,

Tay cầm khí giái98 chỉnh tề biến đi.

Tàng hình chẳng kẻ thấu tri,

Nội trong nửa buổi trào nghi đến liền.

Tam quân lớn nhỏ trong thiền,

Chẳng ai trông thấy linh thiêng phép mầu.

Chằn-Tinh chừ mới xuất đầu,

Cầm gươm la hét nội trào chỉn ghê.

Văn quan võ tướng bốn bề,

Áp đến vây chặt chẳng hề náo nung.

Chằn-Tinh đánh thẳng đến cung,

Ra tài diệu võ tranh hùng trăm quan.

Rần rần lục viện kinh hoàng,

Thảy đều thất vía chạy càn thoát thân.

Thật là nguy hiểm muôn phần,

Đến đâu giết đó tam quân sảng hồn99.

Máu chảy linh láng lấp chơn,

Thây nằm chật đất có hơn mấy ngàn.

Thảm thay thân phận các quan,

Kẻ còn người mất không đàng tránh nguy.

Nhắc qua Chánh-hậu cung vi,

Hay tin phách lạc còn chi nghiệp nhà.

Phần thì thai nghén kia là,

Làm sao thoát khỏi nạn ba bây giờ.

Thế-nữ ngày trước ơ hờ,

Nói ra lậu sự bây giờ ăn năn.

Bước vào liền mới bẩm rằng,

Xin bà trổ bước lánh nàn cho mau.

Thế-nữ tên thật Huỳnh-Đào,

Đốc bà Chánh-hậu ra sau cửa thành.

Chánh-hậu nghe lời bôn thành,

Huỳnh-Đào theo dõi há đành lìa nhau.

Nhắc lại Chằn-Tinh loạn trào,

Giết quân như thể là vào thành không.

Các quan tài sức khó ngăn,

Thảy đều hàng phục hận lòng hôm nay.

Chằn-Tinh thấy vậy dừng tay,

Rằng bay hàng phục ta nay dung tình.

Nghĩ xưa vua tại trào đình,

Ỷ tài ỷ phép ỷ mình hiếp ta.

Thù kia chất chứa kia là,

Ngày nay báo hận mới ra anh hùng.

Các quan rày đã thuận tùng,

Tước huờn như cũ triều trung an nhàn.

Ta lên kế vị ngai vàng,

Cầm quyền việc chánh trào đàng hôm nay.

Bá quan trong dạ tâu ngay,

Chúng tôi đều thảy vui thay tấc lòng.

Chằn-Tinh phán giữa trào đình,

Chánh-hậu mau bắt hành hình cho an.

Quân nhân tâu lại rõ ràng,

Chánh-hậu nay đã thoát nàn còn đâu.

Chằn-Tinh nghe rõ lời tâu,

Tạm dung cho đó còn đầu làm ơn.

Đoạn Chằn phán giữa bệ đơn,

Lịnh truyền rước vợ lâm sơn kịp ngày.

Võng dù cùng kiệu sẵn bày,

Lọng vàng tán bạc lên ngay non đào.

Chiêng trống quân sĩ trước sau,

Rần rần rộ rộ khác nào nhà vua.

Đến nơi quân sĩ vào thưa,

Hai nàng Công-chúa ngửa nghiêng cung đền.

Theo quân lên kiệu đi ngay,

Trong dạ vui toại đặng ngày hiển vang.

Phút đà xuống khỏi lâm san,

Về thẳng trào chánh bá quan đón chào.

Hai nàng Công-chúa bước vào,

Chằn-Tinh mừng rỡ trước sau ân cần.

Liền phán giữa mặt trào thần,

Phong cho hai vợ được phần cao sang.

Chị thì Chánh-hậu trào đàng,

Em thì Thứ-hậu mọi đàng đã yên.

Chằn-Tinh rày hết lòng phiền,

Hai nàng Công-chúa ngửa nghiêng cung đền.

Các quan lớn nhỏ hai bên,

Ngoài thì giả mặt rằng yên thửa lòng100.

Nhưng mà thậm oán bên trong,

Chờ khi có dịp quyết không dung tình.

Đã xong nơi chốn trào linh,

Thuận hòa trên dưới an ninh trong ngoài.

Kiển Tiên nhắc lại đoạn nầy,

Cùng con thế nữ đêm ngày ra đi.

Muốn cho thoát khỏi nạn nguy,

Quản bao rừng núi sá gì dặm xa.

Kiển-Tiên giọt lệ chan hòa,

Đau chơn mỏi cẳng thiết tha vô cùng.

Phần thì thai nghén nửa chừng,

Lại thêm bụng đã đói run thân mình.

Thế-nữ dìu dắt tận tình,

Thật là trọn dạ muôn nghìn đắng cay.

Xin bà ráng chịu hôm nay,

Đến đâu hay đó việc nầy trời xui.

Kiển-Tiên dạ ngọc ngùi-ngùi,

Chưa quen khổ cực dập-vùi tấm thân.

Ngày nay thê-thảm muôn phần,

Lòng ta đau đớn vô ngần mà thôi.

Than rằng chúa thượng người ôi,

Đi đâu để thiếp vô hồi truân-chuyên?

Hứa đi vội vã về liền,

Đã gần hai tháng thảm phiền xa nhau.

Chằn-Tinh chẳng nghĩ ơn sâu,

Hai chị quên lúc khẩn cầu thứ tha.

Ngày nay làm loạn trào ca,

Cướp ngôi Thánh-chúa sao mà quên ơn.

Thai nghén thê-thảm muôn phần,

Lần tay toan tính cũng gần khai hoa.

Kiển-Tiên giọt lệ chan-hòa,

Huỳnh-Đào thế-nữ khuyên bà bớt lo.

Hai người dặm thẳng lần dò,

Mấy ngày đi khỏi kinh-đô xa rồi.

Kiếm tầm chợ búa đến nơi,

Thế-nữ dừng bước bày lời thiệt hơn.

Kiển-Tiên nước mắt ròng-ròng,

Thương thay thế-nữ lắm công cùng mình.

Huỳnh-Đào tách bước một mình,

Kiển-Tiên giữa chợ dựa mình nghỉ an.

Nhơn dân thấy vậy luận bàn,

Xầm xì nói lén dung nhan mặn mà.

Ở đâu mà đến xứ ta,

Hình như Tiên-nữ Hằng-Nga trên trời.

Cớ nào quần áo tả-tơi,

Hai hàng lụy ngọc tuôn rơi khôn cầm.

Rồi bèn bấu101 đến hỏi thăm,

Kiển-Tiên xét lại hổ thầm phân qua.

Tôi nay không có mẹ cha,

Góa chồng nên mới thân ra như vầy.

Nhơn dân nghe động lòng thay,

Kẻ kia chén gạo người nầy bát cơm.

Huỳnh-Đào bụng đói mau chơn,

Đi thẳng vào xóm thiệt hơn bày tàng.

Tôi nay vốn ở xa đàng,

Lỡ đường không có cơm ăn đỡ lòng.

Cúi nhờ cô bác rộng lòng,

Giúp cho đỡ ngặt đương vòng tai-ương.

Nghe qua người thảy thảm thương,

Kẻ nhiều người ít giúp nương nhau cùng.

Lương-thực ở thế của chung,

Gạo cơm giúp đó khuyên đừng ngại nghi.

Huỳnh-Đào nhờ kẻ trợ nguy,

Cám ơn cô bác rồi thì ta đi.

Đến nơi chợ nọ vậy thì,

Chánh-hậu phân lại tường tri đuôi đầu.

Huỳnh-Đào nhường nhịn ăn sau,

Xin bà ăn trước dám nào ăn chung.

Nghe lời thế-nữ thành trung102,

Động lòng rơi lụy Chánh-cung phân rằng:

Ngày nay khốn khó dọc đàng,

Em đừng phân biệt chẳng an lòng nầy.

Thương em cực nhọc lắm thay,

Kết làm em chị hôm nay cho rồi.

Đặng mà tiện việc đứng ngồi,

Sau giấu thiên-hạ khỏi lời bàn nghi.

Ngày sau mà thoát khỏi nguy,

Gặp vua chị sẽ xin thì cho em.

Tây-cung chức nọ ban thêm,

Dùng làm Thứ-hậu cho em đặng nhờ.

Huỳnh-Đào mặt mũi đỏ lơ,

Nghe qua mắc-cỡ u-ơ phân rằng:

Dám nào mong việc cao-sang,

Phận hèn giữ phận gian nan nại gì.

Kiển-Tiên bèn nói lời ni,

Từ đây em chị cứ thì xưng hô.

Hai nàng ruột héo gan khô,

Nổi trôi xứ lạ lìa đô nay đành.

Nhắc qua giữa chốn thị-thành,

Có nhà triệu-phú xuân-sanh đẹp người.

Tuổi này vừa độ hai mươi,

Cha mẹ mãn hết của dư muôn ngàn.

Thị-thành đáng mặt giàu sang,

Thật là đúng mực theo hàng phong-lưu.

Tên chàng là Triệu-Thiên-Tư,

Tuổi cao mà chữa có người nưng khăn.

Nhiều nhà giàu có vô ngằn103,

Muốn gả con gái cho chàng vầy duyên.

Nhưng chàng chẳng thuận tình riêng,

Ở vậy thong thả chẳng phiền vợ con.

Bấy lâu một tấm lòng son,

Lựa người tri-kỷ song còn chưa ra.

Một hôm dạ nọ thiết tha,

Cớ nào buồn bã lòng ta như vầy.

Bèn kêu gia-tướng hỏi bây,

Theo ta dạo cảnh giải khuây thử nào.

Gia-nhân sửa soạn trước sau,

Thầy trò trổi gót đến đầu chợ Đông.

Thiên-Tư đôi mắt ngó mong,

Hôm nay khoăn khoái104 trong lòng lạ thay.

Dạo chơi đàng vắng phố dài,

Phút đâu chợt thấy có hai đàn bà.

Một người có chữa kia là,

Một người còn nhỏ mặt hoa ngồi gần.

Thiên-Tư đứng ngó chết trân,

Khen người nhan sắc trăm phần đẹp xinh.

Phút đà khươi động tâm tình,

Ước ao sao đặng cùng mình kết duyên.

Đẹp sao còn đẹp hơn Tiên,

Ngư trầm lạc nhạn đảo điên anh hùng.

Thiên-Tư bước đến phân cùng,

Trong lòng hồi hộp ngại ngùng lắm thay.

Rằng tôi xin lỗi tỏ bày,

Chẳng tường nhị vị ở rày nơi đâu.

Cớ nào thân thể dãi dầu,

Xin nàng phân lại đuôi đầu thể nao.

Kiển-Tiên nghe hỏi thấp cao,

Tưởng lầm là kẻ tầm-phào nguyệt-hoa.

Gia-nhân thôi mới phân qua,

Hai cô chớ tưởng vậy mà như ai.

Cậu đây phúc hậu lắm thay,

Sẵn lòng nghĩa hiệp thường hay độ người.

Giàu sang ngàn vạn có dư,

Chẳng phải ghẹo chọc mà tư lòng phiền.

Kiển-Tiên nghe rõ sự duyên,

Nhắm xem diện mạo dạ liền ăn năn.

Nàng bèn cất tiếng phân rằng,

Bỡi tôi lầm tưởng chẳng tàng trượng-phu.

Tôi nào dám giấu việc tư,

Đã cạn lời hỏi giấu người lẽ đâu.

Tấm thân nhiều nỗi dãi dầu,

Chị em thảm khổ đớn đau vô hồi.

Khác nào bèo dạt huê trôi,

Bỡi chưng thân phận mồ côi từ ngày.

Chồng chết cách vài tháng nay,

Lại thêm tôi lỡ có thai trong mình.

Thật lời trong đục phân minh,

Chị em nương chốn chợ đình đỡ khi.

Thiên-Tư đau đớn xiết chi,

Thương người gặp bước gian nguy thế nầy.

Chàng bèn lời thiệt phân ngay,

Hai nàng chớ ngại ta đây thật tình.

Khá theo về chốn gia đình,

Ta cho nương náo an bình tấm thân.

Xem chừng nở nhụy cũng gần,

Dọc đàng dọc sá e phần khốn nguy.

Ta nay là bực tu mi,

Vốn không gạt gẫm chớ nghi tấc lòng.

Kiển-Tiên nghe rõ đục trong,

Xét người ăn nói vốn không vạy tà.

Lẽ nào nỡ gạt chúng ta,

Tức thì bàn luận gần xa Huỳnh-Đào.

Thưa rằng em dám biết nào,

Cứ mặc tình chị liệu sao vẹn toàn.

Kiển-Tiên phân lại vội vàng,

Người mà tưởng đến muôn ngàn cám ơn.

Theo chàng em chị dời chơn,

Về đến gia nội thiệt hơn hỏi rằng.

Vợ người chẳng thấy tại đàng,

Cớ nào hiu quạnh gia trang thế nầy.

Đáp rằng có một tôi đây,

Vợ con chưa có trong ngoài quạnh hiu.

Thiên-Tư đáp lại bấy nhiêu,

Rồi sai gia-tướng phòng liêu dọn bày.

Căn phòng rộng rãi bên ngoài,

Lại thêm đẹp-đẽ dường rày tư cung.

Chị em nương náu chung cùng,

Khỏi lo cực nhọc lao lung lúc này.

Thiên-Tư ân hận lắm thay,

Cấp dưỡng lương thực hàng ngày luôn khi.

Lòng nhơn trọng đãi vậy thì,

Đủ đồ cần dụng thiếu gì ở đâu.

Một tháng chẳng thấy mặt nhau,

Chị em đàm luận người sao lạ lùng.

Thiên-Tư nuôi kẻ cơ cùng,

Chẳng hề bước xuống gia trung ghẹo lời.

Kiển-Tiên tính lại vậy thời,

Khai-huê nở nhụy đến nơi đây rồi.

Sáng ngày chuyển bụng một hồi,

Thiên-Tư nghe rõ rước mời mụ sang.

Bà mụ bèn mới hỏi han,

Chẳng hay người đẻ gia đàng là ai?

Đáp rằng bà khéo lá lay,

Vốn là chị gái tôi đây ai nào!

Bà mụ nghe rõ âm hao,

Ra tay giúp đỡ trước sau vẹn toàn.

Nam nhi sanh đặng rõ ràng,

Kiển-Tiên mừng rỡ bình an vuông tròn.

Bây giờ mới đặt tên con,

Chàng-Tiên danh hiệu chẳng còn định phân.

Huỳnh-Đào hết dạ vui mừng,

Ẵm bồng hun hít trăm phần thương yêu.

Nhớ ơn gia chủ bao nhiêu,

Chị em hoài nhớ nặng trìu hai vai.

Ở yên gần bảy tháng ngoài,

Lòng người hào hiệp cao dài lắm thay.

Một hôm thong thả trong ngoài,

Thiên-Tư dạ ngọc hôm nay riêng buồn.

Nào ai thấu rõ cội nguồn,

Tâm tình chất chứa trăm đường tương-tư.

Huỳnh-Đào vốn thật xinh tươi,

Lòng ta vương-vấn bấy chừ tình riêng.

Làm sao cùng đó hòa duyên,

Phỉ lòng cá nước mới yên dạ này.

Muốn dằn kiếm việc làm khuây,

Nhưng nào có đặng lòng tây bàng-hoàng.

Chị nàng sanh đẻ đã an,

Nếu ta tỏ dạ ắt nàng liền ưng.

Sợ chi mà lại ngập ngừng,

Cậy người ướm hỏi xem chừng thế nao?

Tính xong mọi việc trước sau,

Tức thì sai kẻ khá mau ra thành.

Mời người mai mối cho lanh,

Về đây có chuyện ngọn-ngành sẽ phân.

Gia nhân vâng lịnh ân cần,

Nửa ngày thì thấy mai nhân đến nhà.

Thiên-Tư chào hỏi mai bà,

Trầu cau trà nước đem ra mời liền.

Đoạn chàng mới tỏ sự duyên,

Vốn xưa tôi dạo thị thiềng giải khuây.

Bỗng gặp hai ả đẹp thay,

Đương cơn hoạn nạn nguy tai vô cùng.

Thấy vậy tôi động tâm trung,

Đem về nuôi dưỡng thủy chung vẹn toàn.

Cô em quả có dung nhan,

Huỳnh-Đào chỉ thị danh nàng thứ hai.

Làm sao trúc đặng gần mai,

Ơn bà tôi thưởng chẳng sai nửa lời.

Nghe qua đã hãn khúc nôi,

Xin cậu an dạ để tôi hỏi nàng.

Dầu cho chuyện khó muôn vàn,

Uốn ba tấc lưỡi tào khang hiệp hòa.

Đời ông cho đến đời cha,

Chuyên làm mai mối để mà nuôi thân.

Nói cho Tấn hiệp với Tần,

Nói sao cho gái đặng gần cùng trai.

Nói sao hai ngã Bắc Tây,

Đều vui hòa hiệp mới rày có đoan.

Nói cho vẹn vẻ tào khang,

Vợ chồng để bỏ hiệp đoàn mới hay.

Nói sao chim nọ đang bay,

Tự nhiên rớt xuống mới tài mới khôn.

Nói rồi mụ mới dời chơn,

Xuống nhà gõ cửa thiệt hơn ướm lòng.

Kiển-Tiên đương ở trong phòng,

Nghe người gõ cửa mới bồng con ra.

Huỳnh-Đào theo chị kia là,

Mở cửa chào hỏi mai bà mời vô.

Việc chi chẳng rõ nguyên do,

Xin bà nói lại đặng cho hãn tàng.

Mai bà bèn nói rõ ràng,

Thật tôi có việc mới sang chốn nầy.

Thấy người cầu khẩn nơi đây,

Buộc lòng nên đến tỏ bày nguồn cơn.

Thiên-Tư người thật cô đơn,

Cửa nhà rộng rãi tiền hơn muôn ngàn.

Hiềm vì chưa chỗ tào khang,

Cậy tôi ướm hỏi đục trong thế nào.

Lòng người yêu mến Huỳnh-Đào,

Bấy lâu để dạ chớ nào nói ra.

Chờ nàng nở nhụy khai hoa,

Rảnh rang mọi việc mới là hỏi thăm.

Thương thay người luống sầu thầm,

Đêm ngày mơ tưởng đứng nằm chẳng yên.

Muốn cho thỏa tấm tình duyên,

Nhưng còn ái ngại lòng riêng dàu dàu.

Tôi đà bày cạn âm hao,

Xin nàng định liệu lẽ nào khá phân.

Thiên-Tư vốn thật thiện nhân,

Tấm lòng quân tử xa gần biết danh.

Việc này cũng tại cao xanh,

Khiến nên thục nữ hùng anh tương phùng.

Kiển-Tiên nghe rõ thủy chung,

Nghĩ suy rất khó vô cùng hôm nay.

Bèn hỏi em lại lời này,

Ưng chăng em khá tỏ bày nguồn cơn?

Huỳnh-Đào nghĩ thiệt so hơn,

Phân rằng tùy chị giả chơn liệu dùng.

Kiển-Tiên lo lắng vô cùng,

Việc này dạ chị ngại ngùng lắm thay.

Bấy lâu mình ở tại đây,

Ơn người nuôi dưỡng cả hai an nhàn.

Ân kia nghĩa nọ nặng mang,

Lẽ nào đành dạ phụ phàng hay sao?

Em nay tuổi trọng tác cao,

Vợ chồng việc cả phải nào cuộc chơi.

Lẽ đâu mà chẳng nhận lời,

Xét ra em cũng đáng nơi gởi mình.

Thưa rằng sự đó tự tình,

Chị đà định vậy tôi xin nghe lời.

Kiển-Tiên tỏ lại khúc nôi,

Nghe bà nói vậy thì tôi thuận lòng.

Trở về phân lại đục trong,

Định ngày hòa hiệp thì xong mọi bề.

Mai bà từ giã ra về,

Trong lòng vui vẻ chẳng chê nửa lời.

Phút đà gia nội tới nơi,

Thiên-Tư đón hỏi khúc nôi sự tình.

Mai bà rằng hết lời mình,

Uốn ba tấc lưỡi điều đình mới an.

Chọn ngày làm lễ tông đàng,

Rước dâu nội bữa ngổn ngang ích gì.

Thiên-Tư mừng rỡ xiết chi,

Lấy bạc ra thưởng công thì bà mai.

Sửa sang dọn dẹp trong ngoài,

Mời người nhóm họ chọn ngày rước dâu.

An bề mọi việc đâu đâu,

Đêm ngày đám cưới lao xao gia đàng.

Có người chức việc xóm làng,

Hương cả hương chủ rõ ràng chẳng sai.

Hương hào chú xã làng ngoài,

Thôn trưởng hương bộ có hai chú trùm105.

Đờn ca xướng hát nghe rùm,

Tiệc bày đãi khách chùm nhum106 luận đàm.

Thật là vui vẻ chẳng nhàm,

Trẻ già lớn bé nhộn nhàn hôm nay.

Rước dâu theo lẽ an bài,

Mọi bề yên ổn trong ngoài lo toan.

Rõ ràng đôi lứa xứng thay,

Thuyền quyên quân tử cả hai vui vầy.

Nhắc việc Thiên đàng đoạn này,

Công-đồng đại hội hôm nay linh đình.

Chàng Nhái xưng hiệu Đức-Minh,

Về chầu ở chốn Thiên-đình vua cha.

Đến ngày bãi nội kia là,

Đức-Minh từ giã liền mà lui chơn.

Dương trần nhớ lại sạ duơn,

Vợ ta thai nghén gần cơn lâm bồn.

Lại lo trào nội dập dồn,

Tức thì giá võ dời chơn xuống trần.

Đến nơi nghe chúng đồn rân,

Nguồn cơn hẳn bạch trăm phần giận thay.

Chằn-Tinh đáng tội lắm thay,

Loạn trào phá chúng thứ tay đặng nào.

Vội vàng hóa phép bay vào,

Đô thành thẳng đến tại trào xem qua.

Chằn-Tinh ngồi ngự chương tòa,

Thấy vua bước đến hồn đà thất kinh.

Thế nào cũng vướng tội tình,

Đánh liều một trận họa mình thoát nguy.

Tính rồi nhảy xuống tức thì,

Vua rằng sao dám trào-nghi lăng loàn?

Chằn-Tinh chẳng nói đánh càn,

Huơi gươm chém tới vua tràn một bên.

Chằn bèn lấy phép hiện lên,

Bị vua thâu phép rất nên thẹn thùa.

Lại cầm gươm nọ chém đùa,

Vua rằng khen đó dám đua tranh tài.

Niệm phù chỉ một ngón tay,

Chằn-Tinh chết đứng trở day đặng nào.

Vua liền hóa ngọn lửa đào,

Chằn-Tinh hết phép gục đầu xin tha.

Vua rằng bỡi đó khinh ta,

Hai phen khó nỗi kêu la dung tình.

Hóa lửa bao phủ cả mình,

Đốt Chằn cháy rụi công trình uổng thay.

Ngàn năm tu luyện đến nay,

Phút ra tro bụi tội này cũng ưng.

Vua đà trừ khử loài hung,

Bá-quan bước đến thủy chung tâu liền.

Còn hai Công-chúa tại thiềng,

Xúi chồng làm dữ chẳng hiền xưa nay.

Vua rằng hai chị độc thay,

Lịnh truyền quân sĩ đem đày xa phương.

Hai nàng Công-chúa lụy tuôn,

Xin vua tha thứ tòa chương đặng nhờ.

Vua rằng việc quá nhuốc nhơ,

Vị tình đây đó chớ chờ gươm đao.

Quân nhân y lịnh tại trào,

Bỏ vào củi sắt non cao đem đày.

Thật trời ghét đứa tà tây,

Thiên lôi xuống đánh nát thây tan hình.

Còn vua ở tại trào đình,

Hỏi qua Chánh- hậu phân minh mới tàng.

Nghe phân giọt lệ chảy tràn,

Vì ta Chánh-hậu lánh nàn xa khơi.

Làm sao hiệp mặt một nơi,

Nếu không gan dạ tơi bời như tương.

Lịnh vua phán giữa tòa-chương,

Sai quan đi khắp bốn phương kiếm tìm.

Khâm-sai vưng lịnh đi liền,

Lại truyền rao khắp thị thiềng thôn quê.

Khâm sai một tháng mới về,

Chánh-hậu cũng có đề huề trào ca.

Đức vua vội vã bước ra,

Xem tường thấy rõ cả ba vui mừng.

Bắt tay mừng rỡ Chánh-cung,

Kiển-Tiên nước mắt rưng rưng hai hàng.

Vua bèn phán hỏi vội vàng,

Nhị nhơn lạ mặt phân tàng trẫm hay?

Lúc nào nở nhụy huê khai,

Nên con bồng ẵm trên tay kia là?

Chánh-hậu liền mới tâu qua,

Đuôi đầu phân rõ gần xa mọi điều.

Rằng tôi thảm thiết bao nhiêu,

Từ khi bệ hạ bỏ triều chầu thiên.

Chằn-Tinh lộng giả tại thiền,

Huỳnh-Đào cùng thiếp mới liều thoát thân.

Xứ người cực khổ trăm phần,

Thiên-Tư tế độ cũng gần một năm.

Vua rằng trẫm ở nửa trăng,

Cớ sao dương thế một năm cũng kỳ.

Chánh-cung bèn nói một khi,

Huỳnh-Đào phối hiệp cùng thì Thiên-Tư.

Vợ chồng quả thật nhơn từ,

Nhờ người thiếp mới sống dư ngày này.

Huỳnh-Đào vốn thật công dày,

Thiên-Tư nghĩa nặng sánh tày biển sông.

Vua nghe tỏ rõ đục trong,

Khen cho thế nữ có lòng trung ngay.

Thiên-Tư chừng ấy mới hay,

Rõ ràng Chánh-hậu lâu nay nào tàng.

May mình làm phải mọi đàng,

Không thì nay ắt mạng vàng còn chi.

Đức vua phán giữa trào nghi,

Thiên-Tư chồng vợ gẫm thì nhiều cơn.

Phong cho làm chức Quận-Công,

Đền bồi ơn nọ trả xong nghĩa dày.

Các quan triều nội hôm nay,

Gia tăng nhứt cấp toại thay tấc lòng.

Rõ ràng Thiên-địa chí-công,

Lẽ nào báo ứng vốn không sai nào.

Từ đây an thuận tại trào,

Nhơn dân lạc-nghiệp nước giàu bình an.

Chúc cho liệt vị khán quan,

Trăm năm miên-viễn mọi đàng khương ninh 107 .



CHUNG

1 Trường vẫn còn tọa lạc tại địa điểm cũ, góc đường Trần Hưng Đạo và Nguyễn Thái Học Sàigòn bây giờ, nhưng tên trường được đổi thành Nguyễn Thái học từ lâu.

2 Về sau ông Phạm Văn Thình không kinh doanh nữa và nhà sách Thuận Hòa của ông Trần Văn Sửu lớn mạnh một phần nhờ mua đứt bản quyền các đầu sách của nhà xuất bản nầy.

3 Nước uống được gọi là nước ngọt, tức là nước máy ngày nay, được bán cho những người sinh hoạt trên sông. Khi rao hàng người ta rao lớn: “Ai đổi nước không?’ Họ tránh tiếng mua/bán nước.

4 Cả năm chục Thơ ‘thơ hậu’, ảnh hưởng trên văn hóa Miền Nam một giai đoạn dài 7, 8 chục năm là mảng truyện thơ thuộc văn chương bình dân không thể nào người nghiên cứu văn học/văn hóa Việt có thể bỏ qua được. Càng để lâu càng khó tìm đầy đủ!

5 GS. Lê Xuân Vịnh, nguyên Hiệu Trưởng trường TH Hoàng Diệu, Ba Xuyên cũ, cho mượn số lớn bộ nầy để tôi làm bản sao. Xin mượn chỗ nầy để gỡi lời cám ơn chân tình.

6 Cái tên nầy không phải tự nhiên mà có. Trong bản in năm 1954 của cuốn Hậu Chàng Nhái, ta thấy đề hàng chữ ‘Thơ Chằng-Tinh Loạn Trào, tiếp theo Thơ Chàng Nhái- Kiễn Tiên’ Các con số 1968, 1954 là căn cứ trên giấy phép xuất bản của lần in quyển mà chúng tôi có được. Chữ Kiễn có hai lỗi: Phải là dấu hỏi, phải có gờ. Nó là chữ cảnh bị biến âm như Tôn Hành Giả nên thành kiễn thay vì kiểng.

7 Chưa thấy sách báo nào nói về nhà văn nầy, tuy rằng về thể loại thơ bình dân chúng ta đang nói, công linh ông Nguyễn Văn Khỏe khá bộn bàng.

8 Về thơ ‘hậu’ nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân một lần phát biểu với tôi rằng tất cả các thơ ‘hậu’ đều là tào lao, người ta viết bậy bạ cho có để kiếm tiền. Nói theo danh từ bây giờ là họ ăn theo. Hầu hết các truyện thơ đều có ‘hậu’. Ngay cả Lục Văn Tiên cũng có ‘hậu’. Tôi chỉ thấy một tuồng hát bội có ‘hậu’ mà thôi. Đó là tuồng San Hậu. Phần tiếp theo tuồng San Hậu được gọi là Tiểu San Hậu, cũng hay, cũng được viết bằng chữ Nôm và được khắc ván lưu hành đàng hoàng.

9 Chuyện xuống mười của địa ngục thường thấy trong các tác phẩm của tiền bán thế kỷ 20. Thời đó chuyện Lâm Tử Kỳ trong Hồi Dương Nhơn Quả chết rồi hoàn hồn sống lại vì là người tốt ảnh hưởng mạnh ở Miền Nam.

10 Trưởng giả: người nhà giàu.

11 Tự nhiên mà thọ thai. Người viết muốn nhấn mạnh đến đứa con đặc biệt không cần cha của Giảng Dung.

12 Tàng: Biết, tường. Truyện thơ nầy dùng nhiều chữ tàng. Có lẽ vì vần ang/ương dễ gieo.

13 Ông bà trưởng giả rất tân tiến, họ hiểu biết hơn người đời nay nhiều, không ghét bỏ la rầy con về cái chuyện không chồng mà chữa, dầu nó là đứa con gái xấu xí. Về sau con ông sanh ra nhái, ông còn dặn con coi chừng gà vịt nó ăn nuốt nhái đi.

14 Có thể là Trời cho mình Nhái nầy, mình người trần mắt thịt không thấy rõ được chuyện huyền diệu, chỉ thấy được bề mặt nên cho đó là chuyện xui.

15 Cái hay của ông bà trưởng giả nầy, trước khi mất còn dạy con nên nuôi Nhái cẩn thận, bỏ ngoài tai lời luận bàn xầm xì của thế gian, đừng để ý mà mà nao núng.

16 Ghe đàng gian nan: nhiều đường cực khổ. Ghe: nhiều, tiếng xưa.

17 Âm quang: Âm phủ.

18 Y nguy tức là y nguyên này nay. Cả câu: Nuôi Nhái mười ba năm mà Nhái vẫn như thế, không lớn lên. Chi tiết nầy cho thấy lòng mẹ thương con kiên nhẫn, đồng thời để cho phù hợp với tuổi tác của Kiển Tiên.

19 Bà mẹ đùa cợt con vì đem rắn về rắn sẽ ăn nhái.

20 Việc tầm ruồng: Việc chẳng ra đám ôn gì hết, chuyện không đáng, không giá trị gì, không đáng nói.

21 Tố trần: Nói ra rõ ràng.

22 Đồng trinh: Người phụ nữ còn trinh trắng. Từ nầy Thơ Tam Nương dùng lòng trinh. Chưa biết giải thích sao cho ổn.

23 Bà mẹ, bằng cách nói gián tiếp, cho rằng Nhái con mình không phải là nhái bình thường.

24 Con ta dầu gã con người: Nếu mà gã con ta cho con bà. Dầu: nếu mà, từ xưa, chỉ giả sử.

25 Nằm queo: nằm thu mình lại. Nằm chèo queo.

26 Lẫn lơ?

27 Vua quan thường là kiểu nầy!

28 Thơ lan: Chắc là tác giả muốn nói thơ loan.

29 Trình dữ phu lang: trình với chàng/ anh.

30 Kiển Tiên chỉ muốn nói xin anh nghĩ đến tình vợ chồng mà….

31 Kinh địa: Thủ đô, kinh đô.

32 Việc bằng trời: việc quá lớn, quá sức người. Bây giờ có nghĩa là việc rất quan trọng.

33 Ngạt ngào: Nghẹn ngào.

34 Chớ lo lường: Đừng lo ngại. Lo lường: ngại lòng ngại dạ.

35 Câu không rõ nghĩa theo cái nhìn ngày nay. Ta phải hiểu là người dân bỏ nhà, đào hang …

36 Bây giờ bên phía nhà trai và lễ vật chỉ còn những ‘thứ hiền’ thôi, thứ dữ đã được Ngọc Hoàng cho lấy về rồi.

37 Tuy là đồ chay nhưng quí vị nầy cũng không ăn, chỉ chứng kiến mà thôi. Dầu sao đó cũng là đồ phàm.

38 Mựa hằng chấp chi: xin đừng chất nhứt những sơ sót trong việc tiếp đãi và tổ chức. Lời thường có của người chủ hôn. Bản in: Mựa hằng cấp chi, tôi nghĩ là sai.

39 Nghi kỳ: Ngày con gái đi về nhà chồng. Chữ trong Kinh thi.

40 Kiếng cho ngọc báu: Tặng ngọc ngà..

41 Qua: Anh. Gần đây có câu giỡn nói dễ lẹo lưỡi: Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua.

42 Não nồng: não nùng.

43 Thỉ chung: Thủy chung, đầu đuôi.

44 Tử giã biết luận: Người chết ta không bàn nữa. Chết là hết. Cả câu, chết rồi làm sao sống lại đặng.

45 Vì là cốt Nhái cho nên mặc dầu đang hóa ra hình người cũng có thể nhập vào lớp nhái được. Điều nầy chứng tỏ rằng người trước mặt là Chàng Nhái.

46 Lúc nầy thì là trong lớp nhái.

47 Bây giờ trở lại lớp người, đẹp trai…

48 Cái hay là người mẹ dầu con đã lớn khôn, dầu biết con là con Trời, vẫn dạy con điều hay lẽ phải bình thường của con người.

49 Tối là người, ngày là nhái. Câu nầy hay à nha!

50 Vần câu nầy lang bang.

51 Ai đang: Ai đương. Không ai cự địch lại, không ai so sánh bằng.

52 Cơ quan: sự việc như thế.

53 Đây là một đoạn khôi hài rất hay!

54 Hồi thiềng: trở về thành, về cung.

55 Ông vua nầy cũng trào lộng ghê!

56 Giữ dạ đành rành: Phải tế tâm, coi chừng cẩn thận kẻo nguy hiểm. Chàng Nhái biết trước chuyện xấu sẽ xảy ra, dặn vợ cẩn thận, thế mà cũng không khỏi!

57 Thiên các đôi phang: tác giả dùng chữ từ câu thiên các nhứt phương, nghĩa là mỗi người một nơi.Chỉ sự xa cách.

58 Hai chị gươm đao: Hai chị lòng dạ gươm đao. Hai chị lòng độc ác.

59 Sảng sốt:

60 Đồng bào coi thể như không: Chị em ruột thịtmà không kể tình. Chữ đồng bào ngày nay đã biến nghĩa, chỉ còn có nghĩa người trong một nước.

61 Phưởng phất: phảng phất.

62 Choàng: thế giùm, trả giùm. Bản chánh ‘…thì ta tạm chàng’, nghĩ là người viết viết chữ choàng theo giọng đọc/nói của mình.

63 Trơ trẻn hết biết!

64 Tứ vi: Bốn bề.

65 Công miêng hải hà: Công minh vô cùng.

66 Thầy bóng là đồ dối thế gạt người. Đụng chuyện thì thầy đổ bóng, bóng đổ thầy. Tính chất giáo dục trong chuyện Chàng Nhái Kiển Tiên thiệt là nhiều, chống đối thầy bóng là một!

67 Bán dầu pha nước: Xưa sinh hoạt còn đơn sơ, người viết chỉ tưởng tượng được chuyện bán dầu pha nước, ngày nay chuyên gian dối xảy ra trăm ngàn cách khác nhau: xăng pha chất khác giá rẽ hơn, kéo đồng hồ giá… Phải hiểu bán dầu pha nước như là dối trá trong việc bán buôn dưới bất cứ hình thức nào.

68 Bắc mặt: Day mặt ra. tiếng xưa, thấy nhiều trogn tuồng hát bội thế kỷ 19.

69 Diêm Dương kêu Nhái bằng Thái tử vì Nhái là con vua Ngọc Hoàng.

70 Ăn giòi uống máu: Chỉ sự phải đày đọa ăn uống những thứ gớm ghiếc dơ dáy.

71 Bàn: Nạo. HTC: bàn ruột: nạo ruột cho sạch.

72 Xem bắt thảm thương: Thấy như vậy trong lòng thương cảm. Để ý chữ bắt dùng ở đây, ngày nay cách dùng như thế nầy mất đi, thường đuợc thay bằng chữ phát, thấy…

73 Vào bương: đi vào mau lẹ. Đi bương, bương bương, bương bả…

74 Thăng: ?

75 Dan đàng:

76 Người làm bổn mới thú nhận mình sửa đổi bản cũ. Sự đi tìm nguyên tác sẽ khó khăn, nhưng nếu quan niệm văn chương bình dân là tác phẩm của nhiều người thì chuyện sửa lại bổn cũ cũng không phải là chuyện đáng trách.

77 Chữ lại thêm dùng chỗ nầy không được ổn.

78 Xuê: đẹp.

79 Dạ tư: lòng riêng. Đây nghĩa là lòng ganh ghét người khác.

80 Nhỗm nha:

81 Huơi tiên: giơ roi.

82 Chằn-Tinh có phép biến hình vác gạo đi, cho nên thiên hạ thấy bao gạo cứ đi mà không thấy người, đó là Chằn-Tinh tàng hình mình đặng chớ tàng bao gạo không đặng. (SG)

83 Giết được tướng địch mà cho là xui thì rõ ràng Chằn- Tinh đã hiểu những điều mình đã làm là quấy.

84 Đại-Bàng là chim Đại-bàng hay Đại-Bàng-Điểu. (SG)

85 Tội lỗi cũng vì …. vợ!

86 Dở dang: theo HTC thì dở dang là hư, bất tài, chuyện làm không xong. Hình như chỗ nầy người viết dùng không đúng chữ! Phải chăng lỡ làng?

87 Kẻ xấu không nề hà gì mà không oán trách, đổ lỗi cho che mẹ.

88 Chẳng tin rằng: Chẳng có tin gì về báo. Rằng: nói.

89 Đàm luông: dịch chữ long đàm, đầm rồng, chỗ rồng ở, nơi nguy hiểm.

90 Bào hao: lớn tiếng, ồn ào. Truyện Trinh Thử: Chợt nghe muông cẩu bào hao dậy ràng.

91 Tha do vị nễ Chánh-cung.

92 Hứa chừa dữ, nhưng sau nầy làm dữ vì nghe lời …. vợ! Than ôi!

93 Kiếng vi: vây cánh, những người theo mình.

94 Tớ ruột ấy là người của Chánh-hậu chọn riêng vào cung hầu hạ chớ chẳng phải con mái nên mới đặng thong thả.(TG)

95 Nhẹm lời: kín miệng, không được nói ra tiết lậu sự tình.

96 Đoạn nầy có ý nói: Phàm sự gì lớn lao kín đáo thì không bao giờ nên cho kẻ tiểu nhơn rõ thấu. Nếu nó biết, dầu không lòng muốn hại mình song cũng có ngày hư việc. (TG)

97 Lá đá: đá cục, đá tảng. Từ cổ. Chữ Nôm xưa viết 𥒥 hay 𥒥, người đọc la, kẻ đọc lá. La là giọng nói tối cổ, là giọng cổ nhưng đã gần đây. Đây là chữ quốc ngữ hiếm hoi về từ lá đá.

98 Khí giái: khí giới.

99 Sảng hồn: hoảng hồn, thất kinh hồn vía.

100 Thửa lòng: lòng của mình. Tiếng xưa.

101 Bấu đến: bu đến.

102 Thành trung: trung thành.

103 Vô ngằn, ngày nay nói vô ngần.

104 Khoăn khoái, tức là khoan khoái ngày nay chúng ta nói. Từ điển xưa chỉ có từ khoăn khoái mà không có từ khoan khoái. Các bản chữ Nôm đều viết khoan khoái.

105 Các viên chức trong làng cũng đến. Nhờ mấy câu nầy người sau biết được tên các chức dịch thời xưa. Quá tốt!

106 Chùm nhum: xúm xít lại thành nhóm.

107 Chúc cho an khang thạnh vượng lâu dài. Miên viễn: thiệt là lâu.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 11.12.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004