Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Từ Truyền Thuyết Đến Hiện Thực :

Xưa, bà Nữ Oa đội đá vá trời -

Nay, Tập Cận Bình lấn chiếm đảo Đông






Mở đầu :

Một số văn hào, triết gia của nước Pháp như Voltaire, Diderot, Rousseau ở vào thế kỷ thứ XVIII đều nhận xét rằng “người Trung Hoa hơn hẳn các dân tộc khác trong hoàn vũ !” Còn Keyserling kết luận như sau :”Không còn nghi ngờ gì nữa, họ hơn hết thảy các dân tộc khác về vấn đề hình thức, lễ nghi...Người Trung Hoa có lẽ là người thâm trầm nhất.” Thâm trầm đồng nghĩa với im lặng sâu kín, ít nói nhưng lòng dạ chuyển biến khó nhận ra, bề ngoài thấy như vậy mà bên trong không phải như vậy. Phải nói thêm :”Lãnh đạo Trung Hoa hơn lãnh đạo các nước do lòng ham muốn tột độ : xâm chiếm nước bạn, thêm thù bớt bạn”.

Nhà triết, sử học William Durant sinh năm 1885 đã nhận xét về người Trung Hoa như sau :”Người Trung Hoa tự cho mình là dân tộc thuần phong mỹ tục nhất, văn minh nhất thế giới mặc dù các thị trấn của họ hôi hám, đồng ruông đầy rác rưởi…, họ tàn ác, thản nhiên tới vô tình, sinh sản nhiều, nội loạn lắm, đôi khi tàn sát lẫn nhau…”(Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trung tâm thông tin trường Đại học sư phạm TP HCM năm 1990, trang 24).

Vua chúa các triều đại phong kiến phương Bắc luôn cho mình là Đại Hán hay “Con vua” (Thiên tử) nên không ngừng mở rộng bờ cõi, xâm chiếm và luôn là kẻ thù của những quốc gia, dân tộc lân cận nhất là ở sát liền biên giới và coi các nước bạn quanh nước mình là phiên bang. Tới năm 1860, trong công văn người Trung Hoa còn dùng chữ “di” (mọi rợ) để chỉ người nước ngoài, như chữ “tây di” (rợ phương Tây). Cho tới đầu thế kỷ 20, họ còn đồng thanh gọi người Âu Mỹ là “dã man”. Còn đối với các dân tộc có đất nước sinh sống chung quanh họ thì tất cả đều bị gọi “man di”, trong đó có Việt Nam. Có lẽ, hơn ai hết, người Việt Nam hiểu biết quá nhiều người Đại Hán sau trên 1.000 năm bị đô hộ, bị cai trị bằng những chính sách hà khắc nhất với máu và nước mắt, từng bị gọi là “Nam man”, bị đánh đuổi từ địa bàn Nam Hoàng Hà rồi Nam Dương Tử giang, hồ Động Đình tới ải Nam Quan (Lạng Sơn), kể cả đặt tên nước Việt Nam thời ấy là “An Nam Đô hộ phủ”, dân họ gọi dân ta là “Người An Nam” (An nàm nán).

Nhưng cũng chính tại địa danh Nam Quan mà họ đặt cho ta được coi là nơi đã gây cho họ một ấn tượng đau đớn nhớ đời đền nỗi phải thốt ra câu :”Thập nhân xuất, nhất nhân hồi” ! (Mười người đi qua đây, chỉ còn một người trở về). Đó không phải vì sơn lam chướng khí, ma thiêng nước độc, rắn độc, cọp dữ… mà chính vì những trận đánh của người Việt bị xâm lăng đón đầu, đoãn hậu không đường về, bỏ thây nơi đất khách với những lần xâm lược bị đánh bại nổi tiếng trong lịch sử của hai nước, hai dân tộc. Núi mặt quỷ ở Chi Lăng nơi tường Liễu Thăng bị chặt đầu là một bằng chứng cho thấy :”Một đi không trở lại !”

Sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB Văn hoa thông tin năm 1999, trang 23 nói đến họ Hồng Bàng – dòng họ mở nước và dựng nước Việt Nam từ thời thượng cổ, có chép về truyền thuyết vua Đế Minh cháu ba đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam tới núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam) lấy tiên làm vợ sinh ra Lộc Tục được truyền ngôi làm vua đất phương Nam xưng là Kinh Dương Vương lấy quốc hiệu là Xích Quỷ (Đất đỏ phía Nam) vào năm 2.879 trước Tây lịch. Nước này rộng từ hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam) xuống tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp xứ Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) và đông giáp biển Nam Hải (biển Đông Trung Hoa ngày nay). Cương vực của nước Xích quỷ rõ ràng là của 18 đời vua Hùng Vương. Niên đại 2897 ứng với năm đầu của thời đại Hùng vương. Vậy nước Xích quỷ đúng là nước Việt Nam cổ nhưng con cháu vua Hùng lại ghi nhớ là nước Văn Lang có địa bàn là Bắc Bộ Việt Nam ngày nay. Văn Lang chỉ là một khu vực nhỏ bé ở cuối phía nam nước Xích Quỷ. Hậu sinh của vua Hùng chỉ nhớ được đất nước của mình là Văn Lang nhỏ bé bởi vì đời sau có sử viết ghi chép lại là lúc đang sinh sống ở vùng Bắc Bộ ngày nay.

Vấn đế I :

Chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ xuất hiện từ vùng lãnh thổ rộng lớn đó với đất nước Văn Lang ra đời của các vua Hùng. Tới thời đại đó thì đất nước Văn Lang chỉ còn lại phần nhỏ là địa bàn Bắc bộ ngày nay. Sau thời đại Hùng Vương dân tộc Việt Nam tiếp tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc đánh chiếm và đô hộ suốt trên một ngàn năm nữa mới giành được độc lập, tự chủ (thời Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán tiếp tục xâm lược nước ta ở trận Bạch Đằng giang lần thứ nhất năm 939 sau Tây lịch). Tới thời kỳ này, nước ta mới thoát khỏi ách đô hộ tàn bạo của Trung Hoa nhưng vẫn luôn bị xâm lăng liên tục từ thời nhà Lý (1076) cho tới thời Hậu Lê (1789). Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, quân phương Bắc vẫn còn chiếm đóng các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Hòa ước Thiên Tân ra đời năm 1874, Trung Hoa mới trả hết các tỉnh biên giới về cho Việt Nam để Pháp cai trị, đổi lấy Đài Loan bị Pháp chiếm đóng.

Tới năm 1945, lấy lý do theo lệnh Đồng Minh vào giải giới quân Nhật ở Hà Nội mà quân Tưởng Giới Thạch tràn xuống phía Nam với âm mưu “Hoa quân nhập Việt” để tiếp tục chiếm đóng Việt Nam giữa lúc chế độ dân chủ cộng hòa non trẻ vừa ra đời với cách mạng tháng Tám thành công giành quyền làm chủ đất nước trong tay hai kẻ thù Pháp – Nhật. Vất vả và mưu trí, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do sự khôn khéo Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đẩy được hàng triệu quân Tưởng ra khỏi biên giới phía Bắc.

Suốt thời kỳ đánh Pháp lần hai và chống Mỹ cứu nước sau đó từ năm 1945 tới năm 1975, hai nước Việt Nam- Trung Quốc trở thành hai nước anh em do hai đảng Cộng sản lãnh đạo trong thời kỳ mới. Nhưng thật bất ngờ, do ủng hộ chính quyền Khmer đỏ tàn bạo khát máu tấn công biên giới phái Tây Nam Việt Nam thì quân Trung Quốc hữu nghị lại ồ ạt xua quân tràn vào các tỉnh biên giới phía Bắc gây nên cuộc chiến tranh biên giới mới giữa hai nước hữu nghị anh em vào năm 1979. Sau đó, hai đảng, hai nước cộng sản anh em lại giao hảo tiếp tục trong khi âm mưu của nước lớn “bành trướng Trung Quốc” không ngừng gây tội ác đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, xâm phạm biên giới hải đảo ở Biển Đông phớt lờ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam và dư luận thế giới lên án theo bộ ứng xử DOC và luật pháp quốc tế về biển.

Tới năm 2014-2015, Trung Quốc lại tiếp tục gây sự ở biển Đông bằng hành động ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế với hành động lấn chiếm và xây dựng căn cứ quân sự ở đảo Gạc Ma, Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc trở thành “kẻ thù xâm lược” của Việt Nam do đã chiếm đóng Hoàng Sa biến nơi này thành phố thị Tam Sa xây dựng đầy đủ hạ tầng đề hoạt động như một thành phố trên biền Đông. Trung Quốc chưa dừng lại tội ác ở đó mà cứ tiếp tục hành động sai trái như kẻ xâm lược là dàn quân cảnh sát biền áp đảo ngư dân và cảnh sát biển Việt Nam bằng các hình thức gây va chạm tàu và phun nước gây chiến, có khi lại bắt bớ ngư dân Việt Nam, nổ súng hăm dọa và có trường hợp làm chết người nhưng đã giấu mặt ! Hành động tội ác và xâm lược vẫn diễn ra hàng ngày với ý đồ thực hiện cho được chủ quyền của nước lớn với mô hình “đường lưỡi bò “: ngu ngơ áp đặt ở biển Đông, kéo dài từ Nam Hải Nam xuống tới Nam Dương một cách điên cuồng. Nay lại xây dựng hải đăng ờ hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa ở các đảo đã chiếm và đã tôn tạo từ đảo san hô, bãi cát, đá chìm.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình giả bộ sang thăm Việt Nam để xoa dịu tình hình, trấn an dư luận của nhân dân Việt Nam và thế giới khi các nước, các nhà nghiên cứu đều lên tiếng phê phán Trung Quốc mưu sỉ chiếm đóng các đảo trong biển Đông và ủng hộ Việt Nam có đủ tư cách, chủ quyền đòi lại các đảo đã bị chiếm đóng trái phép. Giả bộ tôn kính đến đặt vòng hoa ở lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với “nước mắt cá sấu” và “bộ mặt đưa đám”. Mượn diễn đàn Quốc Hội đề nói chuyện ân tình, hữu nghị. Nhưng sau đó, tới Singapore lại trở mặt, đổi giọng tiếp tục huênh hoang tiếng nói của kẻ mạnh lưu manh nhất nhì thế giới.

Như vậy, nước bạn lớn Trung Quốc từ thời thượng cổ qua trung cổ và tới hiện đại luôn thực hiện nhiều cuộc lấn chiếm biên giới Việt Nam cố ý chiếm đóng Việt Nam là nước cộng sản anh em, quốc gia hữu nghị lâu đời suốt một ngàn năm lịch sử sau một ngàn năm bị Bắc thuộc, nay lại ngang ngược, thô bạo tiếp diễn màn bi hài kịch lấn biển đảo và chiếm đóng bằng hành động ăn cướp.

Trong khi đó, nếu nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước, hai dân tộc Việt – Hán có cùng một thời điểm phát sinh ở một địa điểm gần kề, có hai nền văn hóa, văn minh tương đồng gắn bó truyền thống. Hơn nữa, tộc Việt chiếm địa bàn phía Nam, còn tộc Hán chiếm địa bàn phía Bắc sông Hoàng Hà từ ngày phát tích. Nhưng tộc Việt luôn bị tộc Hán đánh đuổi suốt quãng đường dài từ Bắc xuống Nam gần bốn ngàn năm lịch sử và bị đánh bật ra khỏi vùng đất cổ rộng lớn là cả một đất nước Trung Quốc ngày nay. Suy cho cùng, Trung Quốc ngày nay có được một dân tộc đa chủng, một vùng đất biển rộng lớn là do lấn chiếm, chiếm đóng và cướp giựt mà ra suốt quá trình hình thành và phát triển lâu dài.

Theo nhà sử học thế giới Durant, văn minh Trung Quốc đã phát sinh ở dọc hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử, có cả sông Vị Thủy nữa (Sđd trang 26). Kỳ lạ thay, khu vực phát sinh nền văn minh Hán tộc này lại trùng hợp với nền văn minh lúa nước của Việt tộc tức Bách Việt ngay buổi ban đầu của Việt Nam, theo nhà sử học Trần Trọng Kim (Sđd) và nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc (Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, NXB Bách Bộc năm 1971, sẽ có dịp đề cập sau). Vẫn theo Durant, dân Nam Nga và Mông Cổ thời 20.000 năm trước Tây lịch đã di cư xuống hay xâm lược Bắc Trung Quốc tức ở địa bàn thuộc khu vực của ba sông như vừa nói để bắt đầu nền văn minh Hán tộc. “Người vượn Bắc Kinh” sau này được đưa ra là để chứng minh “tính bản địa” của người Hoa Hạ. Tới phiên mình, sau khi hình thành nền văn minh đầu nguồn của ba sông mà trước tiên là vùng Hoàng thổ tức đồng bằng sông Hoàng Hà phía Bắc, Hán tộc bắt đầu di cư hay xâm lấn người chủ của nền văn minh lúa nước tức Việt tộc hay Bách Việt.

Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc viết trong sách đã dẫn, dân tộc Hán định cư ở vùng Hoàng Thổ phía Bắc Hoàng Hà chưa biết trồng lúc nước mà chỉ trồng mễ hay lúa mạch, lúa mì và đặc biệt chưa dám vượt sông Hoàng Hà rộng lớn, đầy sóng gió. Còn Việt tộc đã xâm nhập Hoàng Hà từ Hy Mã lạp sơn và biết vượt sông, trồng lúa nước từ đó đến bây giờ bởi vì nguồn gốc tộc Việt là ở Nam Á gần gũi Mã Lai suốt quá trinh quần cư ban đầu trên vung sông nước và khi thiên cư lên phái Bắc cũng đã trải nghiệm biết bao sông lớn nhỏ. Việt Nam luôn tự hào về nền văn minh lúa nước và có bốn giai đoạn phát triển căn cứ theo khảo cổ học :

1-Giai đoạn Phùng Hưng (thuộc sơ kỳ đồng thau) sử dụng công cụ bằng đá là phổ biến mang tính kế thừa và tiếp nối của thời đại đồ đá mới, trước Tây lịch.

2-Giai đoạn Đồng Dậu trước Tây lịch, sử dụng vừa đồ đá vừa đồng thau.

3-Giai đoạn Gò Mun trước Tây lịch, hoàn toàn công cu bằng đồng thau.

4-Giai đoạn Đông Sơn diễn ra trước và sau Tây lịch, công cụ hầu hết bằng sắt. Địa bàn cư trú của dân Việt (Lạc) kéo dài tới sông Mã, sông Cả thuộc Thanh Hóa, Nghệ An. (Theo Sổ tay Báo cáo viên 2005 của Ban Tư tưởng – Văn hóa, trang 129).

Bốn giai đoạn hình thành và phát triển của tộc Việt nói trên chỉ khoanh lại thời Hùng Vương nhưng ở thời kỳ cuối của vua Hùng thứ 18, đã bỏ qua thời kỳ định cư và di cư trên lãnh thổ phía Bắc.

Thi hào Đặng Trần Côn thời Lê Mạc của nước ta đã hoài niệm về một miền đất cổ Việt bị Hán tộc xâm lấn trong thi phẩm bất hủ “Chinh phụ ngâm khúc” (bản dịch Nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm) với những câu thơ hào hùng đồng thời hết sức buồn thảm của chiến tranh ngoại xâm tàn phá quê hương đất nước, gây ra cảnh chia lìa trai gái, phân tán gia đình và cả dân tộc phải di cư dần từ phía Bắc xuống phía Nam như sau :

           Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt

           Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây …

           Giã nhà đeo bức chiến bào

           Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.

Cảnh tượng trên cho thấy thanh niên Việt vì nghĩa vụ phải lên đường ra trận bảo vệ đất nước khi có xâm lăng. Địa danh trên chỉ chiến trường xưa khi giặc ngoại xâm tấn công tử đồng bằng Hoàng thổ và phía Bắc các đoạn trường thành.

           Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

           Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

           Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương

           Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng…

Trong thơ ca, những địa danh trên thể hiện sự nhung nhớ của đôi trai gái nhưng trong lịch sử, đó là những địa danh chỉ cương vực của Cổ Việt. Dân Việt luyến tiếc nơi quê cũ khi phải di tản về phương Nam do họa Hán tộc gây ra. Tiêu Tương là hai con sông nhỏ chảy vào hồ Động Đình, quê hương cũ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hàm Dương là thủ phủ của Thiểm Tây – Hồ Nam, đất cũ của tộc Việt trước thời đại Hùng Vương. Cổ Việt luôn thay đổi địa bàn sinh sống do bị ngoại xâm của Hán tộc xuất phát từ phía Hoàng Hà, tới Vị Thủy, xuống Dương Tử qua hồ Động Đình rối Trường Giang (Tây Giang) phía Nam Trung Hoa.

Từ chữ “Việt – Vượt” (chạy về phương Nam của dân tộc tay cầm lưỡi rìu bằng đá mà người Hán gọi người chủ lưỡi rìu hình chữ nguyệt có hình dáng cái “việt” (Yit) để chỉ dân Cổ Việt. Thời kỳ đồ đá xác định địa bàn tộc Việt ở phía Bắc nước Xích Quỷ. Nước Văn Lang là của thời đại Hùng Vương có trên hai ngàn năm lịch sử. Trước năm 1945, các nhà khảo cổ phương Tây phát hiện ra chiếc rìu đó ở Quốc Oai ngoại thành Hà Nội. Ngày nay, qua nhiều thế hệ, chiếc rìu đó được thay đổi thành cái liềm (gặt hái) từ giai đoạn đồng thau và sắt thông dụng của nông dân ta. (Tay cầm bán nguyệt xênh xang/ Một trăm ngọn cỏ lai hàng tay ta – Đặng Thị Huệ, thôn nữ thời Lê - Trịnh).

Tiền sử Việt Nam hay thời thượng cổ Việt Nam chỉ được các nhà làm sử hiện nay ghi nhận từ thời đại Hùng Vương mà kinh đô cổ là Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phú gần nơi có đền Hùng) mà cương vực là địa bàn Bắc bộ ngày nay kéo dài tới các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An (Cửu Chân, Nhật Nam) do vua Hùng mở rộng tới đèo Ngang. Còn phía dưới đèo này là tỉnh Quảng Bình (châu Ô, châu Rí) thuộc chủ quyền của dân tộc Chăm. Tới đời nhà Trần, hai châu này mới thuộc về Đại Việt trên đường mở rộng bờ cõi về phương Nam do được hiến tặng. Hiện nay, trong động Phong Nha – Kẽ Bàng có di tích chữ viết (chữ Phạn - Sansrit) được cho là của chủ nhân tộc Chăm. Chữ này được truyền sang từ Ấn Độ theo các nhà truyền giáo khởi thủy (Ấn Độ Giáo – Hinduism) trước hay sau Tây lịch.(Chuyện Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung học phép tiên biến hóa bãi sông thành lâu đài không phải là huyền thoại).

Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc ở Sài Gòn trước 1975, trong tác phẩm “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”, tổ tiên tộc Việt được thiên cư từ Nam châu Á lên phía Bắc làm nhiều đợt (lên xuống qua lại trên bán đảo Đông Dương hay dải đất hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương nhiều thời kỳ). Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy như sau :

2.000 năm Cựu thạch (thời kỳ đồ đá cũ, 12-5.000 năm trước Tây lịch) ở Hi-Malaya (sau thời kỳ thiên cư từ Nam châu Úc đi lên).

5 năm Tân thạch (thời kỳ đồ đá mới, 5-3.000 năm trước Tây lịch) ở Hoa Bắc (Trung Quốc)

2.413 năm Tân thạch ở Cổ Việt (như giải trình ở phần trên)

2.587 năm Kim khí (thời kỳ đồng, sắt) ở Việt Nam.

Tổng cộng : 7.005 năm. Dân ta tự tôn 4 ngàn năm văn hiến là khiêm tốn, chỉ tính từ thời kỳ Tân thạch, cách nay 4 ngàn năm hơn.

Vấn đề II :

Ta có thể thấy, trong các thần thoại nơi khác cũng đều có những vị thần tạo ra con người. Trong thần thoại Hy Lạp, Prô-mê-thêu là vị thần sáng tạo ra con người. Trong thần thoại của người Ai Cập, con người được ra đời do được thần gọi. Trong thần thoại Do Thái, Giô-hô-va sáng tạo ra con người.

Trong thần thoại Trung Hoa, Nữ Oa là một vị thần có quyền năng tạo ra con người Trung Hoa thuở xưa từ vật chất tới tinh thần nhưng có quả tim bảy lổ nên khác với người thường của thế giới ngày nay. Một con người khôi ngô tuấn tú và thông minh nhưng chưa thấy toàn diện.

Tới đây, bà vẫn chưa bằng lòng với con người do bà tạo ra. Bà lại thổi vào bộ óc thông minh của con người lãnh đạo Trung Hoa thêm một tính chất đặc thù nữa, đó là tính ưa thích ăn xài để làm đại gia, vua chúa và tính xâm lược để lấn chiếm đất đai chung quanh, từ bắc chí nam, từ đông sang tây. Bà hứa hẹn với con người của bà là sau này, nếu có cơ hội, khi mà dân số tới hơn 1 tỷ người thì phải tiếp tục xâm lược các nước láng diềng như Tân Cương, Tây Tạng rồi không buông tha Việt Nam, dù là hữu nghị hay anh em. Bà còn căn dặn, nếu chưa thể chiếm được đất liền thì nên ra tay trước chiếm biển và đảo, nếu chưa có đảo nổi thì có thể học theo cách của bà, chở đất đá, xi măng, sắt thép tới “tạo đảo” thay vì ngày xưa bà “vá trời”.

Vậy nên ngày nay, ông Tập Cận Bình là chủ lớn nhất và đứng đầu đất nước Trung Quốc rộng lớn, dân đông theo lời căn dặn của tổ tiên Nữ Oa đi chiếm đảo và biền Đông. Hậu duệ trung thành của bà Nữ Oa đã thành công một bước khi lừa đảo nhân dân Việt Nam và các nước láng diềng để làm chủ biển Đông. Cả thế giới bất bình nhưng có làm gì được đâu, bởi vì tất cả họ đều ở xa, mắc mớ gì mà nhảy vào can thiệp cho mệt. Mỹ làm bộ hô hào, hù dọa và kêu réo nhưng rốt cuộc để “làm màu” với nước có quan hệ kinh tế với mình, tội gì mà đụng chạm tới. Còn Liên Hiệp Quốc, Hội đồng Bảo an coi như “pha”, lập ra cho có, chớ dám hành động gì đâu. Ông chủ Tổng thư ký Ban Ki moon cũng thế thôi, đâu dám đụng tới quyền phủ quyết của 5 thành viên sáng lập LHQ.

Bây giờ còn lại “ta với ta”. Trước khi người cứu ta thì ta hãy tự cứu lấy mình. Đối với một kẻ thù muôn kiếp của Việt Nam, chỉ còn cách là đánh chiếm lại, chớ không thể chờ ai hết. Còn nếu như sợ không đủ sức thì bỏ cuộc, đồng nghĩa với chịu thua, chịu nhục, chịu mất một phần đất nước đó. Dù là 100 năm hay 1.000 năm, như tổ tiên ta đã làm thì ngày nay hay sau này, con cháu ta vẫn phải làm. Tại sao Mỹ, Anh, Pháp hay Nato tự tiện mang quân, đem vũ khí tới các nước ở Trung Đông hay ở Nhật, ở Hàn mà không ai dám nói. LHQ cứ bao che. Việt Nam sao lại cứ chờ hòa bình từ đâu đến ? Nên võ trang đội đánh cá ở biển Đông. Ngày nay làm kinh tế phải có vũ khí mạnh, lực lượng mạnh mới chắc ăn, mới không bị ăn hiếp. Làm kinh tế biển là phải có võ trang. Vì có nhiều ăn cướp biển nên ngư dân Việt Nam phải võ trang tự vệ, nếu không ai giải quyết khi bị ăn cướp ? Cướp đảo còn nguy hiểm hơn cướp biển.

Còn ngược, nếu nhân dân Trung Quốc vì tình hữu nghị, vì nghĩa anh em, vì cảm thông thân phận nước nhỏ thì hãy giao trả lại hay bán lại cũng được. Đó là một nghĩa cử ân tình, biết điều. Nhân dân Việt Nam cảm kích, biết ơn, thế giới hoan nghênh.

Chính quyền, quốc hội Việt Nam không dám làm thì nhân dân Việt Nam phải làm. Làm như thế nào đó là tùy thuộc sự khôn khéo, thông minh và thế mạnh của mình. Hay là ta khấn vái, thỉnh cầu bà Nữ Oa hãy thổi vào bộ não của lãnh đạo cao cấp Trung Quốc một sinh khí mới để ông ta hoàn hồn quay lại với “lễ, nghĩa, trí, tín” của Khổng Mạnh mà kéo hết người, của ở Hoàng Sa, Trường Sa về nước. trả các đảo của Việt Nam cho Việt Nam. Hãy làm theo phương Tây : Cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar”.

Ông Tập Cận Bình hãy hành động như một “đại hán”, đại nhân chớ đừng nên như một “tiểu nhân” ! Đạo Khổng Mạnh luôn kêu gọi vạn thế hãy hành động như một quân tử ! Ông hành xử như một hậu duệ chính danh, chính nghĩa của Đại Hán hay của Đại Mông, Đại Thanh ? Dân tộc Đại Việt đã từng đánh thắng Nguyên Mông ba lần ở thế kỷ XIII,Đại Minh ở thế kỷ XV, còn Đại Thanh ở thế kỷ XVIII chỉ có mười ngày. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn vang dội thế giới. Đại thắng 30/4/1975 mới đây. Chắc ở thế kỷ XXI sẽ không thua đâu! Nhưng trước hết, hãy làm tốt “một láng diềng” gần !



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.12.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004