Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (28)


Đinh Bộ Lĩnh Mở Nước Đại Cồ Việt






Đ inh Tiên Hoàng (22/3- 924- tháng 10- 979), tên thật Đinh Bộ Lĩnh, hay Đinh Hoàn. Hoàng đế sáng lập nhà Đinh mở Nước Đại Cồ Việt của Việt Nam.

Đinh Bộ Lĩnh dẹp Loạn 12 sứ quân. Thống nhất giang sơn. Tự xưng Hoàng đế đầu tiên của nước Việt sau hơn 1000 năm Bắc thuộc.

Đại Cồ Việt- Nhà nước mở đầu thời đại độc lập, tự chủ Việt Nam.

Đinh Bộ Lĩnh xây kinh đô Hoa Lư. Lập Nước Đại Cồ Việt với tư cách Thủ lĩnh một vương triều tự chủ. Đinh Bộ Lĩnh khẳng định vị thế vững chắc của một Quốc gia độc lập, thống nhất qua các triều đại Đinh- Lê- Lý- Trần. Buộc các triều đại nước Tàu phải công nhận Việt Nam là một nước độc lập. Từ đó, các vua Việt Nam xưng Hoàng đế chính thống.

Đinh Bộ Lĩnh- Cờ lau- Vua của mục đồng

Đinh Bộ Lĩnh sinh ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương- Gia Viễn- Ninh Bình). Cha của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ, thứ sử Hoan Châu, tướng của Dương Đình Nghệ. Cha mất sớm. Đinh Bộ Lĩnh theo mẹ về Gia Viễn. Nương nhờ chú ruột Đinh Thúc Dự.

Tuổi thơ Đinh Bộ Lĩnh đã tỏ rõ tài chỉ huy. Cậu cùng các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ. Bày trận đánh nhau. Trong đám bạn đó, có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú. Sau là những vị tướng, cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp Loạn 12 sứ quân.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép:

"Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự hiểu kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn ông làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi, thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho bọn chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, Chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn". Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo. Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua. Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy. Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương."

Đinh Bộ Lĩnh- Tả xung hữu đột- Dẹp Loạn 12 sứ quân

Năm 951. Đinh Bộ Lĩnh tập hợp dân vùng Hoa Lư. Ông cùng con trai Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Đinh Bộ Lĩnh cưới Trần Nương, thành con rể Trần Minh Công. Trần Minh Công mất. Đinh Bộ Lĩnh thay quyền. Đưa quân về Hoa Lư. Chiêu mộ binh lính. Chống nhà Ngô và các sứ quân khác.

Mở đầu sự nghiệp dẹp loạn. Đinh Bộ Lĩnh đánh bại lực lượng Lữ Xử Bình và Kiều Công Hãn ở triều đình Cổ Loa. Là những quyền thần nhà Ngô trực tiếp tranh ngôi vua.

Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc rất mạnh. Có thành cao, hào sâu. Theo thần phả Độc nhĩ đại vương ở Thanh Oai. Đỗ Cảnh Thạc trí dũng mưu lược. Đinh Bộ Lĩnh bàn mưu, tính kế. Ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân vây bốn mặt thành, tiến đánh bất ngờ vào Trại Quyền. Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà. Quân tướng không ứng cứu được nhau. Bị mất thành luỹ, đồn trại, lương thực. Bỏ thành chạy. Giao tranh hơn một năm. Đinh Bộ Lĩnh hạ được thành. Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên chết.

Sứ quân Nguyễn Siêu chiếm Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội). Được tin Đinh Bộ Lĩnh sắp đánh. Nguyễn Siêu đem 1 vạn quân đóng ở Thanh Đàm dùng Nguyễn Trí Khả làm tiên phong. Trần Côn làm tá dực. Nguyễn Hiền làm tổng quản các đạo quân. Ngày đêm luyện tập, đào hào đắp luỹ, phòng bị. Trận giao tranh đầu tiên. Đinh Bộ Lĩnh mất bốn tướng: Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn. Lần thứ hai. Đinh Bộ Lĩnh bày binh bố trận giao chiến. Nguyễn Siêu chia một nửa quân ở lại giữ thành. Một nửa cùng sứ tướng vượt sông tìm viện binh của các sứ tướng khác. Gần tới bờ bắc, gặp gió lớn, thuyền đắm. Đinh Bộ Lĩnh biết tin. Sai võ sĩ nửa đêm phóng lửa đốt doanh trại. Quân Nguyễn Siêu tan. Nguyễn Siêu tử trận.

Sứ quân Kiều Công Hãn đóng tại Phong Châu. Trước thế mạnh của sứ quân Đinh Bộ Lĩnh. Kiều Công Hãn đem quân xuống phía nam, hợp sức với Ngô Xương Xí. Khi đến thôn Vạn Diệp (Xã Nam Phong, Nam Trực, Nam Định) bị hào trưởng địa phương Nguyễn Tấn đem quân chặn đánh. Kiều Công Hãn bị thương chạy đến Lũng Kiều thì mất.

Theo thần tích làng Tiên Xá. Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du không chống nổi Đinh Bộ Lĩnh. Bỏ chạy về Cần Hải (Cửa Cồn, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đánh nhau vài trận rồi chết ở trang Hương Ái.

Cuối năm 967. Đinh Bộ Lĩnh dẫn quân lên vùng Tam Đái. Nguyễn Khoan chống không nổi, tử trận. Hai tướng và hai bà vợ của ông, tự vẫn ở Ao Nâu, cạnh gò Đồng Đậu.

Đinh Bộ Lĩnh tấn công thành Hồi Hồ. Tướng quân Kiều Thuận chống không nổi. Vượt sông Hồng chạy sang thành Mè kết hợp với Ma Xuân Trường, chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh đánh chiếm thành Mè. Kiều Thuận tử trận. Ma Xuân Trường chạy lên Yên Bái trốn thoát. Ngày nay, thị xã Phú Thọ còn dấu tích thành Mè. Làng Trù Mật xã Văn Lung thị xã Phú Thọ có đền thờ Ma Xuân Trường và Kiều Thuận.

Theo thần tích xã Bình Sơn (Thuận Thành- Bắc Ninh) sứ quân Lý Khuê đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh bị thua. Lý Khuê mất ở làng Dương Xá (Gia Lâm- Hà Nội).

Đầu năm 968. Sau khi chiếm lại vùng Bắc Ninh, do các sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp và Lý Khuê cát cứ. Đinh Bộ Lĩnh chuyển quân về Siêu Loại. Cho Đinh Liễn và Nguyễn Bặc đem ba ngàn quân tiến đánh quân Lã Đường. Lã Đường tản quân. Đóng giữ chỗ hiểm yếu, rậm rạp, bùn lầy. Quân Hoa Lư đi đông, tránh. Đi lẻ chặn đánh, diệt một vài lính, rồi bỏ chạy. Nguyễn Bặc bày kế cho quân Hoa Lư tập trung. Tập kích quân lương tiếp vận của quân Lã Đường. Trong bảy ngày, vòng đai phòng thủ bên ngoài của quân Lã Đường bị diệt. Đinh Liễn, Nguyễn Bặc đánh sâu vào trung tâm. Bắt Lã Đường, chém chết. Thu đất Tế Giang.

Cuộc chiến thắng của họ Đinh vang dội. Những hào kiệt của Giao Châu đều quy phục dưới cờ Đinh Bộ Lĩnh. Bảy anh hùng Giao Châu tụ hội: Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng. Đinh Bộ Lĩnh được dân tôn Vạn Thắng Vương.

Đinh Bộ Lĩnh khôn khéo chiêu hàng

Để dẹp loạn và thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh dùng chính trị, kết hợp quân sự. Khi lực lượng yếu, ông liên kết với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình) thu phục Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hưng Yên) về làm Thân vệ tướng quân. Khi đủ mạnh, Đinh Bộ Lĩnh không tiêu diệt, mà hàng phục Ngô Nhật Khánh, Đường Lâm (Hà Nội). Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hóa) vốn là những hậu duệ nhà Ngô, để lấy lòng thiên hạ.

Chỉ vài năm. Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh thắng 11 sứ quân khác. Năm 968. Nội chiến kết thúc. Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là do tụ hợp lòng dân oán hận giặc nội. Loạn 12 sứ quân- vết nhơ không thể chấp nhận. Loạn tranh Quyền/ Tiền trong nước là miếng mồi béo bở cho nước Tàu. Kéo quân sang cướp nước Việt.

Vua Đinh Tiên Hoàng sớm chấm dứt Loạn 12 sứ quân kịp thời. Không lâu sau đó. Nhà Tống duỗi tới Quảng Châu, diệt nước Nam Hán (971). Áp sát biên giới Đại Cồ Việt.

Đinh Tiên Hoàng & Kinh đô Đại Cồ Việt

Năm Mậu Thìn 968. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ.

Đinh Tiên Hoàng phong Nguyễn Bặc là Định Quốc công. Đinh Điền là Ngoại giáp. Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân. Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu Khuông Việt đại sư. Đạo sĩ Đặng Huyền Quang làm Sùng chân uy nghi. Vua phong con trai Đinh Liễn là Nam Việt vương. Đinh Tiên Hoàng lập năm hoàng hậu, tít mù đánh ghen.

Sử gia Lê Văn Hưu viết về Đinh Tiên Hoàng:

           Có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết.

Hoa Lư- Cung điện điệp trùng pháo đài đá  

Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam, theo Quốc lộ 1A. Cố đô Hoa Lư thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư- Ninh Bình. Năm 968. Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư. Một vùng núi non kỳ vĩ, hiểm trở làm kinh đô.  

Đinh Tiên Hoàng xây cung điện, đặt triều nghi. Đắp thành. Đào hào. Dựa thế núi xây một công trình phòng ngự kiên cố như một pháo đài hiểm. Biệt lập với bên ngoài. Kinh đô Hoa Lư được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung. Cảnh quan thâm u. Hùng vĩ. Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch. Chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8- 10m. Nhiều đoạn tường thành, nay còn dấu vết.

Tổ Tiên Việt- Trầm tích Hoa Lư

Hoa Lư là vùng đất phù sa cổ ven chân núi. Nơi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An và một số hang động có di chỉ cư trú của con người thời Văn hoá Hoà Bình.

Sau thời Văn hoá Hoà Bình. Vùng đồng đất Hoa Lư là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Quần thể di sản thế giới Tràng An ở Hoa Lư còn lưu giữ nhiều di vật của người tiền sử từ 30.000 năm trước. Cách nay từ 251 đến 200 triệu năm. Tràng An vốn là vùng biển cổ. Các hang động kasrt được hình thành cách đây 4.000 năm. Đặc sắc nằm ngang xuyên qua lòng các dãy núi lớn. Ngập nước thường xuyên.

Hoa Lư thời Hồng Bàng thuộc bộ Quân Ninh. Thời An Dương Vương, Hoa Lư thuộc bộ lạc Câu Lậu.

Từ thời thuộc Hán qua Tam Quốc đến thời Nam Bắc triều, vùng cố đô Hoa Lư thuộc huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ. Sang thời thuộc Đường, Hoa Lư thuộc Trường châu.

Kinh đô Hoa Lư- Con người hòa Thiên nhiên

Theo quehuong.org.vn. Vua Đinh Tiên Hoàng biết khai thác triệt để thiên nhiên, phục vụ con người. Lối kiến trúc này tiết kiệm tối đa sức người, sức của. Kinh đô Hoa Lư là một quân thành vững chắc. Do con người biết dựa vào thiên nhiên. Phía Bắc thành nằm bên sông Hoàng Long. Đường giao thông thủy thuận tiện. Khu vực Thành Ngoại, nay thuộc thôn Yên Thượng, Yên Thành, xã Trường Yên, là cung điện chính. Nơi vua Đinh cắm cờ nước, hiện là đền thờ vua Đinh, vua Lê. Trước cung điện có núi Mã Yên. Vua Đinh Tiên Hoàng lấy núi này làm án.

Tại thôn Yên Thành hiện vẫn còn nhiều đền, chùa. Là một phần kiến trúc trong khu cung điện chính. Chùa Nhất Trụ, xây từ đời vua Lê Hoàn. Trước cửa chùa có cột Kinh bằng đá, cao 4,16m hình tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm do nhà vua làm, dâng Phật.

Liền đó là đền Phất Kim- thờ con gái thứ ba của vua Đinh Tiên Hoàng. Cô công chúa, nhảy xuống giếng tự vẫn. Không theo người chồng phản tặc. Chống lại vua cha.

Thành Ngoại hiện còn nhiều chùa cổ, xây thời nhà Đinh: chùa Đìa, chùa Tháp, Bà Ngô. Khu Thành Nội rộng hơn, ăn thông với Thành Ngoại bằng một ngách núi, gọi là Quèn Vòng với những cầu Đông, cầu Rền... bằng đá.

Bên ngoài thành có nhiều trạm gác bảo vệ. Kinh thành nằm giữa những quả núi lớn bao bọc xung quanh. Thuận lợi cho phòng thủ, tiến công, xa biên giới. Gây khó cho giặc Tàu, mở những đợt tấn công chớp nhoáng.

Phía đông bắc thành có núi Cột Cờ. Nơi vua Đinh cắm cờ Tổ quốc. Gần đó là nơi vua đứng duyệt thủy quân trên sông Sào Khê. Hang Muối, hang Tiền... vua cất giữ lương thực, ngân khố.

Phía đông nam khu Thành Ngoại có động Am Tiên lưng chừng núi. Nơi vua Đinh nuôi nhốt hổ báo. Trị những kẻ có tội. Dưới chân núi là Ao Giải. Nơi vua nuôi con Giải, ném những tội phạm xuống ao cho Giải ăn.

Sau Loạn 12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng dùng bạo quyền chế ngự thiên hạ. Đặt vạc lớn ở sân triều. Nuôi hổ dữ trong cũi. Hạ lệnh: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người sợ. Không ai dám ngo ngoe.

Lê Hoàn làm vua, xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy. Kinh đô Hoa Lư càng hoàn chỉnh. 42 năm tồn tại (968- 1010). Kinh đô Hoa Lư là đại bản doanh của hai vị vua kiêm Tổng tư lệnh quân đội: Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Đây là nơi ra đời của nhà Lý.

Ngay trước đền Đinh. Đỉnh Mã Yên Sơn cao 265 bậc là lăng mộ vua Đinh. Nơi nhân dân đã đưa thi hài Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng lên an táng. Đinh Tiên Hoàng bất tử. Vua như còn ngồi trên yên ngựa, cứu dân, cứu nước.

Gần đây, khảo cổ phát hiện và khai quật dưới tầng đất giữa hai đền vua Đinh, vua Lê vốn là nền cung điện cách đây trên 1.000 năm nhiều hiện vật quý. Minh chứng cho những công trình kiến trúc của cố đô Hoa Lư. Và trình độ phát triển về kiến trúc, nghệ thuật, kinh tế, văn hóa xã hội, của dân tộc Việt hơn 1000 năm trước.

Đinh Tiên Hoàng & Đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo

Theo Wikipedia. Thái Bình Hưng Bảo là tên gọi đồng tiền đầu tiên của Việt Nam. Do Đinh Tiên Hoàng cho đúc bắt đầu từ năm 970. Đây được xác định là đồng tiền xưa nhất do một triều đại của người Việt đúc. Tiền Thái Bình Hưng Bảo góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa mà Đinh Tiên Hoàng xác lập.

Ngàn năm Bắc thuộc, không có đồng tiền riêng

Dằng dặc ngàn năm Bắc thuộc. Người Việt Không có đồng tiền riêng để trao đổi, kinh doanh. Nhà Ðinh đúc tiền và phát hành tiền Việt, lần đầu tiên trong lịch sử. Đó là đồng Thái Bình Hưng Bảo mặt sau có chữ Ðinh. Đó là đồng tiền nhà Đinh sản xuất, lưu hành. Không thể nhầm với bất kỳ đồng tiền nào khác trong và ngoài nước.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư. Năm 976. Thuyền buôn nước ngoài cập bến Đại Cồ Việt. Hoa Lư là một thương cảng lớn. Sông Hoàng Long là một tuyến giao thông quan trọng.

Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu Thái Bình và cho đúc tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đinh Toàn lên kế vị vẫn dùng niên hiệu Thái Bình.

Thái Bình Hưng Bảo- Biểu tựơng Trời & Đất

Đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo cũng như các tiền khác sau này các triều đại Việt Nam cho đúc, đều bằng đồng. Hình tròn, lỗ vuông, biểu tượng Trời và Đất theo quan niệm của Tổ Tiên Việt. Tư tưởng này được gìn giữ, phát triển nhất quán trong việc đúc tiền của các triều vua Việt Nam. Triều vua cuối cùng, đồng tiền Bảo Ðại Thông Bảo của vua Bảo Ðại vẫn giữ biểu tượng Trời & Đất.

Đồng tiền cổ nhất Việt Nam hiện lưu giữ tại phòng truyền thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Khảo cổ học cho thấy Thái Bình Hưng Bảo có ba loạt khác nhau. Cả ba loạt đều có lỗ hình vuông ở giữa và có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22 mm. Cả ba loạt đều có mặt trước ghi chữ Thái Bình Hưng Bảo bằng chữ Hán. Mặt sau, có chữ Đinh.

Sử liệu Tàu, ghi Đinh Tiên Hoàng đúc tiền. Dựa vào đó Bành Tín Uy viết: “Năm 970 Đinh Bộ Lĩnh ở Việt Nam đúc tiền Thái Bình Hưng Bảo”.

Thời Tiền Lê. Lê Hoàn cho lập xưởng đúc tiền Thiên Phúc Trấn Bảo. Tiền Thiên Phúc kế thừa hình dáng và kích thước như tiền thời Đinh. Hình tròn, đường kính 2,2 - 2,4cm. Giữa có lỗ hình vuông, mặt trước có chữ viết chân phương niên hiệu của triều đại. Mặt sau lưng có chữ Lê, chữ đúc gọn nổi sắc nét. Tiền Thiên Phúc tìm được ở nhiều nơi: cố đô Hoa Lư, hoàng thành Thăng Long, thương cảng Vân Đồn…

Bên cạnh những đồng tiền do nhà nước độc lập Việt phát hành. Đồng tiền Tàu cũng được dùng trong thông thương Đại Cồ Việt, là ngoại tệ. Hoạt động kinh tế, thương mại hai đồng tiền Việt và Tàu dùng song song.

Kinh đô Hoa Lư- Đêm trước Kinh thành Thăng Long

Việc Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, không chọn Cổ Loa của nhà Ngô hay Đại La thời Bắc thuộc, được nhà nghiên cứu Lê Văn Siêu xem là quyết định khôn ngoan. Hoa Lư nằm ở trung tâm đất nước thời đó, khống chế được cả khu vực sơn cước từ Thanh Hóa đổ ra, sông Đà đổ xuống. Thêm địa thế vừa hùng, vừa hiểm, có thể cầm cự với Trung Hoa. Chọn Hoa Lư quê hương làm kinh đô. Đinh Tiên Hoàng có thêm sức mạnh nhân hòa. Bởi do thời Loạn 12 sứ quân nhân dân các vùng khác còn hoài nhớ về sứ quân của họ.

Hoa Lư- Kinh đô đầu tiên của Việt Nam tồn tại 42 năm (968 - 1010), gắn với sự nghiệp của ba triều đại liên tiếp: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý. Với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Sau này các triều đại nhà Trần, nhà Tây Sơn đều xây dựng phòng tuyến ở vùng đất này, làm nên những chiến công vang dội.

Dời đô ra thành Đại La (Thăng Long). Tưởng niệm Đinh Tiên Hoàng, đặt nền móng xây dựng độc lập, tự chủ nước Việt, thương nhớ cố đô Hoa Lư. Lý Thái Tổ lấy tên một số cầu, chùa ở kinh đô Hoa Lư, đặt cho nhiều nơi ở Thăng Long: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, chùa Một Cột...

Chúng tôi nhiều lần về thăm Kinh đô Hoa Lư. Những ngọn núi ôm ấp những cánh đồng, dòng sông cổ xưa, ngân nga tiếng Mục Đồng Ca.

Mục Đồng Ca

“Ai bảo trẻ chăn trâu khờ dại/ Trâu với người cày bừa khai hoang/ Kiến tạo đồng lúa nước huy hoàng/ Thuở hồng hoang trâu, người bầu bạn/ Con trâu là đầu cơ nghiệp/ Người không thể kéo cày thay trâu/ Mục đồng trên lưng trâu ung dung/ Thổi sáo ngắm non cao lồng lộng/ Mở tầm mắt nhìn Ông Trời, trăng sao/ Ngắm núi sông, bao la vàng lúa/ Trông rõ tấm lưng còng của mẹ/ Cắm cúi xuống đồng cạn, đồng sâu/ Một nắng hai sương, kiếp dãi dầu/ Ngửa mặt trông trời, đất, mây, mưa/ Gánh gạo đưa chồng đi đánh giặc/ Giặc ngoài chưa hết, lại giặc trong/ Nồi da, xáo thịt, tranh Quyền/ Tiền/ Ngồi không yên, mục đồng vụt lớn/ Cầm quân đứng dậy, cứu mẹ già/ Thánh Gióng là thật, máu xương dân/ Sức mạnh Lòng Dân sánh Thánh Thần/ Vùng dậy, hơn ngàn năm Bắc thuộc/ Nước Tàu đồng hóa, không xóa diệt/ Người Lĩnh Nam- Bách Việt trường tồn/ Tâm linh Việt chuyển sóng Biển Đông/ Ai bảo trẻ mục đồng yếu thế/ Yết Kiêu hùng khí diệt giặc Tàu/ Như vũ bão Trâu Thần Việt tộc/ Tỉnh ngộ đi, Sử Việt truyền kỳ/ Tỉnh ngộ sớm, đỡ phiền nhân loại/ Tốn máu xương, những thiên kỷ buồn/ Mục đồng ca, đời người hữu hạn/ Xâm lược, cướp tranh, vạn cốt khô/ Chết đày Âm phủ, đọa ngục tù/ Mục đồng ca, diều sáo vi vu/ Sống Thiện, Chết lành, Sáng thiên thu/ Mục đồng ca, quan họ ru Tình/ Bình minh xanh, đồng lúa chín vàng/ Những con đò, lỡ bước sang ngang/ Mục đồng ca, lưng trâu rộn ràng”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 10.12.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004