Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH

TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU,

TRONG FAUST CỦA JOHANN WOLFGANG GOETHE                            






T ác giả của Truyện Kiều và kịch Faust là Nguyễn Du  và Johann Wolfgang Goethe.  Hai đại văn hào đều sống vào nửa  cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX.  Cả hai  (1)  đều là dòng dõi thế phiệt trâm anh, thiên tư dĩnh ngộ.Cả hai đều được hưởng một nền học vấn nhân văn uyên thâm của dòng họ.  Nguyễn Du  (1765-1820) sinh ra ở Việt Nam và chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Đông.  J.W.Goethe  (1749-1832) sinh ra ở Đức và chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây.

   Con người, từ thưở xa xưa (ngày nay cũng vậy) đã biết dùng văn học nghệ thuật để phản ánh hiện thực cuộc sống (trực tiếp hay gián tiếp, ám chỉ).   Truyện Kiều mượn bối cảnh lịch sử Trung Quốc (2),  nhưng lại đặt Kiều vào khung cảnh xã hội  giống như khung cảnh xã hội  Nguyễn Du đang sống (ám chỉ phong kiến Việt Nam  thế kỷ XVIII  (3). J. W. Goethe  thông qua kịch Faust (nhân vật   dân gian Faust ở thế kỷ XVI) để ám chỉ nước Đức thế kỷ XVIII.

    Tuy hai tác giả sống vào nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhưng chủ đề ở hai tác phẩm là hai chủ đề khác nhau.  Kiều là tiếng kêu bi thương của con người tài-đức vẹn toàn, nhưng lại sống  trong những nghịch cảnh đầy oan trái.  Tác phẩm Truyện Kiều  thể hiện ý tưởng trên  của Nguyễn Du thông qua  câu chuyện kể về cuộc đời lận đận, oan trái, gian truân của Kiều, một cô gái gắng giữ cho tròn “bên tình, bên hiếu”.  Kịch Faust là sự thách đố ngạo nghễ của giai cấp tư sản Đứctrong lúc phong kiến đang suy tàn, tác phẩm thể hiện ý tưởng  trên của Johann Wolfgang Goethe thông qua câu chuyện kể về cuộc đời và nỗ lực vươn lên không ngừng trong lúc theo đuổi sự nghiệp của nhà trí thức Faust.

  Phải sau tám trăm năm phát triển, văn học Việt Nam mới có một đại văn hào là Nguyễn Du. Và văn học Đức cũng như vậy, sau một nghìn năm phát triển, văn học Đức mới có hai đại văn hào là Friedrich Schiller và Johann Wolfgang Goethe.  Các đại văn hào là những người khái quát được cái thần của sự việc, thông qua tác phẩm của mình , Nguyễn Du và Johann Wolfgang Goethe đã khái quát được nền tảng triết lý của dân tộc mình.  Vì vậy tác phẩm của họ  được mọi giai tầng ưa thích, ai cũng đọc, ai cũng cảm thấy ở đó có một phần tâm tư  tình cảm của mình.  (Truyện Kiều và kịch Faust đều được trích đọan  trong sách giáo khoa ở trường phổ thông).  Người dân  Việt Nam thường gửi gắm ít nhiều  tâm sự của mình  qua những câu thơ trong Truyện Kiều.  Nếu cuộc đời là sân khấu  thì Faust là  kịch bản của dân tộc Đức cho sân khấu đó.  Truyện Kiều của Nguyễn Du và kịch Faust của J. W. Goethe  cho ta thấy minh triết của dân tộc Việt Nam và minh triết của dân tộc Đức.

  Tiểu thuyết Kiều là triết lý tài mệnh tương đố được lý giải  thông qua cái nghiệp ( theo thuyết nhân quả của đạo Phật) mà nhân vật Kiều phải chịu đựng.

 

Kịch Faust là  triết lý về lẽ sống, về sự nghiệp của đời người thông qua sự nỗ lực không ngừng trên con đường đi tìm chân lý  cuộc đời của nhân vật Faust.

   Sợi chỉ đỏ xuyên suốt và đồng thời là nền  cho Truyện Kiều là thuyết nhất nguyên luận  (4a), một triết thuyết đại diện cho minh triết phương Đông, trong khi đó sợi chỉ đỏ xuyên suốt và đồng thời làm nền cho kịch Faust là thuyết nhị nguyên luận (4b), một triết thuyết đại diện cho minh triết phương Tây.

   Tôn giáo là đời sống tâm linh, là cái tinh tuý nhất trong đời sống tinh thần của một dân tộc.  Trong khi Truyện Kiều  phản ánh ảnh hưởng  của Phật-Nho-Lão, thì Faust phản ánh ảnh hưởng của Thiên chúa giáo.  Hai tác phẩm đều phản ánh tín ngưỡng của dân tộc mình.

   Một đặc điểm chung ta thấy ở Nguyễn Du và Johann Wolfgang Goethe là hai đại văn hào đều dựa  vào chất liệu  văn hoá dân gian về Kiều  và Faust thể hiện trong Kim Vân Kiều truyện của nhà văn Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân, trong Faust do Johannes Spies sưu tầm và cho xuất bản năm 1587 ở Frankfurt am Main (Đức), để sáng tác Truyện Kiều và Faust.

   Trong khi thời gian ở Truyện Kiều gói gọn trong một giai đọan của đời Kiều và trong không gian hẹp (15 năm trong cuộc đấu tranh  giữa thiện và ác,  giữa hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện  trong xã hội phong kiến Việt Nam) thì trong kịch Faust, thời gian trải dài suốt lịch sử loài người (đề cập tới toàn bộ lịch sử nhân lọai ), không gian rộng (cuộc đấu tranh trong xã hội Đức  nhằm giành vũ đài lịch sử giữa giai cấp tư sản đang đà phát triển  và tầng lớp phong kiến đang suy vi).

  Nguyễn Du thông qua nhân vật Kiều để diễn đạt cuộc đấu tranh  giữa thiện và ác trong nội tâm của dân tộc Việt Nam.  Tác phẩm Truyện Kiều  dừng lại ở chỗ  đoàn tụ của Kiều-Kim Trọng – ở quyền sống của người phụ nữ, ở đời sống tình cảm :”hạnh phúc trần gian”.

  Goethe thông qua nhân vật Faust và quỷ Mephisto để biểu đạt cái tương phản  giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái bản năng  cao thượng và cái bản năng thấp hèn  -  cái tính người và cái tính thú (vật ở mỗi con người chúng ta trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa sự vươn lên và sức ì trì trệ mà ta thường gọi là giữa thiện và ác) – trong nội tâm từng con người.  Trong kịch của mình, Goethe đi từ tình cảm (tình yêu ở kịch Faust I) đến lý trí (đi tìm ý nghĩa cuộc đời trong kịch Faust II)- từ vấn đề cá nhân một người (Faust), tới vấn đề lớn của nhân lọai (chinh phục thiên nhiên phục vụ con người).

   Để tác phẩm mang hơi thở của thời đại mình đang sống ,  Nguyễn Du và J.W.Goethe  sử dụng thể loại văn học đang thịnh hành. Truyện Kiều  được viết bằng tiếng dân tộc (Nôm) và bằng thể truyện thơ lục bát- một thể lọai  văn học rất thịnh hành trong thế kỷ XVIII ở Việt Nam.  Truyện Kiều gồm 3.254 câu thơ, theo Nguyễn Lộc  thì Nguyễn Du viết TK  trong thời gian làm cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809), theo Trần Trọng Kim thì TK được viết sau khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc về (tháng 4.1814).  Faust là kịch  được viết bằng tiếng dân tộc- tiếng Đức.  Trong lịch sử văn học Đức, kịch là thể lọai văn học thịnh hành trong Văn học Khai sáng,  Văn học Bão táp và Xung kích, kịch đạt đỉnh cao nhất trong Văn học cổ điển.   Faust là kịch thơ xen lẫn văn xuôi, gồm 12.111 câu.

  

Goethe dành tâm trí cả đời mình để viết Faust, thời trẻ viết Faust I và cho xuất bản 1808, thời gian trung niên tới cuối đời năm 1832 viết Faust II.

    Truyện Kiều và kịch Faust , mỗi tác phẩm lại có cách cấu trúc riêng của nó.  Cấu trúc của Truyện Kiều đơn tuyến, sự việc tiến triển tuần tự (gặp gỡ, biệt ly, đoàn tụ).  Nhân vật chính Kiều  được xây dựng theo thuyết  tài mệnh tương đố.  Cấu trúc của kịch Faust đa tuyến, sự việc luôn luôn vận động, nhân vật chính Faust được xây dựng theo tinh thần thế kỷ Ánh sáng : con người không ngừng vươn lên bằng cách tìm hiểu, khám phá thiên nhiên nhằm chinh phục nó và bắt nó phục vụ con người.

  Nói tới tác phẩm văn học người ta thường nhắc tới nghệ thuật trong sáng tác.  Nghệ thuật tạo nhịp thở và sức sống  cho tác phẩm.  Nguyễn Du và J.W.Goethe  đều dùng phương pháp sáng tác khuynh hướng cổ điển : mẫu người lý tưởng.  Kiều  tài sắc vẹn toàn  (con người lý tưởng thời bấy giờ), nhưng Nguyễn Du tạo ra những bước ngọăt bất ngờ thông qua tình huống éo le :  gia đình Kiều bị vu oan dẫn tới việc Kiều bán mình chuộc cha và một chuỗi những năm tháng ê chề  của đời Kiều.  Faust là ngườicó học vấn đa ngành (con người lý tưởng của thế kỷ Ánh sáng),  nhưng Goethe tạo ra tình huống tình cờ có chủ ý : Faust gặp quỷ Mephisto dẫn tới giao kèo bán đổi linh hồn để thoả mãn lòng ham hiểu biết  cùng những dục vọng thấp hèn. Vì có những chuyện  không thể có xảy ra ở trần gian, nên cả Nguyễn Du và J.W.Goethe đều mượn yếu tố hoang đường , nhằm dẫn dắt câu chuyện  và dùng nó phục vụ ý tưởng gửi gắm trong tác phẩm (Truyện Kiều : Đạm Tiên báo mộng, chết đi sống lại.  Faust : sự xuất hiện của Chúa, của quỷ Mephisto).  Hoàn cảnh địa lý, lịch sử, xã hội Việt Nam và Đức hoàn toàn khác nhau, nên  con người và cách ứng xử cũng khác nhau, vì vậy cách chọn nhân vật  và giới tính cũng khác nhau.  Nguyễn Du và J.W.Goethe mượn  giới tính để biểu đạt  được cá tính và thân phận nhân vật, cái đó đồng thời là thân phận và bản sắc dân tộc :  Việt Nam phải dùng nhu để thắng cương mà tồn tại.  Đức phải cương để khẳng định chỗ đứng trong cộng đồng các nước.  Vì vậy nhân vật của Nguyễn Du là (6) một nhân vật nữ (Kiều)  có bản lĩnh, tài sắc vẹn toàn, dịu dàng đoan trang :

(7a) Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.  (câu 25,26)

Một hai nghiêng nước,  nghiêng thành,

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.  (câu 27,28)

   Kiều sống thụ động, cam phận, duy cảm phương Đông :

Đau đớn thay phận đàn bà,

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. (câu 83,84)

Hoa trôi bèo giạt đã đành,

Biết duyên mình,biết phận mình, thế thôi! (câu 219,220)

Ngẫm hay muôn sự tại trời  (câu 3241)

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao. (câu 3243,3244)

   Sau 15 năm lưu lạc với thân phận đầy gian truân khổ ải, Kiều vẫn giữ được trọn bên tình bên hiếu.   Thân phận Kiều cũng là thân phận Việt Nam trong quá khứ, và hiện tại cũng không thể khác được.

  

Goethe chọn nhân vật của mình là nam. Trong khi Kiều chọn tình thì Faust sống bằng lý trí.  Faust học các môn thời thượng bấy giờ   : Triết, Luật, Y,  Thần học và

(7b) Cần cù nghiên cứu

Dốc công gắng sức phi thường  (trang 60)

 Faust có ý chí, dám tự đi theo  con đường mình mong muốn để hiểu :

Những năng lực huyền vi,

Những mầm sinh vạn thưở  (trang 61)

   Về bản chất, Faust là mẫu người lý tưởng trong buổi giao thời phong kiến-tư sản. Trong khi Kiều thụ động thì Faust sống chủ động :

(8a) Khởi thủy là hành động.

  Faust không chịu cam phận, duy ý chí phương Tây.  Kiều – Faust là hai cá tính tương phản.  Kiều bán mình chuộc cha và hoàn toàn bị động trong mọi tình huống, bị cuốn theo dòng chảy  của những sự kiện đầy gian truân, trắc trở, nhưng vẫn giữ được những giá trị cao quý của tâm hồn con người.  Kiều hy sinh phận mình để tròn chữ hiếu, dù gian truân, nhân phẩm bị vùi dập nhưng Kiều vẫn là Kiều với những bản tính cao đẹp  của một con người, phải chăng vì lý do này ta gọi Truyện Kiều là tiểu thuyết luân lý.

    Faust giao kèo bán linh hồn cho quỷ nhưng không bị sa lầy  níu giữ nơi dục vọng thấp hèn mà vươn ra khỏi cái bẫy của dục vọng để đi tới đích của cuộc đời mình : khai khẩn đất hoang mở mang bờ cõi. Thân phận Faust cũng là thân phận nước Đức trong quá khứ và hiện tại.  Minh chứng là việc thống nhất nước Đức năm 1990 : dùng sức mạnh của  lương tri và lý trí để giải quyết vấn đề của dân tộc Đức.   Faust  nỗ lực không ngừng, không để cho tình cảm lấn át lý trí, mà dùng lý trí dẫn đi trong đường đời.  Có phải vì thế mà Faust là kịch luân lý!

        Không ai nhảy qua được cái bóng của mình.  Thiên tài chỉ thành công trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống.  Cả Nguyễn Du lẫn J.W.Goethe đều giống nhau ở điểm này. Họ đều biết kế thừanhững tinh hoa trong nền văn học nước mình, của những lớp người đi trước và đưa nền văn học dân tộc tới đỉnh cao, đưa khó vượt ra khỏi khuôn khổ của văn học tỉnh lẻ.  Bằng tác phẩm của mình, hai đại văn hào đã nâng nền văn học  dân tộc mình trở thành một bộ phận cấu thành nền văn học thế giới.

  Cái vĩ đại nhất của Nguyễn Du và J. W. Goethe là cả hai đều làm được điều cổ nhân nói “Văn dĩ tải đạo” (Văn dùng để chở đạo), cả hai đều đề cập tới vấn đề lớn của xã hội mình đang sống và dùng thiên tài sáng tác  của mình  làm cho tác phẩm  có một sức sống riêng nhưng hoà đồng, không khiên cưỡng (nhiều nhà văn trước đó đã dùng chất liệu Kiều trong văn học dân gian  Trung Quốc, chất liệu Faust trong văn học dân gian Đức trong tác phẩm của mình,  nhưng không có tác phẩm nào đạt được tới đỉnh cao  tư tưởng và nghệ thuật bằng Truyện Kiều của Nguyễn Du và kịch Faust của J.W.Goethe.  Ở Nguyễn Du là vấn đề gang ghét ở trong cộng đồng người Việt Nam :

Chữ tài liền với chữ tai một vần.   (câu 3248)

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.  (câu 2)

   Nguyễn Du đi từ  “tài”  đến  “tâm”, từ “mệnh” (Nho giáo)đến “nghiệp” (Phật giáo) :

Đã mang lấy nghiệp vào thân.  (câu 3249)

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. (câu 3252)

 

 Ở Goethe là vấn đề đi tìm lẽ sống  đích thực ở mỗi con người Đức :

Khởi thủy là hành động.

  Hai vấn đề ấy là hai vấn đề muôn thưở.  Vấn đề Nguyễn Du đặt ra ta còn thấy rõ trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay và chúng ta còn đang đi tìm lời giải đáp cho chính thế hệ chúng ta.  Vấn đề J.W.Goethe đặt ra ta thấy rất rõ ở người Đức ngày nay :  không ngừng nỗ lực vươn lên để đạt đỉnh cao trong khoa học kỹ thuật (tính từ 1945 trở về trước, trong số những người đoạt giải Nobel  thuộc 5 lĩnh vực thì người Đức được 11 giải về Vật lý,  18 giải về hoá học, 8 giải về Y học, 5 giải về Văn học, 2 giải thưởng Nobel hoà bình).

    Chúng ta mong đợi ở những nhà văn Việt Nam một hình tượng nhân vật rất đặc trưng Việt Nam : có tính hy sinh  cao cả như  Kiều  (9a chữ tâm ở Kiều  chính là chữ tình do hiếu mà ra), nhưng lại có (9b) cái tâm   (tâm này là cái lý) nhân cách và bản lĩnh của thời đại hôm nay để giải quyết những vấn đề do xã hội và cuộc sống đặt ra (nhưng có tình và có lý như trong truyền thống dân tộc Việt Nam).

    Tình yêu của Kiều –Kim Trọng,  Gretchen – Faust là những mối tình chân thực, trong sáng.  Cả hai nhân vật nữ đều cam chịu trước hoàn cảnh, nhân vật nam Kim Trọng bất lực và chấp nhận dung hoà (lấy em Thúy Kiều là Thúy Vân).  Faust nỗ lực tự vượt qua tâm trạng đau buồn nhất thời  (người yêu chết) để đi tiếp, theo đuổi một cuộc sống hữu ích  cho nhân lọai.

  So sánh hai mối tình Kiều-Từ Hải, Gretchen-Faust  thì Từ Hải thất bại vì nghe theo lời Kiều (theo nếp sống Nho giáo),  Gretchen thất bại vì không nghe lời Faust (theo đời sống mới tư sản) trốn khỏi nhà tù, mà cam chịu trước hoàn cảnh.

    Thông qua Truyện Kiều và kịch Faust, ta thấy (10) Nguyễn Du và J.W.Goethe đã gửi gắm tâm tư của mình.  Nguyễn Du tự nhủ : Hãy cố sống, hãy cam chịu và cố giữ bản chất tốt đẹp của mình!   Còn phương châm của Goethe là:  Hãy nỗ lực vươn lên,hành động để khẳng định bản chất cao thượng của con người !

   Truyện Kiều phản ánh được  nét tâm tư nổi bật nhất trong bản sắc dân tộc Việt Nam, người Việt Nam nào cũng cảm thấy Truyện Kiều đã nói được một phần tâm tư tình cảm của mình.   Người Đức nào cũng cảm thấy mình là bóng dáng của Faust.   Cả Truyện Kiều và kịch Faust  đều phản ánh được tâm hồn  của dân tộc mình thông qua tầm cao tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.  Cả hai  tác phẩm đều là tác phẩm cổ điển tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam, của văn học Đức và là kiệt tác của văn học thế giới.

Chú thích

1. Xin xem  Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du, trang 297 ff., Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế kỷ XIX, nxb Gíao dục, 2001

Xin xem trang 97, Lương Văn Hồng, Đại cương văn học Đức từ khởi thủy tới 2002,  NXB Văn học, Hà Nội, 2003

2. Rằng : Năm Gia Tĩnh triều Minh

Bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng

Gia tĩnh triều Minh :  Giai đọan trị vì Trung Quốc của Minh Thế Tôn – 1522-1567 (trang 19, Truyện Kiều, Đào Duy Anh hiệu khảo, chú giải, NXB Văn học, Hà Nội, 1984

3. Xin xem  Nội dung xã hội của Truyện Kiều,  trang 369 ff.   Nguyễn Lộc như trên đã dẫn

Xin xem    Nhân vật Faust thoả mãn được nhu cầu gì của xã hội đương thời ?  trang 107 ff. , Lương Văn Hồng, như trên đã dẫn

4.  (4a, 4b) Theo Thu Giang  Nguyễn Duy Cần trong Đông phương triết lý … thì Đông phương có khuynh hướngthiên về nhất nguyên luận hơn (monismus- trang 24)   Chữ triết là một danh từ không có ở Đông phương ngày xưa, nó là một danh từ du nhập … và dịch từ chữ philosophia của Hy Lạp.

Các học giả Tây phương am tường tư tưởng Đông phương nói :

 “Đông phương không có triết học, mà chỉ có đạo học mà thôi”.

 Tư tưởng Đông phương thiên về đạo học hơn là triết học, còn Tây phương thiên về Triết học hơn, triết học thuộc về nhị nguyên luận (dualismus), đạo học thuộc về nhất nguyên luận –monismus (trang 24,25,26).

5. Cũng như nhân vật dân gian Đức, Kiều là một kỹ nữ tài hoa có thật và trở thành nhân vật trong truyện dân gian Trung Quốc.

Xin xem  Lai lịch Truyện Kiều trang 324 ff. Nguyễn Lộc, như trên đã dẫn

Xin xem Từ truyện dân gian về Faustus  đến Faust của Goethe, trang

104 ff.,  Lương Văn Hồng,  như trên đã dẫn

6. Theo các nhà phong thuỷ thì Việt Nam thuộc thủy (âm/ nữ)

7. (7a, 7b) Trích theo bản Truyện Kiều, Đào Duy Anh hiệu khảo, chú giải, NXB Văn học,  Hà Nội, 1984

Trích theo bản dịch J. W. Goethe,  Faust , Đỗ Ngọan và Thế Lữ dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 1977

8. (8a)   Faust dịch kinh Thánh ra tiếng Đức, ông băn khoăn suy nghĩ nên dịch câu đầu tiên  “Khởi thủy là Lời” hay  “Khởi thủy là Tư duy”     hay “Khởi thủy là Sức mạnh”.  Cuối cùng ông quyết định dịch “Khởi thủy là Hành động”.

9. (9a, 9b)  Xin xem sách  Tâm, Triết học phương Đông, Trương Lập Văn chủ biên, Dịch giả  Tạ Phú Chính,  Nguyễn Văn Đức,  NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999

10. Xin xem trang 377,   Dương Qủang Hàm,  Việt Nam văn học sử yếu,  Bộ giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản, lần thứ 10, Saigon, 1968

Xin xem trang 280-281, Nguyễn Huyền Anh,  Việt Nam danh nhân tự điển ,  Nhà sách Khai trí, in lần thứ 3, Saigon, 1973



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 09.12.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004