Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



LẦN ĐẦU TIÊN TÔI ĐƯỢC LÀM QUEN

VỚI NHÀ THƠ NGA SERGEI ESENIN





Vào cuối năm 1972 hay đầu năm 1973, tôi không nhớ được chính xác (từ đó đã qua gần nửa thế kỷ - phải, cả nửa đời con người ta rồi còn gì - thời gian trôi qua thật nhanh!), một lần từ nơi sơ tán xa về làng quê (cần phải nói là, lúc đó là thời gian đang diễn ra cuộc chiến tranh xâm lược đường không của Mỹ chống miền Bắc Việt Nam), trở về Hà Nội, tôi nhận được đợt sách mới đặt trước qua Xunhasaba (xuất nhập khẩu sách báo Việt Nam), trong số sách mới ấy tôi lập tức để ý đến một cuốn sách của tác giả mà tên tuổi tôi đã quen: cuốn sách của Iuri Prokusev: “Sergei Esenin”, do NXB “Đetskaia literature” (“Văn học Thiếu nhi”), Moskva, 1971.

Tôi say sưa đọc cuốn sách, và đặc biệt thấy hấp dẫn và nhớ mãi bài bút ký ở đầu sách (thay Lời nói đầu), trong đó tác giả đã miêu tả bức tranh ngày lễ hội thơ tại làng Konstantinovo, quê hương của ông, ngày 2 tháng mười năm 1965, và ngày hội thơ Esenin bên mộ ông ở Moskva cùng thời gian đó:

Vào cái ngày đáng ghi nhớ đó - mồng hai tháng mười năm 1965 - từ sáng sớm người ta đã đi bộ, đi tầu, đi xe về làng Konstantinovo, một số trong họ đi tầu thủy, đi xe lửa, số khác đi nhờ xe thuận đường. Dù đường xá tồi tệ, dù thời tiết xấu đều không cản trở bước chân họ. Trong họ có những nhà thơ đã nổi danh khắp cả nước và cả những người còn đang mơ ước được công bố những bài thơ đầu tay của mình.

Những người dân Riazan, dân Moskva, người miền Nam nước Nga và người từ Xibiri xa xôi, người Leningrad và người thành phố Gorki - tất cả họ hội tụ về quê hương của Esenin từ khắp mọi miền đất nước Nga, hội tụ về để khai trương bảo tàng nhà thơ vĩ đại trong căn nhà gỗ izba bình thường.

Cho đến chiều tối người ta ùn ùn theo nhau kéo đến căn nhà thấp với những cánh bịt cửa sổ màu xanh lam để cúi chào ngôi nhà tổ ấm của nhà thơ. Họ đã kéo đến Konstantinovo cả ngày hôm sau đó - mồng 3 tháng mười (hơn ba nghìn người!), rồi sau đó còn kéo đến đấy trong tất cả những ngày tháng mười, còn đến vào cả tháng một và tháng Giêng, vào tháng ba và tháng sáu…và rồi đây sẽ mãi mãi tìm tới đây, như tìm đến Mikhalovskoie để kính viếng Puskin, đến Tarkhanư - kính viếng Lermontov, đến Volga - kính viếng Nekrasov.

Ký ức trái tim còn lưu giữ cả một sự kiện khác cũng trong những ngày ấy.

Moskva…ngôi mộ của Esenin chìm ngập trong hoa tươi. Tiếng thơ vang lên, những câu thơ từ lâu đã trở thành những danh ngôn. Nhưng ở đây, những câu thơ ấy được tiếp nhận một cách đặc biệt xúc động đến nghẹn ngào:

Tôi chẳng xót, chẳng nài, chẳng khóc

Tất cả qua đi, như khói như hương

Hoa táo trắng đã úa tàn tan tác,

Chẳng bao giờ tôi còn được trẻ trung

Một người đọc thơ Esenin, leo lên bám bên lan can hàng rào, một người khác đứng trên tảng đá cao, còn người nữa đơn giản đứng ngay dưới mặt đất. Người chen chúc chung quanh. Rất đông, đông lắm. Họ ở đây suốt từ sáng sớm”.

Ngay trong phút ấy tôi chợt nhớ đến lần đầu tiên tôi được làm quen với tên tuổi nhà thơ Nga vĩ đại này. Bấy giờ là vào năm 1959, chúng tôi đã lên năm thứ ba khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Quốc gia Moskva mang tên V.I.Lênin. Nhóm sinh viên Việt Nam chúng tôi từ năm 1954 đã trải qua hai năm học tiếng Nga và khóa chuẩn bị để vào trường Đại học. Năm tháng tiếp theo giờ chúng tôi đã lên năm thứ ba. Chúng tôi đã được nghe các bài giảng về cuộc đời sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ Nga, Xô viết. Nhưng về Esenin trong chương trình không có đả động tí gì. Ở năm thứ ba, may mắn, chúng tôi được tham gia các bài giảng ngoại khóa. Tôi ghi tên vào nghe giảng về thơ chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Bạn gái tôi trong nhóm sinh viên Việt Nam ghi tên vào ngoại khóa do một cán bộ giảng dậy trẻ là ông Iuri Prokusev phụ trách. Sau các bài giảng chúng tôi chia sẻ những điều tiếp thu được cho nhau nghe. Bạn gái tôi bấy giờ xúc động thông báo cho biết việc khám phá ra tên tuổi nhà thơ lớn Serghi Esenin, mà trước đó chúng tôi hoàn toàn chưa hay biết. Bạn kể lại nhiều điều lý thú về nhà thơ qua bài giảng của Iuri Prokusev. Sau đó qua một thời gian, đến khi kết thúc đợt thực tập sư phạm ở trường phổ thông số 70 Moskva trở về, bạn gái tôi mang về và cho tôi đọc cuốn sách tuyển tác phẩm của Esenin. Đó là tặng phẩm của lãnh đạo nhà trường kỷ niệm đợt thực tập sư phạm. Cuốn sách dày dặn, nghiêm chỉnh, hơn năm trăm trang, bìa các-tông cứng: Sergei Esenin, tuyển chọn tác phẩm (hai phần), NXB “Riađanski pisnenik”, Kiev, 1959. Tiếp theo đó, ngay trước năm cuối cùng của trường Đại học Sư phạm Quốc gia Moskva, ở quầy sách bên cửa vào trường tình cờ tôi lại gặp cuốn sách mỏng trong “Tủ sách Ngọn lửa nhỏ” do NXB “Pravda” ấn hành, N046, năm 1960: Sergei Esenin (những ghi chép văn học về tuổi thơ và niên thiếu của nhà thơ), và tác giả của nó hóa ra vẫn là Iuri Prokusev. Vậy là từ đó hai cuốn sách này được giữ gìn trong gia đình chúng tôi như những kỷ vật quý giá trong nhà.

Và rồi khi ấy, sau khi học xong và trở về nước tôi sớm có dịp giới thiệu những cuốn sách này cho một số các nhà thơ trong Hội Nhà văn Việt Nam. Sự thể là ở chỗ vào cuối thời điểm này Hội Nhà văn Việt Nam quyết định ra một tuyển thơ của các nhà thơ Xô viết nhân dịp Kỷ niệm 45 năm cách mạng tháng Mười Nga sắp tới (1917-1962). Tôi được mời vào tham gia tổ chức cuốn sách. Bấy giờ tôi chưa phải là hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhưng trước đó, còn là sinh viên khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Quốc gia Moskva, tôi đã bắt đầu dịch thơ ca Nga, Xô viết và, “điếc không sợ súng”, tôi đã gửi một số bản dịch của tôi được đăng lên báo, trong đó có báo “Văn học” của Hội Nhà văn Việt Nam. Trong công việc tiến hành làm sách “Thơ Liên Xô” tôi đề nghị bổ sung Sergei Esenin vào danh mục tuyển chọn các tác giả, và trước đó đã được nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, trưởng Ban Đối ngoại, chuẩn bị rồi. Về Esenin tôi đã dựa vào tư liệu 2 cuốn sách của mình kể cho các thành viên Ban biên tập sách, trong đó có các nhà thơ nổi tiếng như Tế Hanh, Xuân Diệu, Yến Lan… Mọi người đồng ý với đề nghị bổ sung của tôi, chỉ có điều không có bản tiếng Pháp (trước chúng tôi chủ yếu mọi người đều dịch từ bản tiếng Pháp). Bấy giờ tôi được giao chuẩn bị bản dịch nghĩa. Theo các bản dịch nghĩa của tôi, nhà thơ Xuân Diệu, ông hoàng của thơ trữ tình tình yêu, đã nhận chuyển ngữ thành thơ. Cũng như nhà thơ Huy Cận theo bản dịch nghĩa của tôi mà dịch trích đoạn trường ca Tiếng nói Châu Á, giải thưởng Lênin 1960, của nhà thơ Tadjich -Tursun - Jade.

Tôi tiếp tục làm quen với Esenin qua các nguồn tư liệu phong phú trong báo chí Xô viết lúc đó được gửi sang ta đều đặn theo đường xuất nhập khẩu báo chí. Và đến dịp kỷ niệm 70 năm sinh của S.Esenin dựa vào tài liệu đọc được tôi viết một bài viết ngắn cho báo Văn nghệ với tên Một hồn thơ Nga. Cũng phải nói, bấy giờ chiến tranh đã bắt đầu, nên ở ta nói chung chẳng còn nghĩ đến các dịp lễ lạc kỷ niệm danh nhân. Bài viết của tôi thành ra là bài kỷ niệm duy nhất.

Nhưng qua một năm cuộc sống dần dần quen, mọi cái đâu vào đấy, mặc dù cuộc chiến tranh không quân của Mỹ mỗi ngày một khốc liệt hơn. Năm 1966, NXB “Văn học” đã cho ra đời tập thơ dịch Thơ Puskin ngay “dưới bom đạn Mỹ”. Bạn đọc nồng nhiệt đón tiếp cuốn sách này và số bản khá cao trong thời gian ngắn dù tiêu thụ hết. Thành công của cuốn sách động viên tất cả chúng tôi, những người làm sách ở NXB “Văn học”, đặc biệt trong đó có tôi, bởi vì tôi có đóng góp nhất định cho sách ra đời. Thêm vào đó trong tuyển dịch thơ Puskin đầu tiên ra ở ta này, tôi có đóng góp một số lượng khá các bản dịch.Và thành công của cuốn sách này đã cổ vũ tôi nảy sinh sáng kiến ra tiếp tuyển thơ dịch ra tiếng Việt của hai nhà thơ Nga ở thời kỳ đầu Xô viết: Aleksandr Blok và Sergei Esenin.

Thơ Blok và Esenin ra ở NXB Văn Học, Hà Nội, 1983. Trong tập sách này không kể thơ của Blok, riêng phần thơ của Esenin có tới 45 bản dịch từ 42 bài thơ nguyên tác do 7 dịch giả thực hiện, trong đó chỉ có hai dịch giả - nhà thơ thế hệ đàn anh, còn năm người khác là những dịch giả trẻ dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Nga. Và chỉ sau khi cuốn sách ra đời ít lâu trong sách giáo khoa lớp 12 trường phổ thông ở Việt Nam lần đầu tiên đã đưa vào giảng dậy 3 bài thơ của Sergei Esenin: “Lá thư gửi mẹ”, “Ôi, nước Nga thân thiết của tôi ơi” và “Nước Nga Xô viết”.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 09.12.2015.