Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VIỆC TRUYỀN Y BÁT LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH HIỂU ĐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO?





(tiếp theo kỳ trước)


Q ua một số trích dẫn trên, ta có thể đánh giá được ai hành theo đúng lời Phật dạy, ai chưa, vì còn đuổi theo hình tướng bên ngoài, bỏ quên Chùa Vô Tướng là thanh tịnh địa, PHẬT là sự giải Thoát nơi Tâm của mình. Như vậy, nếu người tu dù hình tướng đầy đủ như thế nào mà không điều phục được cái Tâm, vẫn còn Tham, Sân, Si, Mạn… thì ta có quyền nghi ngờ là họ chưa thực hiện đúng như lời Phật dạy.

Dù thời buổi này vàng thau lẫn lộn, thật giả khó phân, vì ai cũng mang hình tướng của Phật. Nhưng chỉ cần chúng ta đối chiếu lại với cuộc sống của Phật và Chư Tổ ngày xưa: Phật sống một đời đạm bạc, chỉ đi chân trần, mặc y bằng vải liệm thi mà người đời bỏ đi. Ngụ ở cội cây hay trong rừng. Chư Tổ cũng một Y, một Bát. Chỉ ăn vừa đủ để cái Thân khỏi bệnh, khỏi đói để truyền Đạo. Đã đành thời buổi văn minh, người tu cũng không nên cố chấp, vẫn có quyền sử dụng phương tiện của thế gian để hành đạo. Nhưng trong khi ta nói rằng chê chán thế gian để đi tu, mà sử dụng phương tiện của đời một cách xa xỉ, làm hao tổn tiền bạc của bá tánh liệu có xứng đáng là đệ tử của Phật hay không?

Trong khi có một phóng sự mà chỉ trong vòng 4 giờ được đưa lên thì đã có hơn 7 triệu người chia sẻ. Đó là một ngôi làng tên Hokse, cách thủ đô Kathmandu của Nepal chỉ 20km có hàng ngàn người không ai còn đủ hai quả thận! Họ đã phải bán đi một quả để lấy một số tiền ít ỏi, chỉ 1.500 bảng Anh, có khi còn kém hơn. Có người đã dùng số tiền đó để xây nhà cho gia đình, rồi một số cũng đã bị sụp đổ theo các trận động đất ngày 29/7 vừa qua, thì ngày 12/8 báo Dân Trí dẫn nguồn từ truyền thông Ấn Độ, đăng tin một ngôi chùa được cho là giàu nhất Ấn Độ có tên là Tirumala, ở Bang Andhra Pradesh, miền Nam Ấn Độ thông báo sẽ gởi 4,5 tấn vàng vào Ngân Hàng. Theo lãi suất hiện hành thì chùa sẽ nhận được lãi là 80 ký lô vàng hàng năm! Không biết Chùa đó có bao nhiêu Sư, Tăng? Họ chỉ ăn chay và mặc Cà Sa thì tiêu gì cho hết 80 ký vàng (tương đương hơn 2.000 lượng vàng) trong 1 năm? Người tu hành đã cho là chê đời, bỏ đời, thì lại có quá nhiều của cải quý giá của trần tục mà nhiều người làm quần quật cả đời không kiếm ra! Nhưng chưa hết, Chùa vẫn còn giữ lại khoảng 1 tấn vàng nữa! Số 5,5 tấn vàng có giá trị khoảng 13,2 tỷ rupi (hơn 4,513 tỷ VND), và người ta ước tính số tài sản tích lũy nhiều năm qua tại các Chùa Đền ở Ấn Độ có giá trị lên đến hàng tỷ đô la dưới dạng vàng trang sức, vàng thỏi và tiền xu. So với thời Phật, Ngài và chư Đệ Tử chỉ “một Y, một nạp”, ở trong rừng hay cội cây, thì tu sĩ ngày nay giàu hơn rất nhiều! Phải chăng “Con hơn cha là nhà có phúc”?

Lẽ ra khi đất nước đang gặp khó khăn, người dân quá khốn đốn thì chùa nên xuất kho cứu tế mới đúng. Hay các vị chỉ quen vận động người khác, coi như người đời tự thu xếp mà giúp đỡ nhau, các Ngài đã bỏ hết việc đời? Nhưng nếu trong khi bá tánh đang lầm than mà chỉ lo tập trung tiền của để tôn tạo Chùa, tượng, thì tôi tin chắc chẳng có Phật nào hoan hỉ, nếu không nói là đau lòng thấy rằng đệ tử Ngài đã vô tâm, vô cảm trước nỗi đau của bá tánh! Hồi tưởng lại những gì làm mình mến mộ Đạo Phật đến bỏ hết mấy mươi năm của cuộc đời để nghiền ngẫm con đường tu hành, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ lại 4 câu Kệ nói về đời sống thanh bần, an lạc, thong dong của các bậc tu hành chân chính ngày xưa sao mà thánh thiện, nhẹ nhõm, thanh cao đáng ngưỡng mộ vô cùng. Tiếc thay, bây giờ hình ảnh đó không còn nữa!

Bình Bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Mắt xanh xem người thế

Mây trắng hỏi đường qua!

Xét về mặt hình tướng thì đến nay Đạo Phật có vẻ phát triển mạnh. Người tin theo ngày càng đông. Chùa Chiền càng lúc càng xây nhiều thêm, hoành tráng hơn. Nhưng nếu Phật Tử thay vì Tự Độ thì ngày càng tin tưởng, tôn thờ, cầu xin Phật, việc gì cũng phó thác cho Phật, thì rõ ràng họ chỉ khác những tôn giáo Thần Quyền ở chỗ thay hình ảnh Thượng Đế bằng Phật mà thôi. Có điều không hiểu tại sao vào thời đại này rồi mà nhiều người không hề thắc mắc: Đã xưng là ĐỆ TỬ Phật tức là CON, là EM của Phật, nhưng tại sao con mà không nối nghiệp cho Cha, không vào nhà để hưởng gia tài, mà ngày ngày phải khói hương quỳ lạy Cha để cầu xin? Đã xưng là CON PHẬT mà không nhìn nhận là mình có PHẬT TÁNH, tức là CHÚNG TỬ PHẬT, chỉ cần phát huy để cũng được Thành Phật, lại nhất định chối bỏ, chỉ nhận mình là Chúng Sinh để cầu xin Phật Độ cho, trong khi Phật dạy mọi người phải TỰ ĐỘ?

Kết luận: Cho tới thời này thì hình ảnh Đức Phật đã bị thổi phồng một cách quá đáng bởi những người không hiểu và những người lợi dụng Đạo Phật. Nhưng nếu người Phật Tử không bị lóa mắt với những gì được rao giảng về thần thông, phép mầu, cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới của Phật, mà thận trọng tìm hiểu sẽ thấy: MỤC ĐÍCH của Đạo Phật là để người tin tưởng, hành trì theo sẽ được Thoát Khổ, nên Đạo Phật còn được gọi là Đạo ĐỘ KHỔ. PHƯƠNG TIỆN là Giáo Pháp, người tu phải theo đó mà Soi, Quán rồi hành trì theo. KẾT QUẢ của Đạo Phật chỉ là được Thoát Khổ, Thoát SINH TỬ LUÂN HỒI. Phật không có cứu độ cho, nên người tu phải tự mình hành trì để tự cứu lấy mình gọi là TỰ ĐỘ. Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo dạy thờ phụng Phật để nương tựa, cầu xin, mà chỉ là CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT. Con đường này có giá trị xuyên thời gian, không gian, cho nên dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai, hay ở bất cứ nơi đâu, chỉ cần hành trì theo hướng dẫn của Đạo đều sẽ thành tựu như nhau.

Thời mới khai đạo, Đức Thích Ca biết con người không dễ dàng dứt bỏ đam mê vật chất trần gian, nên Ngài đã dùng rất nhiều Phương Tiện, mô tả Nước Phật với nhiều châu báu và Chư Bồ Tát có đủ thần thông để cứu độ chúng sinh... để người dù chưa biết giá trị của Đạo cũng sẽ nhờ ham thích mà hướng về đó để bớt đi những cái tham đắm đang làm cho phiền não. Nhưng khi đối chiếu với con đường tu hành thì biết rằng những cảnh giới đó là Phật diễn tả nơi CÕI TÂM của mỗi chúng ta. PHẬT là sự Giải Thoát, không còn phiền não, được thanh tịnh, an ổn. CHÚNG SINH là những tư tưởng còn nhiễm những tính chất xấu xa, còn loạn động, còn khởi những ác tâm. BỒ TÁT là những tư tưởng đã thanh tịnh, an ổn, nhưng không nghỉ ngơi, mà làm công việc giải thích, hướng dẫn cho Chúng Sinh, cho nó bỏ đi những toan tính xấu xa, để bản thân cũng được an ổn. Khi làm cho một Chúng Sinh được an ổn gọi là ĐƯA MỘT CHÚNG SINH THÀNH PHẬT. Chừng nào Cõi Tâm trở thành thanh tịnh, không còn những Chúng Sinh thì gọi đó là PHẬT QUỐC hay Niết Bàn.

Tất cả những gì Phật giảng nói đều nhằm mục đích chỉ ra cái Khổ của kiếp sống để người nào ý thức được thì theo sự hướng dẫn của Ngài sẽ được Thoát Khổ. Phật không hề dạy phải phụng thờ, tôn kính Ngài, cũng không hứa độ trì cho ai, chỉ như người cha thương con, ân cần nhắn nhủ con cái nên đi theo con đường Ngài đã mở ra để được an lạc trong cuộc sống và kiếp sau - nếu có - cũng sẽ tốt đẹp hơn.

Do thiếu đường truyền chính thống nên bất cứ ai cũng có thể rao giảng, làm cho Đạo Phật ngày càng bị hướng dẫn đi vào hình tướng, thờ cúng, cầu xin Phật, không còn là con đường quay vô để tu, sửa Thân, Tâm để được Giải Thoát nữa. Đôi khi có nhiều người nghe nói Đạo Phật vi diệu, Phật Pháp cao thâm, cũng muốn học hỏi, nhưng không biết bắt đầu từ đâu, bởi cho tới thời nay thì Đạo Phật ngoài những Bộ Chính Kinh còn được luận, giải, thêm thắt vào đó của người nhiều thời trở thành Thiên Kinh vạn quyển, làm tăng thêm phần huyền bí, cao siêu, làm người muốn tìm hiểu thêm hoang mang, không biết tin ai. Vì thế, khi muốn tìm hiểu Đạo thì phần đông chỉ biết nương tựa vào những người mang sắc áo tu hành. Nhưng công tâm mà nói, không phải vị tu hành nào cũng là bậc Chân Tu, có đủ kiến thức về Đạo để hướng dẫn cho bá tánh, mà đa phần lại hướng Phật Tử vào tôn thờ kính ngưỡng Phật, xem Phật như là một vị Thần Linh có toàn quyền ban ân, giáng phúc, làm sai lạc ý nghĩa của Đạo Giải Thoát chân chánh, biến Phật Tử thành những tín đồ chỉ biết cầu xin, nương tựa lúc sống cũng như khi chết.

Là người đã bỏ khá nhiều năm để đúc kết Giáo Pháp của Đạo Phật, đối chiếu nhiều Bộ Chính Kinh với nhau, tôi đã rút ra được cho mình một giáo trình rõ ràng, thực tế để có thể kết luận rằng Đạo Phật là một lý thuyết tuy được đưa ra cách đây cả mấy ngàn năm, nhưng phù hợp với mọi thời đại, vì không hề đưa con người đến Thần Quyền, mê tín, cầu xin, nương tựa mà chỉ dùng phương tiện để hướng con người đến nẻo Thiện bằng Luật Nhân Quả mà thôi.

Như vậy, người muốn tu theo Đạo Phật chỉ cần GIỮ GIỚI và thực hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO. Con đường tu Phật theo Kinh VIÊN GIÁC thì không cần quy y, thọ giới, sớm tối chuông mõ, CHỈ CẦN BIẾT HUYỂN, LY HUYỂN. Muốn vậy phải khai mở CÁI BIẾT hay còn gọi là TRÍ HUỆ hoặc TRÍ BÁT NHÃ bằng Giáo Pháp mà Đạo Phật hướng dẫn.

Tu theo Đạo Phật chỉ là để được an vui trong kiếp sống và kết thúc vòng Sinh Tử Luân Hồi mà thôi. Để giải thích lý do làm ra và làm thế nào để kết thúc vòng LUÂN HỒI, thì trong “NHỮNG NGÀY VÀ NHỮNG LỜI DẠY CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT” chỉ rõ: “Này các Tỳ Kheo, chính vì không giác ngộ, không hiểu Tứ Thánh Đế mà chúng ta phải lưu chuyển Luân Hồi lâu năm. Bốn Thánh Đế ấy là gì? Này các Tỳ Kheo, chính là vì không giác ngộ, không thông hiểu KHỔ THÁNH ĐẾ, KHỔ TẬP THÁNH ĐẾ, KHỔ DIỆT THÁNH ĐẾ, KHỔ ĐẠO THÁNH ĐẾ”… Thánh Đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời HỮU ÁI được diệt trừ, dẫn dắt đến một đời sống khác được đoạn tuyệt, không còn hậu hữu nữa. (Tức là không còn Sinh Tử Luân Hồi).

Kinh ĐẠI THỪA là do những TỔ ĐƯỢC TRUYỀN Y BÁT bên ĐẠI THỪA nhiều đời kế tục nhau để giảng hay viết về con đường tu PHẬT. Nhưng có nhiều vị đã quyết liệt phản bác, cho đó là Kinh ngụy tạo mà không cần biết trong đó viết những gì. Trong khi đó, ta thấy từ xa xưa, Phật đã thận trọng dặn dò đệ tử rất kỹ, là khi nghe có những trường hợp có người nói điều nọ điều kia thì nên đối chiếu với Kinh, với Luật rồi mới kết luận: “Này các Tỳ Kheo, có thể có vị Tỳ Kheo nói: “Này hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Đức Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vầy là Pháp, như vầy là Luật, như vầy là lời dạy của vị Đạo Sư”. Này các Tỳ Kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỳ Kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Đức Thế Tôn, và các vị Tỳ Kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỳ Kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Đức Thế Tôn và vị Tỳ Kheo ấy đã lãnh thọ giáo pháp chơn chánh”. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Đại Giáo Pháp thứ nhất, các ngươi hãy thọ trì”. Như vậy, rõ ràng là đệ tử của Phật đã thiếu sót khi không đọc kỹ những lời dặn dò, gọi là Đại Giáo Pháp thứ nhất của Đấng Đạo Sư, nên tự làm mất lợi ích cho mình, vì Kinh Đại Thừa không chỉ nói về GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, BÁT CHÁNH ĐẠO, những Phẩm Trợ Đạo thôi, mà còn giải thích từng chi tiết về cách thực hành các Pháp trong Đạo, từ những gì cần Soi, Quán, cho đến cách để kiểm tra để người tu theo đó mà biết mình đúng, sai như thế nào để không sợ lạc lối.

Muốn phân biệt người nào giác ngộ hay chưa thì Kinh kể lại: Trước lúc Phật nhập Niết Bàn, Ngài có cho đệ tử thông báo là ai còn nghi ngờ gì về Giáo Pháp thì cứ đến hỏi, Ngài sẽ giải đáp cho, thì có một tu sĩ ngoại đạo tên Subhadha đến xin gặp Phật. Ông đã bị Ngài Ananda 3 lần từ chối, vì Thế Tôn đang mệt. Nhưng khi nghe được câu chuyện thì Phật bảo hãy để cho Subhadha vào. Subhadha hỏi Phật:

Tôn giả Gotama, có những Sa Môn, Bà La Môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các Ngài Purana, Kassapa v.v… Tất cả những vị này có phải là đã Giác Ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?”.

Phật trả lời: “Này Subhadha, trong pháp luật nào không có Bát Thánh Đạo thời ở đấy không có Đệ Nhất Sa Môn, không có Đệ Nhị Sa Môn, không có Đệ Tam, Đệ Tứ Sa Môn (Tứ Quả Thánh). Này Subhadha, trong pháp luật nào có Bát Thánh Đạo thì trong đó có Đệ Nhất Sa Môn, Đệ Nhị Sa Môn, Đệ Tam, Đệ Tứ Sa Môn. Này Subhadha, chính trong Pháp Luật này có Tám Thánh Đạo. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có. Này Subhadha nếu những vị Tỳ Kheo này sống chơn chánh thời đời này không vắng những vị A La Hán”. Qua đó, ta thấy Phật giải thích rất rõ: Dù trong Giáo pháp của Ngài có Bát Thánh Đạo, nhưng các vị TỲ KHEO phải sống chân chánh thì mới đạt những quả vị.

Nhưng theo Kinh Đại Thừa viết, thì những người TIỂU THỪA là những người dừng ở cái Thấy các Pháp là KHÔNG. Cái Thấy này đưa hành giả chứng được TỨ QUẢ THÁNH. Đạt được Niết Bàn. Đó cũng là một giai đoạn tu hành. Nhưng con đường tu Phật chưa ngưng ở đó, vì Quả vị chỉ là “Hóa Thành” cho người lười mỏi nghỉ ngơi mà thôi. Sợ họ tu hành lâu ngày mà không thấy có kết quả nào đâm ra nản lòng. (Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA).

Muốn thành Phật thì phải ĐỘ SINH. Phải “Hàng phục Vọng Tâm, an trụ Chân Tâm”. Do vậy, người tu phải tiếp tục quán sát cái Tâm, biết cái Phật gọi là VỌNG TÂM là vì cái Tâm còn đầy dẫy Ba Độc, tức Tham, Sân, Si. Khi cái Tâm còn nhiễm 3 thứ này, sẽ sản sinh ra những suy nghĩ xấu, những đố kỵ, giận hờn, ganh ghét, toan tính ác, lấn người, hại vật gọi là CHÚNG SINH. Người tu cần đi vào CON ĐƯỜNG ĐỘ SINH, do đó mà phải Chuyển Hóa hoặc Điều Phục chúng sinh, cho nó “Phản Vọng Quy Chân”, tức là bỏ đi những ý tưởng xấu xa, đen tối.

Có 3 chủng loại Chúng Sinh, đó là THAM, SÂN và SI, nên việc làm đó được gọi là “Cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thể Giới”. Khi Chuyển Hóa được 1 tư tưởng xấu, cho nó được thanh tịnh, thì gọi là “Đưa được 1 Chúng Sinh thành Phật”, vì vậy, một đời người tu hành sẽ “Cứu độ vô lượng vô số Chúng Sinh”. Khi cái Tâm hoàn toàn thanh tịnh tức là trở lại tình trạng chưa ô nhiễm từ khởi thủy, thì được gọi là Thành Tựu Con Đường Giải Thoát hay là Thành Phật. Điều này tương ứng với câu Kinh KIM CANG: “TA ĐÃ DIỆT ĐỘ VÔ LƯỢNG VÔ SỐ Chúng Sinh. Nhưng thật ra không có Chúng Sinh nào bị diệt độ cả”, vì Chúng Sinh đó chỉ là những tư tưởng nhiễm Ba Độc của chính người tu, không phải là “độ” cho chúng sinh nào ở bên ngoài.

Người tu theo TIỂU THỪA, do thấy CÁC PHÁP là KHÔNG, nên trên không thấy có Phật để học hỏi, dưới không thấy có CHÚNG SINH để “Độ”, vì thế Kinh Đại Thừa gọi họ là “Chồi khô, mộng lép”, vì không làm ích lợi gì được cho ai. Bởi người thấy các Pháp là KHÔNG thì đâu còn thiết tha làm hay học hỏi điều gì nữa.

Sau đây là một vài cách thức hiểu và hành của Đại Thừa và Tiểu Thừa:

. Giải Thoát của Tiểu Thừa là phá Tiểu Ngã, xa lánh Khổ Não, vào chỗ vắng lặng. Giải Thoát của Đại Thừa là không cần xa rời thế gian, không cần vào chỗ vắng lặng, chỉ cần Xả cái Chấp Ngã, Chấp Pháp thì được Giải Thoát, vì dù ở đâu cái tâm cũng vẫn an tịnh.

. Tu theo Tiểu Thừa là phải đầy đủ hình tướng, phải giữ Tứ Oai Nghi. Tu theo Đại Thừa là chỉ cần giữ cái TÂM. Điều cần thiết là sau khi Thọ, trì, đọc, tụng, biên chép, giải nghĩa để hiểu rõ ý Kinh thì “Y Pháp Tu hành”. Hình tướng, nơi chốn không quan trọng.

. Tiểu Thừa xa lánh thế nhân, cho đời là ô trược. Đại Thừa cho rằng cái ô trược chính là Tham, Sân, Si hay còn gọi là BA ĐỘC của chính mình, không phải là ở cảnh đời. Vì thế việc tu hành, thành Phật theo Đại Thừa được tóm gọn trong 4 câu Kệ trong Kinh Viên Giác: “Nếu người đoạn Thương, Ghét. Cùng với Tham, Sân, Si. Chẳng cần tu gì khác. Cũng đều đặng Thành Phật”.

. Tiểu Thừa tránh không đề cập đến Niết Bàn, trong khi Đại Thừa giải thích rất rõ: Niết Bàn hay Phật Quốc là tình trạng vắng lặng, thanh tịnh, an ổn trong nội tâm mà người tu sẽ đạt được ngay tại cảnh sống hiện tiền, không phải là một cõi xa xôi nào đó sau khi chết mới được về.


Một điều quan trọng đáng cho chúng ta lưu ý là nếu ai tu với Phật cũng có thể đủ kiến thức để truyền Đạo cho thế hệ sau, thì Đức Thích Ca đã không bày ra việc TRUYỀN Y BÁT để làm chi. Và nếu chỉ cần thuộc Pháp của Phật làu làu thì người được truyền là Ngài A Nan, không phải là Ngài Ca Diếp. Mỗi Pháp mà Đạo Phật dùng đều có lý do vì sao nên hành? Phải Hành như thế nào? Kết quả về đâu? Tất cả đều biện minh được, không có chống trái nhau. Vì vậy, nếu ta tu hành mà không biết mình cần phải làm gì? Tại sao phải làm? Làm tới đâu là đủ? Không biện minh được Niết Bàn, Phật Quốc là ở đâu, thì làm sao về đó? Đợi chết mới về, nhưng rủi không về được thì ai đền cho công sức cả một đời hy sinh, kham khổ? Không biết Chúng Sinh là gì? Ở đâu, thì làm sao để “độ”? Nếu Chúng Sinh là bá tánh bên ngoài thì ngay cả Đức Thích Ca cũng chưa thành Phật, vì ngày càng sinh sản thêm ra, và chừng nào ta mới thành Phật được, vì phải “Độ tận Chúng Sinh” thì mới thành Phật? Không phân biệt được giữa Thờ Phật và Tu Phật thì ta sẽ Tu đến bao giờ? Điều đó mỗi người sẽ tự khai thông cho chính mình. Bởi vì Nhân Quả là do chính mình gây tạo, chính mình là người được hưởng. Đốn hay Tiệm cũng do chính mình sáng suốt hay không. Phật cũng không thể phá Vô Minh giùm cho người khác được, mà Ngài bảo hãy “Tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

Phật ngôn có câu: “Kẻ nào ca ngợi ta, tán thán ta mà không hành theo lời ta chỉ dạy. Kẻ đó đang phỉ báng nặng nề ta”. Vậy thì “hành” theo lời Ngài dạy cách nào nếu không phải là thực hiện lời Thọ Ký: “Chúng Sinh là Phật sẽ thành”? Vì “thành Phật” chỉ là thành tựu con đường giải thoát, đâu phải để thành thần linh, nên đâu có gì là Tăng thượng mạn khi quyết tâm thực hiện điều đó? Và thật ra, dù nói bao nhiêu lý thuyết cao siêu, nhưng tóm lại thì mục đích của Đạo Phật cũng chỉ để hướng con người đừng làm ác, nên làm điều thiện: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành”, bởi tất cả chỉ là NHÂN QUẢ mà thôi. Vì thế, chỉ cần cải ác, hành thiện, thì dù hành theo bất cứ Thừa nào, thì cũng như những người con của trưởng giả, dù ham Xe Dê, Xe Trâu hay Xe Nai mà chạy ra khỏi Nhà Lửa thì cũng đều thoát chết, được người cha ban thưởng đồng đều như nhau (Diệu Pháp Liên Hoa) bởi Thừa nào cũng đều có GIỚI, đều thực hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO. Người thực hành theo Bát Chánh Đạo thì không phải chỉ tập trung nghĩ tưởng đến Phật, mà lúc nào cũng kiểm soát bản thân từ tư tưởng, lời nói, hành vi, thì làm gì còn tính toán, so sánh cao thấp, hơn thua hay đố kỵ, ghen ghét, bởi Thân, Khẩu, Ý ba Nghiệp được thanh tịnh thì sẽ được như Hoa Sen nổi lên giữa bùn. Bao nhiêu đó đủ để sống giữa đời mà không bị pháp trần làm cho đau khổ, điên đảo. Vậy là đã đạt được mục đích Thoát Khổ mà Đức Thích Ca mong mỏi rồi. Thực hiện được những điều đó thì dù có mang hình tướng hay không, có gia đình hay độc thân, cũng sẽ được như lời Phật dạy: Không chỉ người hành pháp đó được nhờ, mà tất cả hoàn cảnh chung quanh họ đều cũng được an lạc vậy.


(Tháng 6/2015)


(còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 09.12.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004