Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ ‘Bà mẹ quê / Old country woman’ của Võ Công Liêm




VÀO VỚI THƠ (II)








    T hơ là gì? Đây là câu hỏi không thể trả lời một cách chính xác hoặc đã bình thơ không biết bao nhiêu lần; ‘mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp, con đường tôi thường quen đi lại lắm lần nhưng lần này tự nhiên thấy lạ…’(Thanh Tịnh). Một câu văn xuôi đọc lên đã thấy âm sắc của thơ. Nhưng phải có một cảm giác lạ giữa thiên nhiên và con người, hoà nhịp vào nhau thời mới có cơ duyên phát tiết thành thơ. Rứa thì thơ nó thuộc dạng thức nào để thành thơ? Thành thơ hay không thành thơ do ‘bài tiết’ của trí tuệ mà xuất thần trong một tâm trạng hòa đồng giữa ngoại giới và nội giới, vận dụng trong một tâm thức vô biên để thành vần, điệu và phát sinh vào đó cho một thi tứ, bởi; thơ thuộc thế giới siêu lý, một thứ ngữ ngôn ngoài văn chương vô hạn tính thời gian, thơ là cõi phi không biên giới, vượt thoát khỏi những ràng buộc, bức xúc vốn đã trì trệ, chất chứa trong tâm hồn của người làm thơ. Chính cái sự giao thoa đó là phản tỉnh cho sáng tạo; gây từ ảo giác đến hiện thực của cuộc đời. Nói như rứa có vòng vo tam quốc về việc định nghĩa giá trị của nó? Thôi! đọc lại đoạn kết trong “Vào Với Thơ I” để đả thông phần nào ý nghĩa nêu trên: ‘Cho nên chi dưới bất cứ dạng thơ nào đều có một giá trị tối thượng của nó. Phê bình thơ là một nhầm lẫn, là ‘tội ác’ đã khai chiến với thơ, nhưng cũng đừng vin vào thơ để tàn phá thơ; chỉ có những kẻ ngoại đạo đứng ngoài giáo đường thơ mới hành xử như thế, bởi; họ chưa đạt tới cái tinh anh hiển lộ trong thơ…Do đó thi ca có một quyền hạng tối hậu: bất khả thi và bất khả tư nghị ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian’. Thơ là thế đấy!

Thi ca đã được đàm luận rất nhiều là một tập hợp để thưởng thức, một liên kết kỳ diệu, một diễn đạt tư duy hoặc một vài kết hợp của những gì nói ra –Poetry turns out to be appreciation, free association, paraphrase, or; some combination of these. Rứa thì đánh giá cho cái gọi là thưởng thức thơ là một điều rất vinh dự và đáng qúy chớ không phải chuyện thông thường như ta nghĩ. Không một thi nhân nào làm thơ mà bị thương tổn cho mình và cho người khác, và; chẳng mấy ai chê bai, húy phạm đến thi ca mà chỉ nói lên lời nhận định: Thơ có gì đẹp đâu? / Isn’t that beautiful? Làm sao biết được cái thâm sâu cùng cốc của tư tưởng thơ! / How deep the thought! Làm sao biết được cái vũ trụ kiêu sa của ngôn từ! / How lofty the words! Làm thế nào ngân nga cùng giai điệu! / How melodic their ring! Rứa thì làm răng đây? Thi nhân phải biết nương vào cảm thức; rằng mình đang đứng trật chỗ không những trật mà vướng vào những thứ ngoài tư tưởng, có thể đưa tới một sự chú ý sai lầm, không hợp lẽ của sự hiện diện cần thiết. Trong khi đó mọi thứ gần như hờ hửng, lãng quên giòng thi tứ phát hiện trong đầu thi nhân. Nhưng thơ được diễn ngâm thì lại thích thú thưởng thức, cái sự thưởng thức gần như là một thứ bất khả phân (unspoken premise), bất khả lĩnh giải (beyond premise) và bất khả thi (attempting the impossible). Răng có nhiều cái ‘bất’ lọt vô trong này? bởi; thi ca là một thứ ám thị tư tưởng(vision impaired), chính những giới hạn đó để thi nhân thả hồn vào tự do, dù là ngữ ngôn suy thoái của thi ca vẫn được thừa nhận và còn tạo nên những nét đặc thù khác mỗi khi cảm nhận được thơ. Chính những yêu sách đó là chất thơ. Rứa cho nên chi thi nhân là người khám phá, tìm tòi từ ngọn nguồn của tư duy, phát sinh ngôn từ vốn đã tích lũy (qua sở học) để có giọng thơ văn chương, là; khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có. Vì vậy ngoài nhiệm vụ thi hứng, người làm thơ phải biết vận dụng ngữ ngôn. Nhưng nhớ cho không vì bất quá mà làm cho bài thơ hỗn độn, trật phép thơ.

Thưởng thức là gì? / What is appreciation? Vì trong thơ hàm chứa tính nghệ thuật của màu sắc và âm thanh. Xử dụng một ngôn từ mới lạ; một ngón nghề tinh xảo ‘technical tricks’ để cho thơ trở nên độc đáo. Thơ phải có ngữ điệu, vần điệu, một vài hiệu năng trong cách diễn tả và làm sáng tỏ ý nghĩ ‘bright ideas’trong dạng thức ẩn dụ. Đó là lối xây dựng cơ bản trong thơ. Gần như đây là qui tắc chung để dựng thơ có trước và sau này. Nhưng dần dà thơ biến thể qua từng trào lưu, có khi ‘không thành văn’ nhưng vẫn cho đó là thơ; lối dụng thơ như thế là tùy nghi, tùy tiện. Nhưng đòi hỏi của thơ là cảm hóa và không cảm hóa. Cho nên chi làm thơ dễ hơn mọi thứ khác, ai làm thơ cũng được kể cả trẻ lên năm, lên bảy, ông già bà lão nếu cảm thức sống dậy thì thơ đến như chuyện bình thường. Do đó làm thơ cho người thưởng thức là cảm nhận một cách chân tình như hồn thi nhân quả là chuyện khó. Răng rứa? Vì hồn ai nấy giữ chắc gì đã đồng điệu. Cái hay của thi nhân chớ không phải cái hay chung; ít khi bắt gặp sự đồng điệu đó. Muốn hòa âm điền dã, muốn đồng điệu. Thi sĩ phải hiểu rằng thơ là thông điệp để cảm hóa. Hegel nói: ‘Thơ là nguồn cảm thông chung của nhân loại’ và muốn có cảm thông chung là phải dựng lên đó một đổi mới tư duy thời gọi là thơ cảm thông: ‘nghệ thuật là đạp đổ cái cũ xây lên cái mới’ (Nietzsche).Thế nhưng; đôi khi thi nhân vì cảm hứng tột độ mà trở nên phóng khoáng, có khi lạm dụng ngôn từ trong thơ hoặc có thể tìm kiếm ‘con chữ’ để tạo nét độc đáo cho riêng mình. Đó là biện chứng cho thi ca đương đại hay còn gọi là thi ca hiện đại. Kiểu thơ như thế là lạc đường thơ làm mất đi tính sáng tạo. Thơ có cái mơ mộng của nó mà mấy mươi thế kỷ qua đều duy trì như thế; chỉ có thay đổi trong thể cách, một ít vần điệu nhưng hòa vào đó âm sắc làm cho thơ trở nên sống động. Ngày nay trào lưu thơ nổi lên như ‘kiến cỏ’ không biết lấy gì để cân đo đong đếm, đánh giá phẩm chất của nó. Rứa là đua nhau làm thơ không thấy mình lạc hướng đường thơ để rồi biến thi ca vào trường phái ta-bà-thế-giới: ông chả ra ông, thằng chả ra thằng thành ra đưa thơ vào nỗi tuyệt vọng, chìm dần vào quên lãng là thế. Tệ hơn nữa mỗi khi phát tiết đâu đó một câu thơ hay bài thơ là biến mình thành thi sĩ thật sự, lùa vào nhau một đám gọi chung là đám thi nhân; ý đó mang tính chất độc tôn, vô hình chung đánh mất cái tồn lưu nhân thế mà hóa ra tồn loạt cả đám. Tác phẩm không làm nên sự thế mà thơ làm nên giá trị của sự thế. Nghe có phản đề? Phản ở cái chỗ mô! Thơ cốt để thưởng thức. Cần chi nói thơ tôi đây nè! Con kiến cũng biết thưởng thức; mỡ không mùi vị, nhưng mỡ có giá trị độc đáo cho kiến bò tới. Vị thơ cũng như vị mỡ nó có cái hương vô hình.Thời nói tôi ‘là mỡ’ làm chi. Răng rứa? Vì thơ là tiềm năng của trí tuệ nó không phải là công thức toán học mà điều tiết trong khả năng sáng tạo (độc lập) của trí tuệ.Vì rứa mà có nhiều người sáng tác thơ vượt ra ngoài không gian thơ và cứ cho rằng thơ là thơ; cho nên sản xuất, đăng đàn ào ạt. Lắm lúc ‘khó ngó’ vô cùng!

Người làm thơ cả tin vì không ngại đến ‘critical’. Răng rứa? Vì thơ là cõi phi, cõi ngoài của hạn hữu cho nên biến thể hoặc chơi chữ theo ý thích của mình (self-poised), những bài thơ xuôi không ra xuôi, vần không ra vần hay cố tạo cái mới lạ cho thơ (?). Trải thẳng bài thơ để tìm thấy thơ xuôi thì lại càng vô nghĩa của thơ xuôi; họ quên rằng trong thơ có nghệ thuật của chất thơ ‘art is poetic’ và ‘poetry is art’. Điêu khắc gia David Smith nói: ‘Thứ thơ như thế là giòng thi ca phi lý. Cái sự vô lý đó là cưỡng bức trong khả năng tự nhiên của con người’ (It is poetically irrational. The irrational is the force-majeure in man’s nature) Thậm chí có những câu thơ, đoạn thơ gần như tranh trẻ con, tranh súc vật (chấm phá, quẹt ngang dọc hùm-bà-lằn) Thế nhưng cái vô thức của ngây ngô còn đôi chút phóng khoáng, nhẹ nhàng dễ thu hút. Còn cái loại thơ kể chuyện, thơ thời sự, thơ thiên tai, thơ đám cưới, thơ đám ma, thơ du lịch còn tệ hại hơn tranh-thơ trẻ con. Cũng chấm, quẹt hoặc thả lửng hoặc cột chữ vào nhau không văn phạm,không mệnh đề thì làm răng mà diễn ngâm để thưởng thức thơ.Thứ đó đã không đi vào đời mà để lại ‘lời tình buồn’. Răng rứa? Vì; đã phá trinh thơ của những gã tình si va-ga-bông. Đôi khi cũng không buồn trách. Nhảm! Nhưng; vào với thơ tuy không niêm luật mà phải có qui cách của thơ thời mới thành thơ. Hay những nhà thơ đó thuộc trường phái thi ca vô nghĩa (nonsence poetry) hay cái vô nghĩa đó do từ trí tuệ của cảm thức (The Wisdom of sensibility). Những điều xẩy ra như thế; có lẽ họ muốn thiết lập một chủ nghĩa lý trí (rationalism). Cho nên chi vào với thơ là một thứ nghệ thuật hổn hợp của âm nhạc, hội họa và diễn ngâm, cho dù vũ trụ thi ca là một ngữ ngôn siêu hình, tàn ẩn và một chất liệu khó hiểu ví dù thơ nằm trong cõi phi nhưng phải khởi đi từ cõi thực. Biết rằng thi ca không cần phải giải thích ‘poetry without consolation’ nó nằm trong phạm trù phi-tư-tưởng. Và; từ đó không còn ngạc nhiên cách dụng thơ của thi nhân là ‘đào chữ’ để đẻ ra thơ. Nhớ câu nói này của nhà thơ siêu thực Thanh Tâm Tuyền gởi thư thăm học trò cũ với tâm sự :‘chữ đẻ ra chữ và chữ chỉ dùng để đọc thôi’. Nói thế; chớ chữ trong thơ của thầy gần như bất tuyệt! Nhưng phải nhớ cho điều này ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ. Hiểu được như thế là thơ thành hình. Khởi từ thế kỷ 20 sinh ra nhiều trường phái thơ: Thơ lắp đặc (The poetry installation), thơ trình diễn nghệ thuật (The poetry art-performance) thơ xuôi (prose-verse/poem) thơ đúc (concret poetry), thơ lập thể (cubist poetry) thơ sờ, mò (tangible poems) thơ ngửi (smells poems); mỗi thể loại có một sự sắp xếp khác nhau; mặc kệ! thơ đi vào thị giác mà cảm nhận được là thơ ‘tới’. Còn thơ Thiền (Zen poetry) hay thơ Tân hình thức (New formalism poetry) thì lại khác, bởi; hai thể loại này còn được gọi là thơ nới rộng (expansive poetry) gần giống như tùy hứng, nghĩa là câu thơ độc hay một câu, có khi vắt giòng (enjambment) hay ngừng đột ngột, nhảy ngang xương không thứ lớp và cũng chẳng ngại điệp ngữ hay lập ngữ, lắm khi pha vào cái thể vô nghĩa cho thơ mới thêm hơn. Công án trong thiền không chừng cũng là thơ ngẫu nhiên. Răng lại có cái ngẫu thi trong này? Vì rằng mỗi khi đốn ngộ thì tư tưởng thơ là mạch ngầm dưới đáy giếng, là tiềm thức (sub-conscious) soi rọi. Ai mà soi? Có ‘Trăng Soi Đáy Giếng’ của nhà văn TTM mới thấy cái thâm hậu đó! Cả hai thể loại trên là đi từ quá khứ đến hiện tại là hình thức khám phá, đánh bạt những gì xưa cũ để tạo một hình thức mới hơn, một lối đi riêng để không còn lại những gì là tiền chiến thi ca, của những thời kỳ thơ mới 1930 và cho đến nay.Thực ra Thiền thơ hay Tân hình thức chỉ là sự khác biệt của thơ xuôi hay độc ngôn trong từng nhịp điệu của những gì thấy được, nhận được. Đó là thể thức cấu tạo thơ (composition poetry) cho thơ trở nên thỏa mái ra khỏi của bức xúc hay thị giác tư tưởng.

Ngoài cảm thức về sự ngợi ca thơ đúng chất cái đẹp trừu tượng (mà nhiều khi xa rời thực tế, nhiều khi mơ hồ mông lung) người thưởng thức thơ phải chịu đựng những gì lạc thú của thi nhân –Appreciator resist that poet’s revel. Thơ có lý lẽ riêng của nó. Thí dụ: nhà thơ bắt bướm chụp trật đôi cánh bướm thì cảm giác lâng lâng đó đến trong cái gọi là thuật ngữ thi ca –to look technically at a poem để thành thơ và hồn thơ trở nên phong phú có thêm chất liệu thơ. Cho nên chi thơ vô hình vạn trạng; nói răng cũng ra rứa. Biết thế! Nhưng đưa thơ vào ngõ cụt là thắc cổ thơ mà cần hóa trị (chemically) để có ngữ điệu mới thành thơ dù thơ thuộc trường phái nào; phải có mệnh đề chuẩn mực cho thơ; có khắc khẩu chăng vẫn giữ thanh sắc trong thơ; đó là cái ‘mệnh’ của thơ, dẫu có cả điển tích, điển cố đi nữa. Lý lẽ như rứa là rút từ những nhận định hoặc qua kinh nghiệm làm thơ của một số thi nhân: là tìm thấy chân lý tối thượng mỗi khi dựng thơ của thi sĩ và bắt nguồn từ đâu để thành hình những tác phẩm tuyệt cú và để đời như chiếu vào hồn những gì mộng mơ của ảo và thực; đó là cái nhìn phổ thông đối với quần chúng thích thưởng thức thơ. Còn xét thơ qua vấn đề triết học (a philosophic problem) thì lại khác. Nó nằm trong vị trí phổ quát của thi ca hiện đại, cái lối thơ đó được coi như là bí truyền và bí tỷ mơ hồ khó hiểu, sự cớ đó đòi hỏi ở nơi con người là cảm nhận từ tâm hồn của những gì thơ đem lại cái hay ho, hiếm có thời tất không còn chi là khó hiểu hay mù mờ. Vì thơ là cõi siêu lý nó đòi hỏi người đọc thơ hay diễn ngâm bằng một ý thức siêu thoát mà mình nhận thức từ nó. –Modern poetry in general has the reputation of being esoteric and obscure; but the human problem which is at the heart of much of the best of it is not at all hard to understand. Đây là vấn đề có thể nói là một đối chiếu khác nhau hoặc đối kháng hoặc vô phân biệt để cảm nhận trong bất cứ sự nhạy bén của lý trí. Con người nhạy cảm ngày nay nằm giữa hai trạng huống tâm lý và sinh lý, một kinh nghiệm có thể đo lường được qua tri giác nhận thức hoặc có thể miêu tả qua chữ nghĩa trong thời kỳ của khoa vật lý (physical science) và đôi khi không thể đo lường cái nghĩa lý mênh mông đó; bất luận là lý lẽ nào, mà mỗi khi đã thấm thấu kinh nghiệm trong thể thức về giá trị của nó. Đối với con người hiện đại, thì đây là vấn đề sắc bén cần thiết kể cả chất liệu có tính chất siêu hình, ngược lại; trong mọi hiện trạng đều được nhìn như một hiện hữu sống thực của thẩm mỹ hoặc đạo đức hoặc tôn giáo hoặc tâm sinh lý đều chớp lấy trong tay nhà thơ, phản ảnh của từng trường hợp thích nghi để thành thơ qua cảm hứng khơi dậy. Ở đây không nêu lên vấn đề hay đối chiếu của từng thể loại hay khuynh hướng thơ; dĩ nhiên không đả động đến độc hữu cá biệt qua từng thế hệ hay thời đại. Nhưng; thơ đã đến trước tuổi đời của chúng ta đang sống trong một thể thức đặc biệt. Răng rứa? bởi; sự thành quả và ảnh hưởng thăng tiến của khoa học kỹ thuật khởi từ khi có cuộc cách mạng kỹ nghệ và những gì tương quan đến khoa học và kinh nghiệm trở thành tập tục, nề nếp để rồi chấp nhận và trải rộng theo chiều hướng đã có hoặc vin vào nhau để xây dựng như nhau vì vậy mà mất đi tính sáng tạo độc lập, rặp khuôn nhại theo nhau cùng một khuôn thứớc đã không làm nên thơ mà chất thơ phai nhạt; xu hướng đó ngày nay nhìn chung như hình ảnh tâm sinh lý của thế giới thơ là một thực tế và bất cứ hình ảnh tương tợ nào đều coi như một sự so sánh không thực hoặc là một cái gì dính dáng đơn thuần về nó –there is a tendency today to regard the physical picture of the word as the real one, and any other picture as a comparatively illusory or a merely relative one. Hẳn nhiên; đó cũng là cá tính riêng biệt và cũng có thể là cái chung chung gần như ảnh hưởng vào nhau. Thí dụ: nhà thơ tân hình thức và nhà thơ tự do cũng chặt thơ (slash), vắt giòng (enjambment) nghĩa là dựa vào luật tắc (meter) tùy vào đó mà nhảy vọt, bất luận chỗ nào trong thơ, dòng trước tiếp theo dòng sau và cách đọc không ngừng ngắt đoạn cho tới cuối câu. Ví như: ‘hôm nay tôi ngồi uống cà phê một mình, mở điện thoại nhờ bạn chở ra chợ mua đồ nhậu. Cả bọn cười ùm, có thằng say cà phê…’ Thi sĩ đã xử dụng thơ trình diễn (the poetry performance) để diễn tả lối vắt giòng vào luật tắc qua thơ kể chuyện của dạng thơ không vần, tạo cái mới lạ đối với người thưởng thức thơ:

hôm nay tôi ngồi uống cà phê

một mình,

mở điện thoại

nhờ bạn chở ra

chợ mua đồ

nhậu

cả bọn cười um,

có thằng say

cà phê…”

Nói cho ngay; thơ tân hình thức, thơ không vần, thơ tự do hay thơ ký sự chỉ làm khác biệt cho thi ca mà thôi chớ không nằm trong đường lối chính trị thuộc ‘Thi ca Tư tưởng’ của thi nhân Bùi Giáng trước đây. Nhưng mấy ai nhắc tới, mãi cho tới khi sanh ra trường phái thơ ta-bà-thế-giới thì lúc ấy vai trò của những khuynh hướng nói trên thành hình và gọi chung là giòng thơ đương đại, lấn lát luôn cả thơ đa-đa, siêu-thực và biểu-tượng-trừu-tượng có từ đầu thập niên 1950. Dẫn ở đây hai bài thơ có nhảy vọt đàng hoàng, có chém. chặt, vắt giòng rõ ràng; thuở đó (trước và sau 1930) chỉ gọi là thơ mới, cao lắm là thơ tự do, thơ không vần, thơ xuôi (blank verse) chớ đâu có từ tân hình thức để gọi cho ra văn hoa chữ nghĩa. Đây là bài thơ xưa nhưng có vóc dáng của tự do và tân hình thức với vắt giòng và nhịp điệu (rhyme). Thưởng thức một trong những bài thơ xưa đễ đả thông so với hình thức mới hay tự do đã có. Hãy xem xưa nay có gì khác biệt trong cách diễn đạt và xử sự thể thơ ‘vắt giòng’; có đúng như đường lối chủ trương ngày nay không. Thực ra tân hình thức, thơ tự do, thơ không vần là loại thơ làm mới cho thơ mới hơn. Hay vì có mới nới cũ. Chính bảo vệ cái mới mà làm cho thơ không còn hình thức mới (lý thuyết và phân tích của thơ THT là cả vấn đề cho việc làm thơ) Một số thi sĩ hình thức mới quên đi luật tắc của THT mà đành nặn chữ cho thành văn (thơ). Cái đó là khủng khoảng thơ (poetic-crisis). Mất chất thơ và mất luôn cả hồn thơ. Đọc bài thơ cũ xem có khác chi không nhé:

Lá đào rơi rắc lối Thiên thai

Suối tiển oanh đưa luống ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ duyên thừa có thế thôi!

Đá mòn rêu nhạt

Nước chảy huê trôi

Cái hạt bay lên vút tận trời!

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Trời đất từ đây xa cách mãi

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng trôi”.

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

Rứa thì gọi bài thơ trên thuộc dạng nào? Lục bát hay tân cổ giao duyên? Cứ trải ra thì thấy đó là đoạn thơ xuôi mạch lạc, có mệnh đề từ trong thâm cung (inner) cho tới cõi ngoài vật thể (outward). Có thể là thơ xuôi hay truyện cực ngắn. Ngược lại;cùng một thể, cùng tiết tấu và cùng hoàn cảnh của thơ bây giờ; nếu trải ra thì hoàn toàn tối nghĩa mất chất thơ (do đó gọi tự do hay tân hình thức là cố tri).

Với nhà thơ siêu thực Thanh Tâm Tuyền thì gần gũi hơn. Đọc để thấy cái thi ca hiện đại trong thơ; một thứ thơ hiện sinh bao phủ tính nhân sinh quan và tính triết lý nhân bản làm người trong từng câu :

Tôi chờ đợi

Lớn lên cùng giông bão

Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai

Tìm cánh tay nước biển

Con ngựa buồn

Lửa trốn con người

Đất nước có một lần

Tôi ghì đau đớn trong thân thể

Những dòng sông, những đường cây núi nhọn

Những biệt ly rạn nứt lòng đường”.

(Thanh Tâm Tuyền-Bài Ngợi ca Tình yêu)

Ngần ấy cũng đủ nhận ra được giá trị thi ca đương đại. Một giá trị để đời. Rút từ đó cho ta kinh nghiện để thiết kế bài thơ và cấu trúc cho bài thơ thêm giá trị. Bất luận là chủ nghĩa nào nói đến thơ.Việc quan trọng của người làm thơ là có ý thức thức tỉnh trước hiện trạng để sáng tạo trong ‘cõi mơ về’ gây từ tâm thức và trí tưởng; đó là động cơ giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức. Mục đích làm thơ là giải thoát để có một tâm hồn rộng mở trước đối tượng chớ không phải cầu danh mà đua nhau sản xuất thơ (produce of poem). Ngó rứa mà làm thơ khó chớ không dễ như người ta nghĩ tới.Thơ là thế đấy!


Thi ca hiện đại là lùng kiếm để tìm thấy cái sự đối chiếu giữa liều lượng và không thể liều lượng ở khiá cạnh của kinh nghiệm mà là có tính chất kịch tính trong đó –What modern poetry seeks to do with this contrast between the measurable and immeasurable facets of experience is to dramatize it. Ở đây kiểu cách thái độ của loại thi sĩ hiện đại là khác biệt hoàn toàn từ những gì có tính cách du dương, lãng mạn. Thi ca lãng mạn có khuynh hướng mềm yếu đưa tới nỗ lực thực hiện cái độc đáo đơn lẻ của vấn đề. Đánh giá lớn lao về thi ca hiện đại là có nhiều cái đưa ra cái mới và xây dựng chủ thể khác lạ trong cái nhìn chủ quan và khách quan. Ấy là điều tìm thấy để đả thông, chẻ ra trong cách thức hiện đại về những gì tìm thấy được; hiểu biết, định lượng, kịch tính; nhưng không cưỡng bách để có qui định về nó –It seeks to understand the split in modern ways of looking at things; to understand, to diagnose, to dramatize; not necessarity to prescribe. Đấy là sự khác biệt đạt tới dựa trên cơ bản vấn đề triết học là tìm thấy khám phá của trí năng. Kịch tính thi ca là bản chất riêng giữa chính xác toàn vẹn về sinh lý, về dữ kiện như : ‘Phượng trì! Phượng trì!…/ Nghe như nghe thần tử thấy long nhan…’ (Hàn Mặc Tử) hoặc giới thiệu đến sự quan tâm giữa siêu thực và hiện thực là đối tượng của thi nhân khi nhập vào thơ: ‘Kỷ niệm buông tay rú ngất chìm…/ Tiếng kêu đá lở long thiên cổ…’ (Tô Thùy Yên) Hoặc hòa nhịp vào thiên nhiên để nhận biết: ‘Bước lặng / tôi về cõi lặng? / một trời / tôi vẫn lạc quan đen’(Trần Dần). Một hiện thực khác: ‘đêm đi qua một mình / sao chịu nổi / đời tình nhân làm khóc những con tim’(Đỗ Qúy Toàn). So sánh như thế để thấy được liều lượng thơ là gìn giữ giá thi ca giữa sinh lý con người và hình tượng siêu hình trong thơ; một sự liên quan toàn bộ của cân bằng như đã thấy và quét đi những gì trống không có mục đích mỉa mai, châm biếm trong thơ (nhất là thể loại thơ: nhảy vọt, ví von, nhắc nhở hơn là thi ca tư tưởng). Cảm thức đó chưa hẳn đã hoàn toàn cho tự nó, cảm nhận lại là điều khác của những gì níu kéo được của hiện hữu, không cần qua một liên quan trung gian tinh thần, hay đi qua lòng trắc ẩn nào khác hoặc qua trạng thái điềm nhiên hoặc bất luận nơi nào mang tính chất kịch tính hay đóng vai thi sĩ sầu muộn. Những thứ đó không hợp thời trang cho thơ.

Thi ca tư tưởng là thi ca hiện đại; là yếu tố quan trọng mà thi ca ngày nay mang lại một sự tương phản và hòa nhập vào thế giới đầy màu sắc tâm sinh lý. Khác biệt của nó là nhất thời và không thoát tục; thời tất sứ mạng của thi ca sẽ không đạt tới đỉnh cao của cao trào thi ca hiện đại mà trở nên ù lì ./.


(ca.ab.yyc. Halloween 31/10/2015)


SÁCH ĐỌC: -‘How Does a Poem Mean?’ by Ciardi Williams. Houghton Mifflin Company. Boston. USA 1975.

- ‘Modern Poetry’ by Leonard Mack and William Frost. Prentice-Hall,Inc. Englewood Cliffs,N.J. USA (1950/1961).

Đọc Thêm: ‘VÀO VỚI THƠ I’ của võcôngliêm. Qua một số báo mạng và giấy. Hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 29.11.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004