Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ Ngày 23/11/1940

Đã Diễn Tập cho Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám 1945 Thành Công.






Đ ể trả thù vụ đạo Ky tô bị triều đình nhà Nguyễn dưới đời Tự Đức thứ 11 (năm 1858), thực dân Pháp đã phái 3.000 quân với 14 tàu chiến phối hợp với quân Tây Ban Nha đã đánh chiếm Gia Định vào đầu xuân năm Kỷ mùi 1859, sau khi bắn phá đồn lũy, trong đó có hai thành An Hải và Tôn Hải trên cảng Đà Nẵng nhưng không vào được cửa Thuận An để mong tấn công kinh đô Huế theo dòng sông Hương do Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương lập đồn Liên trí với 2.000 quân đồn trí bảo vệ bờ biển từ Đà Nẵng tới Thuận An, nhất là được tin báo có thêm 10.000 quân sắp được tăng cường từ Huế.

Nguyễn Tri Phương lại được triều đình phái vào Nam xây đại đồn Kỳ Hòa chống Pháp nhưng vẫn không ngăn cản được sức tiến của liên quân Pháp nên sau đó, ba tỉnh miên đông và ba tình miền Tây thuộc thuộc toàn cõi Nam Bộ đều bị giặc ngoại xâm Pháp thống trị. Sau Nam Kỳ tới Bắc Kỳ, quân Pháp lại tiếp tục tìm cớ đánh chiếm và thỏa hiệp với triều đình nhà Nguyễn lấy hai khu vực làm thuộc địa đặt bộ máy cai trỉ lâu dài. Triều đình nhà Nguyễn với chế độ phong kiến hủ lậu và bảo thủ đã bất lực trước sự thống trị của chế độ thực dân Pháp.

Lịch sử cận đại của nước ta cho thấy từ năm 1887 Pháp đã lấy trọn đất Nam Kỳ đặt phủ Toàn quyền cai trị, lập bảo hộ ở nước Miên, Lào, Băc Kỳ, Trung Kỳ. Triều đình nhà Nguyễn coi như bù nhìn, bị chúng can thiệp, lủng đoạn, áp đặt mọi điều khiến nhân dân đồ thán, điêu linh, thống khổ. Nước Việt Nam coi như dã bị mất vào tay giặc Pháp. Trước sự thống trị của Pháp, sự bất lực của triều đình, đồng bào nhiều nơi vùng lên theo các anh hùng hào kiệt, từ nông dân, đến công nhân lao động và tầng lớp trí thức từ Hán học đến Tây học với lòng yêu nước cao độ đã nổi lên chống trả giặc Pháp để cỡi tháo ách nô lệ từ Nam ra Bắc. Nhưng tất cả đều thất bại. Từ võ trang lập căn cứ chống giặc cho đến lúc nhìn ra nước ngoài thấy nước Nhật đổi mới, thấy Trung Hoa có nhiều cuộc cách mạng theo đường lối dân chủ, cộng hòa…nhiều nhà trí thức Việt Nam mới hâm mộ và mong muốn đi theo để giành độc lập cho nước nhà, giải thoát ách lệ. Nhiều cuộc cải cách văn hóa – giáo dục để đổi mới chính trị - xã hội ở các đô thị theo đường lối hợp pháp và ôn hòa như phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Đông du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Tây du do cụ Phan Châu Trinh đề ra nhưng chưa thấy ánh sáng xuất hiện ở cuối đường hầm đô hộ.

Giữa lúc đó bỗng xuất hiện một nhân vật trẻ có chí hướng tìm đường cứu nước. Đó là thanh niên Nguyễn Tất Thành con trai của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc quê quán ở làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An xuất hiện như một thiên tài tiềm ẩn. Anh vào Sài Gòn năm 1910 để học nghề ở trường Bá Nghệ rồi tới năm 1911 được cha đưa xuống Kỹ Tho gặp cụ Phan Châu Trinh đng chuẩn bị sang Pháp do Hội nhân quyền và giáo dục của Pháp sắp đặt, sau khi cụ bị an trí ở Côn Đảo do khởi xướng phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Nay cụ có cơ hội kêu gọi thanh niên yêu nước Tây du. May mắn, cậu thanh niên làng Sen vốn có chí hướng “đi Pháp để xem nước Pháp thế nào” đã được cụ Phan hứa gặp nhau và giúp dỡ ở Pháp. Thật là trùng hợp hai chí hướng tìm đường cứu nước, một già, một trẻ. Nhưng rồi, một thành công, một thất bại. Về nước trước khi thấy không làm được việc gì, cụ Phan trước giờ lâm chung ở Sài Gòn đã nói lại với đồng chí Nguyễn Sinh Sắc và Huỳnh Thúc Kháng :”Nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Mặc dù không thành công việc lớn nhưng cụ Phan Châu Trinh đã có công mở đường cho Tây du, đã lôi kéo nhiều thanh niên yêu nước ra nước ngoài mà cụ thể nhất là thanh niên Nguyễn Tất Thành. May mắn hơn nữa, anh Thành còn có cơ hội theo các tàu buôn Pháp đi từ Á sang Phi, Âu và Mỹ, thăm được nhiều thành phố lớn công nghiệp của năm châu bốn biển và xem xét hiểu biết được nhiêu điều hay ở các tầng lớp nhân dân thế giới, trong đó có đời sống nghèo khổ, bị áp bức bóc lột của thợ thuyền các ngành nghề do chủ tư bản thống trị. Anh đã thấy rõ giai cấp công nhân và người lao động cùng khổ bị giai cấp tư bản thống trị như thế nào bên cạnh các dân tộc bị áp bức và phân biệt màu da không khác gì ở Việt Nam.

Thế rồi, chủ nghĩa Mác – Lê Nin bất ngờ tới với anh và nhanh chóng thanh niên làng Sen năm nào do kiên trì học tập, rèn luyện bản thân và tiếp cận các giới từ lao động tới trí thức ở một xã hội văn minh Pháp, châu Âu, đặc biệt Cộng hòa Liên bang Xô viết được thành tựu từ cuộc caqch mạng tháng 10 Nga vĩ đại, làm thay đổi cuộc diện thế giới. Xã hội cộng sản được xác lập từ đây để đấu tranh với xã hội tư bản, giành quyền tự do dân chủ cho giai cấp, các dân tộc bị trị để giải phóng đất nước.

Hai mươi năm ở nước ngoài, trong đó nhiều năm sống, học tập và làm việc ỏ nước Nga cộng sản, được gặp gỡ nhiều thành niên yêu nước khác đến từ Việt Nam và chấu Á. Nhiều đường dây chuyển tài liệu, sách báo về chủ nghĩa cộng sản khoa học, triết học Mác Lê Nin về nước do Nguễn Ái Quốc tổ chức thực hiện (tên mới của Nguyễn Tất Thành khi gia nhập hội Việt Nam yêu nước ở Pháp và gởi bản án chế độ thực dân đến hội nghị Versailles) đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh mới với tư tưởng mới và phương thức mới. Tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ đây ở Việt Nam và thế giới.

Công nhân Tôn Đức Thắng, người thủy thủ cộng sản trên chiến hạm Pháp ở biển Đen đã hô hào kéo cờ ủng hộ nhân dân Nga trong trận hồng thủy cách mạng tháng Mười, đã về Sài Gòn lập Công hội theo đường lối cách mạng Xô Viết để tập hợp lực lượng công nhân lao động mà sau này gia nhập Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Lúc ấy, Sài Gòn là một tụ điểm sinh hoạt quan trọng và nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam sau ngày thành lập 3/2/1930 tại Hương Cảng – Hồng Công (Trung Quốc). Trước khi có Đảng thống nhất, Sài Gòn cũng là nơi hội tụ của ba tổ chức cộng sản khác nhau xuất hiện từ ba Kỳ (ba khu vực Bắc, Trung, Nam của đất nước Việt Nam). Đó là Đông Dương Cộng sản Đảng (17/6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (tháng 8-1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đòan hay Đảng Tân Việt (tháng 9/1929).

Cả ba tổ chức Đảng Cộng sản đó đều có ảnh hưởng trực tiếp và quan hệ mật thiết với các phong trào đấu tranh cách mạng diễn ra trên địa bàn quận 1 trung tâm Sài Gòn bên cạnh Chợ Lớn, Gia Định và khắp cả Nam kỳ. Nhiều nơi có cả ba tổ chức Cộng sản cùng tuyên truyền, gây ảnh hưởng và phát triển tổ chức nhưng vẫn biệt lập, tranh giành quần chúng làm ảnh hưởng tới sự chia rẽ cho công cuộc đấu tranh cách mạng chung của cả nước chống kẻ thù ngoại xâm. Trước yêu cầu của lịch sử cách mạng trong thời kỳ đó, được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết thư triệu tập đại biểu các tổ chức Cộng sản trong nước đến Hồng Công để bàn việc hợp nhất. Và sự hợp nhất này đã thành công do uy tín và tài năng của Nguyễn Ái Quốc vốn đã nổi trội từ nhiều năm hoạt động ở nước ngòai lẫn trong nước do có sách báo gởi về.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặc vĩ đại, mở đầu một thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là thời đại cách mạng Việt Nam do giai cấp công nhân với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Mác – Lê Nin lãnh đạo của giai cấp công nhân kết hợp với giai cấp nông dân tổ chức và thực hiện công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và sau này đế quốc Mỹ. Từ đó, Cách mạng Việt Nam đã tìm được con đường cứu nước đứng đắn do Đảng vạch ra và lãnh đạo theo đường lối và phương pháp cách mạng mới bách chiến bách thắng.

Chỉ một tháng sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ba bộ phận của ba tổ chức Đảng trước đây hoạt động riêng lẻ lập tức được thống nhất ngay tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Cũng từ đây, sau hội nghị thứ 1 của Trung ương Đảng ở Hồng Công, đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên đã cùng với Trung ương Đảng về đóng trụ sở tại thành phố này. Kế đó, Đảng bộ thành phố và Xứ ủy Nam kỳ được thành lập. Sự kiện Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam kỳ và Thành ủy Sài Gòn đều có trụ sở đóng chung một nơi nổi tiếng “Hòn ngọc viễn đông” để chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng là một điều rất có ý nghĩa quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của nước ta mà khởi điểm và tụ điểm là một và đã mở ra một trang mới trong lịch sử cách mạng của nhân dân thành phố - thành phố “đi trước về sau” của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ phương Tây : thực dân Pháp (80 năm) và đế quốc Mỹ (20 năm). Có lúc, Trung ương Đảng, Xứ ủy (Hốc Môn, Bà Điểm, Gia Định) và Thành ủy (trung tâm Sài Gòn) hoạt động chung như là một thể thống nhất đã tạo nhiều thuận lợi cho các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, công nhân và nông dân đã phát triển rầm rộ qua các thời kỳ 1930-1931, 1933-1935, 1936-1939. Nhiều phần của bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến bị đánh phá, loại trừ làm cho kẻ thù run sợ, hốt hoảng nên đã ra sức tăng cường đàn áp, bắt bớ, tù đày và sát hại đồng bào, cán bộ, đảng viên, những người yêu nước.

Để đánh giá tình hình và có quyết sách phù hợp, Trung ương Đảng đã tiến hành hội nghị lần thứ 6 từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 tại Tân Thới Nhứt (Bà Điểm – Hốc Môn – Gia Định) do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì (thay cho đồng chí Trần Phú đã bị địch bắt). Hội nghị đã ra tuyên bố kêu gọi quốc dân đồng bào và các dân tộc Đông Dương vì sự sống còn mà chống chiến tranh đế quốc, chống chính sách tàn ác, cướp của, giết người của đế quốc Pháp và đánh đổ ách thống trị của chúng, chống âm mưu xâm lược của phát xít Nhật để bảo vệ tính mạng, tài sản của mình, tranh đấu cho độc lập, giải phóng xứ sở, liên hiệp lại thành lập Mặt trận dân tộc phản đế (tiền thân của Mặt trận dân tộc thống nhất và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay).

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 được phổ biến sâu rộng ở khắp các cấp. Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định nghị quyết được triển khai rất sớm đã tiếp thêm sức mạnh hành động cho đảng viên và quần chúng. Địch lại tăng cường khủng bố, sát hại nhân dân và bắt bớ nhiều đảng viên ở cơ sở, và hầu hết các đồng chí trong Ban chấp hành Trung ương Đảng hoạt động ở Nam Kỳ đều bị bắt như Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Lê Duẩn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai vừa là Xứ ủy viên vừa kiêm Bí thư Thành ủy. Chỉ còn ủy viên Trung ương là Phan Đăng Lưu nên từ đây cơ quan Trung ương Đảng chuyển ra Bắc hoạt động.

Giữa lúc này, Việt Nam lại xảy ra một biến cố lớn là quân phát xít Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, đổ bộ Hải Phòng để tranh giành quyền cai trị với thực dân Pháp. Tình hình dầu sôi lửa bỏng này đã thổi bùng ngọn lửa khởi nghĩa Nam Kỳ vốn đã âm ỉ từ lâu. Tháng 3/1940, Xứ ủy ra “Đề cương về cách mạng ở Nam Kỳ”, thực chất là đề cương chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Từ 21 tới 27/7/1940, Xứ ủy đã nhóm họp ở Tân Hương (quận Châu thành - Mỹ Tho) do đồng chí Tạ Uyên Bí thư Xứ ủy chủ trì để đánh giá tình hình, tương quan lực lượng, cân nhắc thời cơ khởi nghĩa. Hội nghị cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc để xin chỉ thị của Trung ương và liên hệ Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ bàn việc phối hợp hành động.

Tại Sài Gòn, Thành ủy được củng cố do đồng chí Nguyễn Như Hạnh làm Bí thư. Thực hiện nghị quyết của Xứ ủy, Thành ủy đã chỉ đạo lập Ban quân sự, các đội vũ trang, tích cực chuẩn bị vũ khí, đẩy mạnh công tác binh vận…sẵn sàng cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Theo sự phân công của Xứ ủy, đồng chí Tạ Uyên Bí thư Xứ ủy kiêm luôn nhiệm vụ Trưởng ban khởi nghĩa Sài Gòn – Chợ Lớn.

Giữa lúc cuộc khởi nghĩa đang chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng thì các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Thành ủy, Xứ ủy bị địch bắt do có kẻ phản bội. Đồng chí Phan Đăng Lưu từ Bắc vào, chưa kịp truyền đạt Nghị quyết của Trung ương về việc hoãn cuộc khởi nghĩa cũng bị bắt. Trong ngày 22/11/1940, địch đã tiến hành 50 cuộc vây ráp, bắt đi hơn 50 đồng chí cán bộ cốt cán của Đảng trước giờ nổ súng. Tình hình này đã làm cho cuộc khởi nghĩa ở nội thành Sài Gon không thực hiện được. (Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quận 1 – NXB Tổng hợp TP HCM, năm 2004).

Điểm khởi nghĩa là Thành pháo thủ của quân Pháp (nay là khu vực quanh Văn phòng đại diện Bộ Công an, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Đội Cảnh vệ thành phố Hồ Chí Minh) thuộc phường Nguyễn Cư Trinh quận 1. Theo chỉ thị khởi nghĩa, lực lượng dân quân của huyện Đức Hòa sẽ tới Chợ Lớn rồi đánh chiếm Thành pháo thủ có nội ứng của ta. Nhưng do bị lộ nên quân Pháp đã làm chủ tình hình, nội ứng bị bắt buổi sáng mà lực lượng ở huyện Đức Hòa chưa hay nên tới gần giữa đêm 22 rạng 23/11/1940 vừa xuất phát đã bị địch ngăn cản. Lực lượng này do đồng chí Huỳnh Văn Một chỉ huy quay lại tấn công dinh huyện Đức Hòa nhưng không thành công do địch đã phòng thủ nghiêm nhặt. (Huỳnh Văn Một, người con trung dũng của Đức Hòa – Long an, NXB Quân đội nhân dân – 2006, tác giả Vương Liêm)

Một đội dân quân khác ở An Phú Đông (nay thuộc quận 12) do đồng chí Mười Lụa từ ga xe lửa ở Ngã tư Ga theo xe hàng sớm tới nhà ga Sài Gòn để tới Thành pháo thủ chuyển vận súng đạn về An Phú Đông (sau khi khởi nghĩa thành công lúc nửa đêm) nhưng đã bị địch chặn bắt từ nhà ga Sài Gòn. Cụ bị bắt giam ở nhà tù Thị Nghé và khám Lớn có gặp đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai chỉ cách gỡ tội cho cụ. (Cụ Mười Lụa và Nam Kỳ khởi nghĩa, NXB Lao Động 2005, tác giả Vương Liêm).

Thế nhưng lực lượng tiếp ứng từ Hốc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè, Đức Hòa, Trung huyện (Bình Chánh, Cần Đước – Long An) … mang theo vũ khí chia thành từng nhóm nhỏ bằng nhiều đường khác nhau kéo vào trong thành phố. Đến giờ hành động, các lực lượng tiếp ứng vẫn không liên lạc được với lực lượng ở nội thành nên đã chủ động rút lui về tham gia khởi nghĩa ở địa phương. Tại Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Vĩnh Long, Cần Thơ. Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tây Ninh, Mỹ Tho …các cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ trong khí thế cách mạng bừng bừng. (Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quận 1, trang 84).

Ban Thường vụ Trung ương Đảng hai lần ra thông báo chỉ đạo các Đảng bộ Trung Kỳ, Bắc Kỳ có hành động hưởng ứng cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ…Từ tháng 12/1940, đế quốc Pháp dốc sức dìm khởi nghĩa Nam Kỳ trong biển máu. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng rưởi (từ 23/11 đến 1/12/1940) chúng đã bắt đi 903 người ở Sài Gòn - Chợ Lớn và một số vùng lân cận, chưa kể số người chúng giết tại chỗ. Chúng đánh chết đồng chí Tạ Uyên trong nhà tù, đem xử bắn các đồng chí lãnh đạo của Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy bị bắt đi trước đó như các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai (Sđd như trên).

Mặc dù vậy, cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9/1940), Đô Lương (tháng 1-1940), cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương đáng tự hào đã làm tiền đề, là cuộc diễn tập mở màng cho cuộc Tổng khởi nghía Cách mạng tháng Tám năm 1945 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về nước lãnh đạo đã thành công rực rỡ, mở ra kỷ nguyên mới cho một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập ngày 2/9/1945.

Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh tập 1 (1930-1975) do NXB Tổng hợp TP HCM xuất bản tháng 11/2006 đã đánh giá cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ như sau : “Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đã nổi dậy đấu tranh, khẳng định ý chí và sức mạnh của con người Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ giương cao khẩu hiệu “Đánh đổ đế quốc Pháp thống trị ! Chống phát xít Nhật xâm lược” mang tính chất của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kế thừa và nêu cao truyền thống tinh thần quật khởi của dân tộc ta, cho nên đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế tất cả các tầng lớp, giai câp, dân tộc, tôn giáo rất rộng rãi. Đây là một cuộc nổi dậy mang tính chất nhân dân rộng rãi và sâu sắc…” (trang 139).



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 27.11.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004