Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VIỆC TRUYỀN Y BÁT LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH HIỂU ĐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO?





(tiếp theo kỳ trước)


M uốn Thấy Tánh thì Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Nếu biết Chúng Sanh ở Tâm mình, thì thấy Phật Tánh ở Tâm mình. Muốn cầu thấy Phật thì phải biết cái Tâm Chúng Sanh…”. Nếu chúng ta chưa hiểu giống như Ngài. Chưa biết rằng: “Tâm ta tự có Phật. Phật ở Tâm mình mới thiệt là chơn Phật”, để đi tìm Phật của Đức Thích Ca. Tạo dựng hình tượng của Ngài để hương khói tôn thờ, thì phải chăng ta cũng đọc, tụng Kinh Kim Cang mà không thấy lời cảnh báo: “Nhược dĩ Sắc kiến Ngã. Dĩ âm thanh cầu ngã”sẽ đưa đến kết quả mà Kinh khẳng định: “Thị nhân hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai”! Phật có nghĩa là Giải Thoát. NHƯ LAI không phải là PHẬT TỔ NHƯ LAI, quyền uy trùm khắp, mà nói về tình trạng “Đến, đi không động”. Không động đây không có nghĩa là dùng thần thông để bay, mà là KHÔNG KHỞI TÂM. Phật của Đức Thích Ca là sự Giải thoát của Ngài. Phật của ta ở nơi Tâm của mình. Giải Thoát của mình cũng ở nơi đó. Ta không tìm ở đó lại quay ra tìm Phật của người khác thì sao gọi là Chánh Đạo? Phật dạy Tự Độ, ta lại cầu xin để được độ thì sao gọi là đệ tử của Ngài?

Giáo Pháp Đại Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy đều nói rằng Đức Thích Ca cũng chỉ là một con người bình thường như tất cả mọi người, nhờ tu hành mà được Giải Thoát. Tất cả mọi người đều có thể làm được như Ngài, tại sao không nương Giáo Pháp của Phật để lại mà Tự Độ, lại phải cầu xin Phật Độ cho? Nói rằng Phật dạy TỰ ĐỘ, mà Chùa nào cũng khuyến khích Phật Tử Cầu An, Cầu Siêu. Cầu cho Hòa Bình thế giới. Cầu cho Quốc Thái, Dân An. Cầu cho mưa thuận, gió hòa. Cầu cho gia đình bình yên, chồng thăng quan tiến chức, con cái học hành tấn tới. Thậm chí có người còn bỏ hết mọi việc, cả ngày chỉ niệm Phật để chờ về Tây Phương Cực Lạc, khác nào sống chỉ để chờ chết! Vậy thì đó có phải là Đạo Phật chân chính, hay do thiếu sự dẫn dắt của các vị Chứng Đắc thật sự nên nhiều thời qua Giáo Pháp của Đạo Phật đã bị pha trộn nhiều nghi thức của các thần giáo khác và tự mâu thuẫn mà không hay?

Trong khi Phật dạy TỰ ĐỘ, thì nhiều người chỉ nhất tâm chờ mong Phật Độ. Rõ ràng họ đã không đối chiếu với thực tế để thấy: Nếu Đức Thích Ca làm được việc đó thì hẳn đất nước của Ngài và những nước tôn thờ Ngài phải phồn thịnh hơn những nước khác trên thế giới, và nhân loại ngày nay không còn chiến tranh, đau khổ, nghèo đói nữa! Ngược lại, nước Ấn Độ của Ngài vẫn đầy dẫy bất công, thiên tai, tật ách. Người dân vẫn nghèo khổ. Hàng ngàn nông dân đã tự sát trong vài thập kỷ qua vì hạn hán cũng như các vấn đề với chính phủ, và mới đây, ngày 15/8, Vnexpress đưa tin theo Times of India, khoảng 25.000 nông dân ở thị trấn Mathura, bang Ultar Pradesh viết thư gởi Tống Thống xin phép được tự tử trong ngày Quốc Khánh của nước này, sau 17 năm đấu tranh đòi bồi thường do việc xây dựng cầu làm cho đất nông nghiệp bị ngập mà không được giải quyết. Trước áp lực đó, chính phủ đang hứa sẽ giải quyết sớm. Cuối tháng Tư vừa qua là mấy trận động đất kinh hồn đã xảy ra ngay Nepal là chính nơi Phật đã ra đời, làm sụp đổ bao nhiêu Tháp Cổ, giết chết cả 8.800 sinh mạng người dân vô tội! Thêm 1 trận động đất tiếp theo ngày 29/7 đã làm cho 20 người chết và 42 người mất tích, chôn vùi cả 2 ngôi làng ở miền Tây Nepal! Phải chăng đó là điều thương tâm, không ai muốn diễn ra, nhưng cũng là một hồi chuông cảnh tỉnh mạnh mẽ cho những ai còn mê tín, còn trông mong vào sự hộ trì của Phật sớm thức tỉnh, thấy rằng mình đã bị chồng mê, hiểu lầm về quyền năng tuyệt đối của Phật, để quay lại với Chánh Pháp, theo đúng con đường mà Đức Thích Ca đã dạy: Tự Tin, Tự Độ, Tự Giải Thoát.

Phật không thể độ được cho ai, kể cả con ruột của Ngài cũng phải Tự Tu hành để Tự Độ. Ý nghĩa này cũng được viết rất rõ trong Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN. Kinh viết: Trong một lần khi Phật giảng pháp, thì Ngài La Hầu La lơ đãng, không nghe.

Phật bảo: “Này La Vân con ơi! Gặp Phật ra đời rất khó. Nghe được Chánh Pháp rất khó. Giữ được thân người là khó và đắc đạo cũng khó, mà nay con đã được thân người, lại gặp Phật ra đời cớ sao biếng lười chẳng chịu nghe pháp vậy?”.

La Vân bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, Pháp Phật tinh diệu, tâm trí con còn non nớt đâu đặng nghe nổi pháp mầu của Đức Thế Tôn. Trước con từng nghe, nay lại quên hết, luống nhọc tinh thần, không đặng chút nào, và nay con tuổi còn nhỏ, tình ý hay buông lung, đợi đến chừng nào con lớn khôn may ra có khác chút nào mới nghe pháp được”.

Phật bảo: “Muôn vật vô thường, thân người khó giữ được. Vậy ngươi có thể giữ được mạng ngươi đến lớn không?”.

Dạ thưa Thế Tôn! La Vân con đây không thể giữ được, nhưng Phật há chẳng giữ giùm mạng con ư?”.

Phật bảo: “Này La Vân! Ta còn không giữ được cho ta, huống chi là giữ giùm cho ngươi”!

Phật còn không giữ được mạng cho mình, cũng không giữ được mạng cho con ruột. Chính Ngài cũng đã chết, cũng đã Trà Tỳ, vậy mà ta cầu xin Phật cho ta được tai qua, nạn khỏi, sức khỏe, sống lâu, thăng quan, tiến chức… mà không thấy là mâu thuẫn với lời Phật dạy sao?

Nhìn những người tu Phật, ai cũng đầu tròn, áo vuông, cũng mang lời Phật để thuyết giảng. Cũng nói về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo thì chúng ta khó phân biệt ai là người giảng đúng Chánh Pháp, ai không. Nhưng cũng không khó để phân biệt ai hành không đúng Chánh Pháp. Đó là những người cũng mang lời Phật để giảng nói, nhưng lại hướng tín đồ đến tôn thờ, cầu xin Phật mà không tự mình xây dựng cuộc sống, trong đó, góp phần giúp ích cho đời. Bởi nếu mọi người chỉ tâm tâm, niệm niệm nghĩ đến Phật, cho rằng nghĩ gì khác là thất niệm thì còn làm sao lo được cho bản thân, huống là giúp ích cho xã hội để trả nợ TỨ ÂN? Chính vì vậy mà đã có dư luận thắc mắc và tôi đã từng đọc thấy có một người đã chất vấn một vị Sư rằng: “Nhiều người cho rằng những nước mà số đông người dân theo Đạo Phật đều nghèo”! Vị Sư đã trả lời là: “Nước Nhật cũng theo Đạo Phật, nhưng vẫn là một trong những nước văn minh, tiến bộ nhất”! Theo tôi, người trả lời đã “vơ đũa cả nắm”, để nhận lấy cái hay, công sức của người khác về cho Đạo Phật. Bởi có lẽ mọi người đều thấy: Những người làm nên sự tiến bộ của đất nước Nhật là những nhà kinh tế, những nhà khoa học, những người công dân bình thường của nước họ, không phải là những người tu Phật! Bởi những người tu Phật ở nước nào thì cũng chỉ chuyên tâm thờ phụng Phật, thậm chí trước khi vô tu, có ngành nghề chuyên môn nào đều phải bỏ hết, để rồi cả đời chỉ tụng Kinh, niệm Phật mà thôi. Vì thế, nơi nào Đạo Phật thịnh hành thì cái phát triển mạnh nhất chỉ là Chùa Chiền, chẳng phải là khoa học, kinh tế và đời sống người dân! Như Miến Điện chẳng hạn, 90% dân số nước này theo Đạo Phật, cho nên Chùa ở đó thuộc hàng đẹp, sang nhất thế giới với những mái Chùa lộng lẫy, đúc bằng cả mấy tấn vàng. Vương miện của tượng Phật thì dát cả mấy ngàn viên ngọc, trong khi đất nước thì nhiều nơi còn lạc hậu, phương tiện giao thông thì cũ kỹ, thô sơ, cuộc sống còn khó khăn, không xứng tầm với những ngôi chùa mà xứ họ nhờ đó mà được cả thế giới ngưỡng mộ, nếu không nói là một hình ảnh tương phản quá rõ nét. Liệu đó có phải là điều Phật mong mỏi khi mang Đạo Phật vào đời?

Từ bao đời nay, chúng ta chưa từng thấy công trình khoa học hay sáng kiến nào giúp cho cuộc sống của con người đỡ khó khăn hơn xuất phát từ các vị tu hành. Người Xuất Gia tu hành là mặc nhiên từ bỏ tất cả những việc có liên quan đến thế gian để chỉ nghĩ đến việc tôn vinh, thờ phụng Phật, trong khi phần đông đều đang sức trẻ, có thể làm nhiều việc cho đất nước, quê hương. Theo tôi, nếu tới thời này rồi mà vẫn tồn tại những suy nghĩ và cách làm đó thì quả là oan cho Đạo Phật chân chính, vì Đạo Phật là Đạo Nhân Quả dạy con người dẹp hết Nhân Xấu để không phải chịu Quả xấu trả lại. Nhưng nếu Nhân Tốt cũng dẹp hết thì làm sao có Quả lành? Khác nào người làm nông được dạy cho phân biệt giữa lúa mạ và cỏ dại phá hại ruộng lúa, để nhổ bỏ cỏ đi, giữ lại lúa mạ. Nhưng do không phân biệt, nên lúa hay cỏ dại nhổ hết thì lấy đâu ra lúa để có gạo mà dùng! Vì thế, nếu ai tu hành cũng chỉ để phụng sự Phật, chê bỏ cuộc sống, không tham gia sản xuất, hay hoạt động trong các ngành nghề để tiếp tay với xã hội giúp nâng cao cho cuộc sống con người, thì Đạo Phật phụng sự nhân sinh chỗ nào? Nếu bản thân mỗi người không làm ra tiền bạc, của cải, thì giúp đỡ người khác cách nào? Khuyên họ giữ tròn đạo đức, đừng tham lam, trong khi gia đình họ cái ăn còn chưa có thì e rằng hơi khó, bởi ông bà ta có nói: “Có thực mới vực được đạo”!

Thật vậy, cuộc đời cần biết bao nhiêu người chung tay xây dựng, vì cuộc sống dù nói là giả tạm nhưng cũng kéo dài cả 100 năm. Người tu hay không cũng phải hưởng dụng mọi thứ của đời, sao không mang sức, tài để đóng góp cho xã hội, vì đó là một trong Tứ Ân mà Phật dặn dò người tu phải đáp đền. Chẳng lẽ ta lại đền ân đất nước bằng cách Cầu Xin Phật gia hộ, trong khi giáo pháp của Thừa nào cũng cho rằng Phật không phải là thần linh, không phù hộ được cho ai, vậy thì lời cầu xin mang ý nghĩa gì?

Bao nhiêu thời qua, nếu không có những người đang tuổi thanh xuân mà bỏ hết để vô chùa chỉ để phụng sự cho Phật, thì chúng ta có biết bao nhiêu Bác Sĩ, Kỹ Sư, Kiến Trúc Sư, những nhà Kinh Tế, những nhà Khoa Học, những nhà hoạt động trong mọi lãnh vực cho xã hội được nhờ? Nếu họ đã chê chán cuộc đời, coi thường danh vọng, vật chất, thì với cái Tâm không ham, không tranh giành của đời, lại xem mọi người như là những “vị Phật sẽ thành”, họ sẽ làm biết bao nhiêu việc để đóng góp xây dựng cho đời? Tùy theo lĩnh vực chuyên môn, thí dụ như Bác Sĩ, Dược Sĩ sẽ nghiên cứu, tìm tòi, phát minh thêm để ngày càng trị dứt bệnh cho con người mà không nghĩ đến việc dùng kiến thức đó để vơ vét, làm giàu cho bản thân. Là nhà chính trị thì họ sẽ hết lòng vì nước, vì dân, không đục khoét đất nước. Trong lãnh vực Giáo Dục thì họ sẽ tìm mọi cách để nâng cao dân trí, để đất nước thoát lạc hậu, đói nghèo. Nếu là nhà Khoa Học họ sẽ học hỏi nơi các nước văn minh để làm sao đưa khoa học, kỹ thuật về phục vụ đất nước. Là nhà văn, nhà báo thì họ sẽ dùng ngòi bút của mình để hướng con người đến nếp sống nhân văn hơn, đạo đức hơn, yêu thương, đùm bọc nhau hơn, góp phần lành mạnh hóa xã hội… Với tất cả mọi ngành nghề mà có người không nghĩ đến bản thân thì sức đóng góp về trí tuệ, tài năng, sức lực, tài chánh… sẽ hữu hiệu biết bao nhiêu cho cộng đồng, góp phần đưa đất nước đến hùng cường, giàu mạnh hơn.

Đạo Phật ra đời là vì con người, để phục vụ con người, mong mỏi mang đến cho con người những điều an vui, tốt đẹp, nhưng mỗi người phải tự thanh lọc thân, tâm để đạt được, không phải do Phật ban cho. Những người tu hành chân chính thì đều hiểu là dù mai kia có chứng đắc cũng không thể độ được cho ai. Chính vì vậy, Mã Tổ Bách Trượng ngày xưa, dù cai quản cả một Thiền Viện đã “Nhất Nhật bất tác. Nhất nhật bất thực”! Bởi nếu ai có biết Mục Đích của Đạo Phật thì sẽ thấy là: Chỉ vì con người chấp cái Thân là Mình, để rồi trong khi kiếp sống chỉ kéo dài chừng trăm năm, mà thời gian đó lại tạo biết bao nhiêu Ác Nghiệp, nên Đức Thích Ca đã dùng rất nhiều phương tiện, nhưng mục đích chỉ là để giáo hóa con người cái Ác, hành Thiện để kiếp hiện tại được an vui mà những kiếp về sau cũng khỏi bị đọa vào đường ác. Mục đích chỉ có vậy, chẳng phải để thành Phật, thành thánh hay thành thần linh phổ độ cho ai. Tu hành miên mật, giữ bao nhiêu Giới, sớm chiều chuông mõ, hành Lục Độ, Vạn Hạnh, nhưng kết quả chỉ là để “Tứ đại giai không”, “Lục Căn thanh tịnh”, cái Tâm không còn Vô Minh, vọng động, được thanh tịnh, thì có nhất định phải bỏ hết tất cả việc đời, thiếu bộ Y, thiếu hình tướng là không làm được không. Có Kinh nào khẳng định điều đó không?

Đã đành thời nào cũng cần giữ gìn Chùa chiền, Sư Tăng làm nơi để cho bá tánh hướng về, để học hỏi. Nhưng thiết nghĩ chỉ nên ở một số vừa phải. Tự lo liệu cuộc sống để không ảnh hưởng đến người khác và khỏi mang nợ Nhân Quả, bởi “ai tu nấy đắc”, có đắc đạo cũng đâu có “độ” được cho ai. Lại nên ở vào độ tuổi đã hoàn thành trách nhiệm với cuộc đời, và phải là bậc chân tu, không màng danh lợi, lại phải có đủ kiến thức về Đạo, có thể phổ biến Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp, để không phung phí tuổi trẻ, sức lực và tiền bạc của xã hội, lại tạo điều kiện cho một số không nhỏ những phần tử lười nhác núp bóng chùa chiền để được nhàn thân. Ngay khi Phật nhập diệt một thời gian ngắn, vào kỳ kết tập thứ 2, Giáo Hội đã phải loại ra đến mấy mươi ngàn tu sĩ giả trà trộn trong hàng ngũ Tăng Chúng, và thời Phật Giáo cực thịnh, nước ta cũng đã tổ chức những kỳ sát hạch để loại những phần tử núp bóng chùa chiền. Có như vậy thì Đạo Phật mới thoát được mê tín, thật sự hướng con người đi về nẻo chánh.

Vì vậy, theo tôi, đến thời này rồi, mọi người nên sáng suốt để dẹp bỏ việc cầu xin, chờ ơn trên ban phát, hoặc cúng bái, ăn chay với mục đích trao đổi, mà chỉ nên gieo Nhân Thiện để hưởng Quả Lành. Mọi người sau khi loại bỏ Tham, Sân, Si thì không còn tranh giành, sâu xé, tàn sát nhau trong cảnh sống giả tạm, trái lại kính trọng và yêu thương, giúp đỡ nhau. Một mặt tích cực học hỏi, làm việc, để đưa bản thân và gia đình đi lên, qua đó góp phần dân tộc, đất nước thoát lạc hậu, đói nghèo. Đó mới là cái hiểu và thực hành Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp. Thật vậy, “độ khổ” cụ thể nào hơn mở mang dân trí cho con người, chỉ cách cho họ làm ăn, sinh sống. Thuyết phục cho người giàu bớt ích kỷ, chỉ biết thu vén cho bản thân mà biết san sẻ cho người nghèo. Mọi người tích cực học hỏi khoa học, kỹ thuật, ngành nghề để ứng dụng vào đời sống, thay vì lợi dụng, bóc lột nhau thì tận tình nâng đỡ nhau để cùng sống trên trái đất màu mỡ cho đến hết kiếp. Khi không còn cảnh chiến tranh, giết chóc, tàn sát lẫn nhau thì cảnh đời với thiên nhiên hữu tình, non xanh, nước biếc, hoa trái bốn mùa sẽ tốt đẹp biết mấy.

Cách đây vài năm, nhiều Chùa và Phật Tử trên nhiều nước đã rầm rộ cung nghinh tượng PHẬT NGỌC, có danh hiệu là “Phật Ngọc vì hòa bình thế giới”. Mỉa may thay, dù Phật Ngọc được cho là uy lực lớn như vậy mà không tự bảo vệ nổi cho mình! Chùa muốn thỉnh về cho bá tánh chiêm ngưỡng, ngoài trả chi phí cho chủ nhân còn phải đóng một số tiền khá lớn để bảo hiểm cho tượng, lại phải thuê một lực lượng để bảo vệ! Và rồi, trong một tai nạn giao thông ở Đức, tượng Phật Ngọc đã bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng không được công bố nghiêm trọng cỡ nào! Không biết sau đó mọi người được giải thích thế nào, và lòng tin của những Phật Tử có vì đó bị suy giảm, vì thấy sự thật phũ phàng không? Phải chăng việc đó khẳng định thêm lời Phật đúng là chân lý, dù có làm bằng vật liệu quý giá cỡ nảo. Gán ghép vô đó bao nhiêu danh hiệu, mỹ từ lớn lao, cao quý thì “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” không thể khác được.

Trong khi Đại Thừa dạy Tu Phật là để thực hiện lời Thọ Ký của Phật, để Thành Phật, vì: “Chúng sinh là Phật sẽ thành”. Cho rằng cái Vọng Tâm là thủ phạm của mọi phiền não, đau khổ, nên tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, trình độ, không cần vô chùa hay ở thế tục, miễn là thấy được nó, Điều Phục nó rồi dùng lại. Mọi người vừa có thể tu hành mà vẫn tiếp tục ngành nghề, công việc cũ. Vẫn làm tròn trách nhiệm của một con người, một công dân trong đất nước, để đất nước không phí đi tài năng, sức người. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Nước nào được nhiều hiền tài phò trợ thì kinh tế phát triển, đời sống con người cũng được nâng lên. Người tu vẫn sinh sống bình thường giữa cuộc đời, chỉ cần tu sửa cái Tâm, bỏ Ác, hành thiện, thì có những người vẫn khăng khăng cho rằng ai muốn tu hành đều phải bỏ hết tất cả, chỉ nghĩ tưởng đến Phật, làm cho bao thời qua, biết bao nhiêu lớp người phí hoài cả kiếp sống, không đóng góp gì được cho cuộc đời! Và một nghịch lý rất lớn, là dù buông trôi cuộc đời, bỏ cả cha mẹ già không phụng dưỡng, không được có gia đình, không được nghĩ gì ngoài Phật mà cũng không được mơ mộng Thành Phật!

Rồi sự thật là mấy ngàn năm rồi, bao nhiêu lớp người đã Ly Thế Gian, mà được bao nhiêu người Thành Phật? Nhiều người tưởng rằng vào chùa là đã “Thoát vòng tục lụy”, nhưng thực tế đã chứng minh là vài năm gần đây, báo chí đưa tin một số thầy tu ở Hàn Quốc cờ bạc, nhậu nhẹt trong khách sạn, trong một đêm đã tiêu hết mười mấy tỷ Won. Một trụ trì ở Thái Lan xài toàn hàng hiệu, có cả mấy mươi chiếc xe đắt tiền và có đến mấy bà vợ. Một trụ trì của Thiếu Lâm Tự bị tố cáo cặp với nhiều minh tinh, có cả con riêng với sư nữ, đang bị báo chí rầm rộ đưa tin và chính quyền cũng đang vào cuộc để làm rõ. Rõ ràng đến thời này thỉ mọi người đều phải công nhận Đức Thích Ca nói đúng, và người đời cũng nói không sai: “chiếc áo không làm nên thầy tu”!

Việc tu hành diễn ra trong nội tâm, nên người ngoài không thể biết là hành giả hành trì đến đâu. Nhưng nếu tu hành mà không Điều Phục cái Tâm, thì dù có ở trong Đạo bao lâu, lên đến địa vị nào cũng không khác với phàm phu. Bằng chứng là thời Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc để giảng dạy, Quốc Sư Bồ Đề Lưu Chi phải là người đạo cao đức dày nổi bật như thế nào mới được vua tin dùng. Nhưng ông vẫn ôm giữ cái tâm đố kỵ, nên đã nhiều lần cho người bỏ thuốc vào cơm để đầu độc Tổ Đạt Ma. Lần cuối, Tổ đã không tự trị để viên tịch! Không hiểu Quốc Sư tu hành như thế nào mà ngay cả Giới Sát là Đại Giới của Đạo Phật cũng không biết để giữ, để lập đi lập lại hành vi đầu độc Tổ Đạt Ma, tức là cố ý phạm Giới Sát đến mấy lần! Đệ Tử của Sư Thần Tú cũng rất nhiều lần đi truy sát Lục Tổ Huệ Năng. Đốt chùa, đốt rừng, thậm chí cử Sư Chí Triệt đến chém Ngài. Qua đó, chúng ta thấy, rõ ràng: hình tướng dù trang nghiêm tới đâu, nhưng thiếu ĐIỀU TÂM thì có nghĩa là chưa tu hành theo đúng Chánh Pháp, vì đâu phải chỉ cần xa lìa cuộc đời, xa lìa thế gian, khoác lên người bộ Y mà trở thành thanh tịnh? Do vậy, theo Đại Thừa, cái cần xa lìa, cần phải Tu sửa, là Ba Độc, là cái dơ bẩn, thấp hèn, đố kỵ... trong Tâm của chính mình gọi là TU TÂM. Người có Tu Tâm mới thật sự là tu hành, vì mới đưa đến Giải Thoát được.

Dù cùng lấy Kinh sách để tu hành, nhưng cách hiểu, cách hành trì của người Y NGHĨA và người Y NGỮ khác nhau rất xa:

- Phật dạy VÔ NIỆM có nghĩa là bỏ Tạp Niệm, Vọng Niệm, là những tư tưởng độc ác, xấu xa, đen tối, thì người Y NGỮ bỏ hết tất cả, kể những tư tưởng tốt! Đạo Phật dạy VĂN-TƯ-TU. Nếu để đầu óc trống rỗng, không dám nghĩ tưởng gì hết. Không Tư Duy để hiểu cho rõ việc cần làm, cần xả, thì làm sao biết đúng để theo, biết sai để tránh?

- Phật dạy TRỪ TAM TÂM, tức trừ đi Tâm Tham, Tâm Sân, Tâm Si thì người Y NGỮ trừ Tâm Quá Khứ, Tâm Hiện Tại, Tâm Vị Lai để trở thành VÔ TÂM, trong khi Phật dạy phải phát vô số tâm lành. Đó là Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỉ, Tâm Xả gọi là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM.

- Phật dạy Xả những cái Chấp đã ôm giữ để được Giải Thoát, gọi là “Cúng Dường cho Phật”. Việc làm này cũng được gọi là Bố Thí 7 Báu. Bảy món Báu đó là: 3 Nghiệp Tham, Sân và Si của Thân. Bốn nghiệp của Khẩu là Nói láo, Nói lưỡi đôi chiều, Nói để khen mình, Nói để chê người, gọi là “Nội tài thí”, thì những người Y Ngữ lại “Ngoại tài thí”, mang nhà cửa, dinh thự, vàng, bạc, châu báu cúng Chùa cho là cúng Phật.

- Hình ảnh CẠO TÓC tượng trưng cho Cạo sạch Phiền Não. ĐẮP Y là phủ lên thân tâm một màu hoại Sắc, tức là không để cho Thân, Tâm dính tới Sắc tướng để được Giải Thoát… thì người Y Ngữ chỉ thực hiện phần hình tướng!

- Nghĩa của Tỳ Kheo là Bố Ma, Phá Ác, Phá Phiền Não. Như vậy người không làm việc đó, dù mang Bát, mặc Y vàng đâu thể là Tỳ Kheo!

- KHẤT THỰC tức là xin PHÁP THỰC. Có nghĩa là học hỏi Phật Pháp để tiến bộ, thì người Y NGỮ chỉ mang bát đi xin cơm trần tục.

- Phật dạy đời là VÔ THƯỜNG là để chúng ta biết rằng những sự sum họp giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái… bên nhau không lâu dài, mọi người nên nhận ra điều đó để biết yêu thương, trân trọng những giây phút còn ở bên nhau, mai kia phải xa nhau không hối tiếc, không phải khóc lóc, hối hận vì khi còn sống bên nhau đã không xứ tốt với nhau. Nhưng Người Y Ngữ lấy đó để chê chán, yếm thế, bỏ hết tất cả, đứng bên lề cuộc đời làm phí hoài kiếp sống.

- Thuở sinh tiền Phật đã chê bỏ cung vàng, điện ngọc để đi tìm Chân Lý Giải Thoát. Chùa được Tổ Đạt Ma giải nghĩa là Thanh Tịnh Địa, tức là đất Tâm được loại bỏ những ý tưởng xấu, để trở thành thanh tịnh. Chùa đó Vô Tướng, được hình thành nơi Tâm, vì Phật là sự Giải Thoát cũng ở nơi Tâm, thì người Y Ngữ cất chùa cho hoành tráng, mang vàng, ngọc điểm tô lên tượng Phật làm bằng xi măng, gỗ, đá.

- Phật dạy “Chúng sinh là Phật sẽ thành” để mọi người kính trọng nhau, yêu thương, giúp đỡ nhau. 32 Tướng Tốt là phương tiện Phật dạy mọi người bắt chước theo để Tạc tượng Phật cho bản thân mình. Kinh viết: Mỗi Tướng Tốt đều là kết quả của sự tu diệu hạnh của Bồ Tát từ lúc mới phát tâm Bồ Đề kiên cố cho đến khi thành đạo Vô Thượng Bồ Đề: “Như Lai từng vô lượng A Tăng Kỳ Kiết dốc lòng tu trì tịnh Giới, cho nên này được cái tướng bàn chân bằng phẳng. Nhờ sự cúng dường cha mẹ và bậc có đức cho nên được tướng nghìn xoáy ốc dưới bàn chân. Đối với chúng sinh không mang lòng làm hại, không có ý tưởng cướp đoạt, hễ thấy cha mẹ hoặc những bậc có đức thì ra xa đón chào, sửa đặt tòa ngồi, cung kính lễ bái, dẹp bỏ lòng kiêu mạn, nhờ thế mà được tướng ngón tay dài và nhỏ v.v… Tướng như thế mà người Y NGỮ lại lấy vàng, bạc, thạch cao, xi măng đúc, hay lấy ngọc, đá quý để tạc lấy rồi thắp hương để thờ!

- Việc tu hành phải độc thân, phải rời bỏ gia đình, không dính dấp đến việc đời chỉ đúng vào thời điểm Đức Thích Ca bắt đầu khai đạo. Vì lúc đó chưa có chữ viết, chỉ dùng Khẩu Truyền. Tức là Đức Thích Ca giảng và chư Đệ Tử phải tập trung lắng nghe, ghi nhớ để tự mình thực hành, tương lai giảng lại, nên phải cần dẹp bỏ tất cả mọi thứ cho đỡ vướng bận. Cho tới nay đã qua gần 3.000 năm. Những gì cần học, cần hành đã được ghi chép lại đầy đủ trong Kinh sách, lại được dịch ra đủ thứ tiếng. Ai cần đều có thể thỉnh về tham khảo. Như vậy cần gì phải bỏ hết việc đời mới có thể tập trung, lắng nghe, ghi chép, học, hiểu?

- Đạo Phật dạy phải VĂN-TƯ-TU. Do đó người tu học theo Đạo Phật thì phải biết lý do mà Phật mang Đạo Phật ra giảng dạy. Phương Tiện mà Ngài đã dùng. Kết quả sẽ về đâu? Qua đó ta sẽ thấy: Giai đoạn đầu khi Đạo Phật mới thành lập thì những Đệ Tử của Ngài là nhân tố chính để tương lai phát triển ĐẠO. Do vậy, phải cần từ bỏ tất cả việc đời để có thể tập trung mà học Đạo, nên rất cần có một sự hỗ trợ từ những người thí chủ. Vì thế, Phật phương tiện nói là “Cúng dường cho người tu hành được phước báo vô lượng”, để người bố thí mà muốn trao đổi, kiếm lời nhắm vào chùa chiền Sư Tăng để cúng, cho các vị yên tâm mà tu học. Về sau, mục đích tu hành ngày càng được Chư Tổ khai triển rõ ràng thêm. Cho đến nay thì người tu có chịu khó đọc Kinh sách sẽ thấy rõ là mỗi người chỉ “Độ” được những Chúng Sinh là Tham, Sân, Si trong nội tâm của chính mình, không có cứu độ được cho chúng sinh nào bên ngoài. Ngay cả Đức Thích Ca cũng chỉ độ cho mọi người bằng Giáo Pháp, Ngài không có cầm tay dắt ai lên được Niết Bàn. Do đó, việc nhờ người khác cung dưỡng để yên tâm tu hành là không cần thiết, vì Đạo Phật đã được phổ cập trong mọi tầng lớp, qua biết bao nhiêu thời với biết bao kinh sách giảng, luận, giáo pháp của Đạo Phật một cách chi tiết, rõ ràng, không có gì bí mật nữa. Vì thế, với Pháp Bố Thí, Kinh Duy Ma Cật viết: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng, thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo. Đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”.

- Pháp Bố Thí đầy đủ thì phải đủ “Tam luân không”, tức không có của cho, không có người cho, không có người nhận. Đó là hành Vô Tác, trong Vô Tướng, là việc thí xả nơi tâm của người làm. Còn bố thí, cúng dường cho người ngoài, dù là Sư Tăng hay người nghèo đều có đầy đủ ba thứ: Của cho, người cho, người nhận. Như vậy đâu có đúng là Pháp Thí?

- Ai cũng biết “Tu Phật là tu Tâm”, vậy thì tại sao phải vòng vo cất chùa cho thật hoành tráng, đúc tạc tượng Phật cho thật to chỉ để bá tánh nhìn vào đó mà ngưỡng mộ rồi mới quay vô Tâm gọi là Tiệm Giáo, mà không theo Đốn Giáo “Trực chỉ Chân Tâm Kiến Tánh thành Phật”?

- Người Y Ngữ cho rằng có Phật A Di Đà và TÂY PHƯƠNG CƯC LẠC và, nên cả đời sống thuần thiện, ăn chay, niệm Phật, tụng Kinh, gỏ mõ để chờ khi chết được Thánh Chúng rước về đó. Lục Tổ dạy: “Muốn đến Tây Phương Cực Lạc chỉ cần Trừ 10 điều Ác, dứt Tám Điều Tà, niệm niệm Thấy Tánh, thường làm việc công bình, chánh trực thì đến cõi ấy mau như khảy móng tay, liền thấy Phật A Di Đà”.


(Tháng 6/2015)


(còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 25.11.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004