Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



THƠ CA NGA XÔ VIẾT GIAI ĐOẠN

CHIẾN TRANH GIỮ NƯỚC VĨ ĐẠI Ở VIỆT NAM





Vào đầu những năm 1990, sau khi Liên Xô sụp đổ, cái điều phủ nhận nền văn học Xô viết, mà trước đó chừng ba bốn năm, nhà văn Vichto Erofeev đưa ra trong bài báo “Lễ cầu hồn cho văn học Xô viết”, đang thắng thế, thì tôi lại tìm thấy sự khẳng định ngược lại trong bài trả lời phỏng vấn của A.Zinôviev, đăng trên tờ “Bình luận sách”. A.Zinôviev, lúc đó đã ở tuổi 70, là một tri thức Nga sống ở Paris. Ông đã nói: “Văn học Xô viết, đặc biệt văn học trước chiến tranh, một phần văn học giai đoạn chiến tranh và những năm đầu sau chiến tranh, đó là một nền văn học vĩ đại. Trong lịch sử văn học, tôi không biết ở đâu trong một thời gian ngắn như vậy mà làm được nhiều đến như thế. Một nền thơ vô tiền khoáng hậu… Một nền thơ như thế trên thế giới không đâu có”.

Ấy là ông A.Zinôviev nói về nền thơ Xô viết giai đoạn Chiến tranh Giữ nước vĩ đại. Quả thực như vậy, những bài thơ của các nhà thơ Xô viết trong giai đoạn này, kể từ bài đầu tiên Cuộc chiến tranh thần thánh của V.Lebedev- Kumats được nhạc sĩ A.V.Alekxandrov phổ nhạc, lập tức vang lên khắp cả nước ngay ngày hôm sau khi phát xít tấn công Liên xô, cũng như hàng nghìn bài thơ xuất sắc khác được các nhà thơ đã cùng bước đi trong hàng ngũ các chiến sĩ Xô viết, vượt qua suốt con đường bốn năm, trực tiếp sáng tác ở ngoài chiến trường, hay suốt bốn năm luôn dõi theo bước đi của các chiến sĩ ngoài mặt trận, dốc hết tâm lực, tình cảm thương yêu đằm thắm viết ra ở hậu phương, như Lời thề của Anna Akhơmatova, Đêm đen của Vlađimir Agatov, “…Con nói với Người trong tiếng rít của đạn đại bác” của Olga Bergoltx, “Đợi anh về”, “Aliôsa nhớ chăng, những con đường Xmolensina”…của K.Ximônôp, Chỉ một lần em nhìn thấy trận giáp lá cà của Iulia Đrunhina, Đặt anh vào lòng đất của M.Ixacôpxki, Tôi đã bị giết chết ở Rgievô và trường ca Vaxili Chiôrkin của A.Tvardopxki, trường ca Đứa con trai của Paven Antôkôlxki…

Thể hiện tình cảm yêu thương tổ quốc, quê hương, yêu thương nước Nga nồng thắm, tình đồng chí, đồng đội sâu sa, thể hiện lòng mong muốn một cuộc sống bình yên vui tươi quện với chí căm thù đối với tội ác dã man, niềm quyết tâm không thể chung sống với thế lực phát xít đen tối,… Những bài thơ ấy đã động viên toàn nhân dân Liên xô, nhân dân Nga đứng lên bảo vệ Tổ quốc, chiến thắng quân thù. Những bài thơ ấy cũng đem đến cho nhân dân ở nhiều đất nước khác những sức mạnh đáng kể.

Dù xa xôi cách trở, ở Việt Nam đông đảo nhân dân đã sớm có cảm tình và đón nhận thơ ca Xô viết giai đoạn ấy. Bài ca Cachiusa, thơ của M.Ixacôpxki được M.Blanter phổ nhạc, đã theo những người thủy thủ Pháp đến cảng Hải Phòng Việt Nam ngay từ đầu những năm 1940. Năm 1947, bài thơ Đợi anh về của K.Ximônôp đã được nhà thơ Việt Nam Tố Hữu dịch ra tiếng Việt. Nhà thơ Tố Hữu đã kể lại cho nhà văn – đạo diễn điện ảnh Xô viết R.Karmen nghe: “Giặc Pháp nhảy dù và chiếm thành phố Bắc Kạn. Quân đội chính quy và du kích của chúng tôi đã chiến đấu ác liệt ở vùng Sông Lô và trên núi đèo, nhân dân rời bỏ làng xóm và thành phố thân yêu, bị kẻ thù biến thành những đống tro tàn. Một tối nọ, tôi đã tìm được cuốn sách Những cô gái Xô viết và trong đó có thấy bài thơ “Đợi anh về” của Konxtantin Ximônôp được Luykette dịch sang tiếng Pháp. Bài thơ đã làm tôi xúc động mạnh. Tôi đã nhìn thấy những người chị gái, em gái của tôi phải trải qua những đau thương mất mát khôn lường. Tôi muốn đem đến cho những người chị gái, em gái Việt Nam anh hùng của tôi những lời an ủi và hy vọng. Suốt đêm, cho đến sáng tôi đã dịch xong bài thơ…” 1

Bản dịch của Tố Hữu bài thơ của K.Ximônôp có thể coi là bản dịch thơ Nga đầu tiên mở đầu cho việc dịch và phổ biến thơ ca Nga ở Việt Nam. Từ đấy thơ ca Xô viết, thơ ca Nga thực sự đã chiếm lĩnh tâm hồn tình cảm của bạn đọc Việt Nam.

Trong vòng hơn nửa thế kỷ, thơ ca Nga đã được mấy thế hệ người dịch ở Việt Nam dịch và phổ biến rộng rãi. Trước đó, thơ ca các nước khác có quan hệ hàng thế kỷ với Việt Nam, như thơ ca Trung Quốc, thơ ca Pháp… cũng mới chỉ được dịch lẻ tẻ đăng trên báo chí, tập họp trong vài ba tập sách, trong khi chỉ từ giữa thế kỷ XX đến nay, thơ ca Nga ở Việt Nam đã được dịch, xuất bản có tới hàng trăm tập, không kể còn bao bản dịch khác in trên báo chí, in trong các hợp tuyển khác 2 .

Các thế hệ dịch giả Việt Nam yêu quý thơ ca Nga trong khi dịch đã chú ý nhiều đến thơ ca Nga trong giai đoạn Chiến tranh giữ nước vĩ đại. Điều này dễ hiểu bởi đất nước Việt Nam đã phải trải qua mấy cuộc chiến tranh kéo dài liên tiếp hàng hơn ba chục năm trời. Các dịch giả nhà thơ Việt Nam đã tìm thấy sự đồng cảm trong thơ của các nhà thơ Nga Xô viết trong giai đoạn này. Xuân Diệu, vị hoàng tử của thơ tình Việt Nam, đã dành tâm huyết để dịch những trích đoạn hay nhất trong trường ca Đứa con trai của Paven Antôkôlxki, sáng tác sau khi nghe tin con trai mình, một sĩ quan Xô viết, hy sinh anh dũng ngoài mặt trận. Nhà thơ Tế Hanh, bấy giờ đang canh cánh nỗi lòng vì quê hương ở miền Nam Việt Nam đang bị chia cắt sau vĩ tuyến 17, đã dịch bài thơ Trước ngày lễ lớn cũng của P. Antôkôlxki, rồi bài thơ vô đề “Gió gào thét trong rừng” sáng tác năm 1942 của Xtepan Tsipatsev, với tình cảm yêu thương và niềm tin chắc chắn vào ngày chiến thắng cuối cùng của dân tộc. Dịch những bài thơ Trong chiến hào của A. Xurcôp, Em ơi, đừng tin của Muxtai Djalin, nhà thơ Việt Nam Đào Xuân Quý cũng gửi gắm những tình cảm tương tự của mình…

Đặc biệt các dịch giả Việt Nam các thế hệ tiếp theo, sống và sát cánh cùng nhân dân chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ những năm 1960, 1970, đã tìm thấy nhiều đồng cảm trong thơ ca Nga giai đoạn Chiến tranh giữ nước vĩ đại, để biểu đạt tình cảm của mình. Dịch giả Thái Bá Tân đã dịch cả một tuyển thơ hàng chục bài của giai đoạn này: Đêm đen của V.Agatôv, Tuyết đang bay ngoài cửa sổ của Ia.Benlinxki, Bắt đầu mát của Iu.Drunhina, Ngọn lửa nhỏ của M.Ixakôpxki, Cảm ơn em, em yêu, Tổ quốc bắt đầu từ đâu của M.Matuxôpxki, Thật không ngờ của G.Platkhôp, Chiều hải cảng của A.Surkin, Có một bờ khe nơi ngày xưa và một chùm hàng chục bài khác của A.Tvardôpxki, Những người lính của K.Vansenki… Đăng Bảy dịch Con tim của M. Lơvôp, Vô đề (Đặt anh vào lòng đất) của X.Orlov, Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trong đoàn hỡi của A.Phatrianop, Gửi người đời sau của X.Tsipatsev… Bằng Việt dịch thơ của Olga Bergoltx, Thúy Toàn dịch thơ của A.Xurcôp, A.Tvardôpxki, A.Akhơmatôva, R.Kazacôva, Anh Ngọc dịch thơ của V.Kaperô, Ev.Eptusencô, Hồng Thanh Quang dịch thơ của K.Ximônôp, Đoàn Minh Tuấn, Lưu Đức Thụ cũng dành nhiều công sức và tình cảm cho việc dịch các nhà thơ Xô viết về Chiến tranh giữ quốc.

Cùng với các dịch giả, các nhạc sĩ Việt Nam đồng thời cũng là những tâm hồn thơ đã chuyển thành lời Việt, hầu hết các bài thơ nổi tiếng của các nhà thơ Xô viết sáng tác trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại được phổ nhạc, trở thành các khúc hát phổ biến tựa như dân ca. Những ca khúc Nga ấy cũng được phổ biến rộng rãi cả ở Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua.

Cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên xô, nhân dân Nga đã giành được thắng lợi, kết thúc chủ nghĩa phát xít Đức đã được hơn 60 năm. Ở Việt Nam, thơ ca Xô viết, thơ ca Nga giai đoạn cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại này vẫn tiếp tục được yêu quý, giữ gìn trong lòng bạn đọc Việt Nam.


1 Ánh sáng trong rừng sâu, R.Karmen, NXB Nhà văn Xô viết, M.1957 (bản tiếng Nga) tr.41-42

2 Xem Bước đầu tìm hiểu thơ ca Nga ở Việt Nam Thúy Toàn, Văn học nước ngoài, số 1, 2005, tr.174-186



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 25.11.2015.