Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Kỷ Niệm 250 Năm Sinh

Đại Thi Hào Nguyễn Du






Hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du

Sáng 6-8 tại Hà Nội, Viện hàn lâm Khoa học xã hội VN và UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức họp báo về hội thảo quốc tế nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du.

Hội thảo sẽ diễn ra trong cả ngày 8-8, với chủ đề “Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại”. Đây là sự kiện nằm trong chuỗi sự kiện lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du.

Hội thảo hướng đến những tìm tòi mới, từ phát hiện văn bản đến diễn dịch văn bản, bao gồm cả dịch thuật, lý giải và đọc mới những cách diễn dịch trước đây, đồng thời tập trung vào việc tìm kiếm tư liệu, tiếp cận các tập thơ chữ Hán, Truyện Kiều của Nguyễn Du từ những góc nhìn mới.

PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, viện trưởng Viện Văn học, cho biết ban tổ chức hội thảo đã nhận được hơn 100 tham luận, trong đó có 90 tham luận của các học giả, nhà nghiên cứu trong nước và 16 tham luận của các học giả nước ngoài đến từ Trường đại học Silpakorn (Thái Lan), Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Pháp, Đại học Ngoại ngữ Tokyo (Nhật Bản), Viện hàn lâm Khoa học Nga, Viện hàn lâm Văn học Mông Cổ, Đại học Bắc 
Kinh (Trung Quốc)...

“Trong các tham luận gửi về ban tổ chức hội thảo, có quá nửa số tham luận nói về Truyện Kiều. Đây cũng là chủ đề trọng tâm của hội thảo” - PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cho biết.

Tháng 7-2015, Hội Kiều học VN và Thư viện Quốc gia VN cũng đã tổ chức hội thảo khoa học “Đại thi hào Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều” với hơn 30 tham luận của các học giả trong nước.

Trước đó, ngày 25-10-2013, tại phiên họp lần thứ 37, UNESCO đã có nghị quyết số 37C/15 về việc tổ chức các lễ kỷ niệm với sự tham gia của UNESCO trong hai năm 2014 - 2015, trong đó có nội dung tổ chức lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du - đại thi 
hào của VN. Khu lưu niệm Nguyễn Du tại Hà Tĩnh

Tổ chức hoạt động kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Nguyễn Du

Sáng 2/6/2015, tại Hà Nội, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã giới thiệu các hoạt động kỷ niệm 250 năm Ngày sinh và vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015).

Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm Ngày sinh và vinh danh Danh nhân Văn hóa thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du sẽ được tổ chức trong tháng 11/2015 tại Hà Tĩnh.

Trong thời gian tới, tỉnh Hà Tĩnh sẽ phối hợp với các cơ quan, các địa phương tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du như: Các hội thảo chuyên đề về Truyện Kiều và Nguyễn Du; Hội thảo quốc tế về cuộc đời và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du; sưu tầm, giới thiệu xuất bản các tác phẩm của Nguyễn Du; xây dựng phim tư liệu, các tác phẩm sân khấu, âm nhạc, hội họa về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm của dòng họ ông.

Các cuộc thi tìm hiểu, thi ngâm Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, nói chuyện về tác phẩm của Nguyễn Du cũng sẽ được tổ chức.

Nguyễn Du, tự Tố Như, sinh năm 1765, tại kinh thành Thăng Long trong một gia đình danh gia vọng tộc của xứ Nghệ. Quê gốc của Nguyễn Du ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Truyền thống dòng họ, quê hương, sự giao thoa của các vùng văn hóa, đặc biệt là nền văn hiến Thăng Long, phong ba bão táp của thời đại và cuộc đời, cùng tư chất thông minh, đã góp phần tạo nên một thi hào Nguyễn Du với lòng thương vô hạn mọi kiếp người đau khổ, sự bất bình, phẫn uất trước những thế lực chà đạp lên vận mệnh con người, sự cảm phục, ca ngợi những tình yêu cao đẹp, thủy chung, sự khao khát vươn tới công lý và cái đẹp vĩnh hằng... Những tư tưởng, tình cảm đó đã tạo nên những tác phẩm văn học kiệt xuất, đặc biệt là Truyện Kiều - tập đại thành của nền văn học cổ điển Việt Nam.

Tên tuổi của Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều bất hủ - đỉnh cao của nền văn học nước nhà không những làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam mà còn góp phần tôn vinh bản sắc, giá trị văn hoá Việt trên trường quốc tế. Hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho các văn nghệ sỹ cho ra đời rất nhiều tác phẩm thi ca, nhạc họa.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu ấn của văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Đến nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hòa bình thế giới vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.

Kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa thế giới là sự kiện văn hóa cấp quốc gia, có tầm ảnh hưởng quốc tế. Các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhằm khẳng định công lao, tài năng và tôn vinh những đóng góp đặc biệt xuất sắc của Nguyễn Du đối với nền văn hóa Việt Nam và nhân loại.

Tác phẩm

Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.

Chính trên cơ sở này mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của một bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra: vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ thơ chữ Hán đến truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của ông.[8]

Tác phẩm bằng chữ Nôm

-Đoạn trường tân thanh (Tiếng than van mới đau lòng đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học (bộ mới) ghi: "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn" [10].

-Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), viết bằng thể thơ song thất lục bát hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.

Sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc. Hơn nữa nó lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình thức sáng tạo văn học và văn hóa khác nhau: thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ thuật dân gian: đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều... Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài bình luận, những công trình phê bình, nghiên cứu.

Thơ văn nhạc viết về Nguyễn Du

THƠ

     -Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
             Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
             Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
             Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

             (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)

    -Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
             Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

             (Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu)

    -Đời nay đẹp gấp trăm lần thuở trước
             Giở trang Kiều còn rung động ý thơ
             Thơ Người mãi sống cùng đất nước
             Dù mai sau dù có bao giờ

             (Thăm mộ cụ Nguyễn Du - Hoàng Trung Thông

Sách kể mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương

Năm đó, Nguyễn Du 24 tuổi, ưu tư, thâm trầm; còn Xuân Hương đang tuổi 17 căng tràn sức sống và thông minh, sắc sảo. Mối tình của họ được viết trong cuốn sách "Nguyễn Du trên đường gió bụi".

Cuốn sách của tác giả Hoàng Khôi vừa xuất bản giữa tháng 9. Cuộc đời Nguyễn Du đầy thăng trầm theo những biến động thời thế, chính trị. Nguyễn Du trên đường gió bụi miêu tả 10 năm gió bụi trong cuộc đời tác giả Truyện Kiều, từ 1786 đến 1796.

Năm 1790, Nguyễn Du ở tại gác tía gần Hồ Tây của anh Nguyễn Khản (lúc đó đang làm quan Tham tụng). Làng Nghi Tàm hồi ấy có gia đình thầy đồ Diễn trú ngụ. Gia đình thầy đồ có cô con gái duy nhất tên Xuân Hương. Xuân Hương đang ở tuổi 16 - 17, là cô gái xinh xắn, nghịch ngợm và có phần hiếu thắng do được ông bà thầy đồ Diễn chiều chuộng. Cô học chữ Hán, chữ Nôm rất nhanh, lại biết làm thơ, ứng đối thông minh, sắc sảo. Vì thế rất nhiều người trong đám học trò cảm mến Xuân Hương, nhưng nàng vẫn chưa thấy phục và yêu ai.

Theo Hoàng Khôi, Xuân Hương gặp Nguyễn Du trong một lần bơi thuyền đi hái sen. Họ kết bạn và nhanh chóng cảm mến nhau. Hoàng Khôi viết trong sách: “Xuân Hương gặp Nguyễn Du, thấy chàng vừa sâu sắc vừa thông minh hóm hỉnh nên ngày càng cảm mến. Còn Nguyễn Du trong nỗi cô đơn dằng dặc mấy năm trời, nay gặp được một cô gái trẻ sắc sảo, tài hoa lại mạnh mẽ nên tự nhiên thấy mình như có sự bù đắp. Dù chưa ai nói gì với ai, cả hai đều ngầm cảm nhận một tình cảm lạ đang nhen nhóm trong mình”. Hoàng Khôi còn kể chi tiết mối tình giữa Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, những khi họ quan tâm, chăm sóc nhau, cùng nhau đi chơi, thăm thú bạn bè hay luận thi ca.

Đặc biệt, cả hai hồn thơ lớn đều mượn thơ để nói hộ lòng. Với tính cách chủ động, Hồ Xuân Hương làm thơ tặng Nguyễn Du, bài thơ Hỏi trăng mà bà viết cũng là lời của một cô gái ướm hỏi ý người yêu: “Trải mấy thu nay vẫn hãy còn / Cớ sao khi khuyết lại khi tròn / Hỏi con bạch thỏ đà bao tuổi / Lại chị Hằng Nga đã mấy con? / Đêm tối cớ chi soi gác tía? / Ngày xanh còn thẹn với vừng son / Năm canh lơ lửng chờ ai đó? / Hay có tình riêng với nước non?". Với tâm hồn thi ca, đại thi hào cũng bày tỏ nỗi lòng sâu kín của mình qua bài thơ Thạch Đình tặng biệt. Bài thơ sau này được đưa vào tập “Lưu Hương Ký” của Hồ Xuân Hương: “Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời / Nước non sầu nặng muốn đi về / Cung hoàng diệu vợi đường khôn lọt / Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê / Đã chắc hương đâu cho lửa bén / Lệ mà hoa lại quyến xuân đi / Xanh vàng chẳng phụ lòng nhân ái / Tròn trặn gương tình cũng khó khi”.

Mối tình kéo dài trong ba năm, cho tới khi Nguyễn Du phải về lại Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh đề xây từ đường cho dòng họ. Sau đó, mỗi người đi một con đường. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn, cả hai lần lấy chồng đều làm lẽ.

Bên cạnh mối tình giữa Nguyễn Du với "bà Chúa thơ Nôm", cuốn sách Nguyễn Du trên đường gió bụi còn cung cấp nhiều tư liệu quý về cuộc đời đại thi hào, như chuyện Nguyễn Du theo Gia Long, hay thời điểm và hoàn cảnh ông sáng tác Truyện Kiều, giải thích tại sao những bài thơ tả cảnh vật, con người Trung Hoa nhưng lại không trùng với con đường mà ông đi sứ…

Trước Hoàng Khôi, đã có nhiều giai thoại, sách viết về cuộc đời Nguyễn Du, nổi bật trong số đó là Ba trăm năm lẻ (tác giả Vũ Ngọc Khánh, xuất bản năm 1988) và cuốn Nguyễn Du (tác giả Thế Quang, xuất bản năm 2010).

PHẠM DUY & MINH HỌA TRUYỆN KIỀU

Nhưng rồi đến một ngày tôi (Kiều Văn) nghe tin ông đã về hẳn Việt Nam và công ti Phương Nam đã mua bản quyền những tác phẩm âm nhạc cùng những sản phẩm văn hoá khác (như những cuốn hồi kí) của ông. Ngoài ra còn có một giai thoại khá thú vị là công ti VITEX đã xin mua bản quyền mười nốt nhạc trong bài hát “Tình ca” với giá 100 triệu đồng để làm nhạc hiệu của công ti! Đó là: sol–sol–do–si(b)–sol–mi(b)–fa–sol–mi(b)–do.

Sự kiện nhạc sĩ Phạm Duy, sau một thời gian dài vắng bóng, nay lại được trở về tổ quốc, tác phẩm lại được “tái xuất giang hồ”, theo tôi chính là một giải kết của trời đất, của hồn thiêng sông núi nhằm khẳng định một chân lí chứ không đơn giản là một cuộc hồi hương thông thường. Phạm Duy nhất thiết phải trở về với “Mẹ Việt Nam không son không phấn” của ông. Ôi! Phạm Duy, đứa con đích thực là của mẹ, đứa con hiểu đến tận cùng cõi lòng từ ái nhưng đau thương vô hạn của mẹ, đứa con mà mẹ đã bỏ qua cho nó những khuyết tật nhỏ nhặt để yêu thương nó, hài lòng về nó, và gửi gắm ở nó bao nhiêu hi vọng tốt lành! Đứa con ấy không trở về sống nốt quãng đời sau chót của nó trong lòng mẹ và không được chết trong lòng mẹ thì nó còn biết sống và chết ở đâu? Cho nên phải chăng chính Mẹ Việt Nam thiêng liêng vô hạn đã dang rộng cánh tay đón đứa con ấy vào lòng để che chở, an ủi và chăm sóc nó? Phải chăng vì suốt một cuộc đời, Phạm Duy đã yêu thương mẹ hết tấc lòng nên cũng được mẹ yêu thương rất nhiều? Thiết tưởng đó chính là lời giải đáp sâu xa nhất về hiện tượng “Phạm Duy trở về nước” từng làm xôn xao dư luận trong những năm đầu của thế kỉ XXI.

Việc Phạm Duy trở về tổ quốc đã giải toả cho tôi một nỗi lo, thậm chí là một nỗi đau nhức nhối. Không lẽ một thiên tài như Phạm Duy lại bị đời xua đuổi? Không lẽ đứa con xiết bao yêu dấu của Mẹ Việt Nam mà Mẹ thiêng liêng vĩ đại không thể cưu mang? Không lẽ những kiệt tác thuộc về dân tộc lại bị chính dân tộc lãng quên, ruồng bỏ? Nếu những điều đó xảy ra thật trong vận hội mới của đất nước ở thế kỉ XXI này thì tôi chỉ còn biết ngửa cổ lên trời mà than rằng: “Không còn trời đất nào nữa!”.

Nhạc sĩ Phạm Duy trở về, trên thực tế đã gây ra những làn sóng xáo động trong xã hội. Có rất nhiều người mừng vui nhưng cũng có người cho rằng ông… không xứng đáng được trở về tổ quốc Việt Nam của họ! Khá nhiều người biết danh tiếng Phạm Duy nhưng không trả lời được câu hỏi: “Cái điều chính yếu nhất khi nói đến nhạc sĩ Phạm Duy là điều gì?”. Họ thường nói những chuyện ngoài lề mà cố tình quay mặt đối với sự nghiệp âm nhạc kì vĩ ông đã cống hiến cho đất nước và dân tộc.

[Những người này cảm thấy gì khi được biết cái tin sau đây: nhân kỉ niệm lần thứ 224 ngày sinh của đại thi hào Nguyễn Du, tạp chí Xưa và Nay, Hiệp hội Unesco Hà Nội cùng phối hợp tổ chức (tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam, Hà Nội chiều 2/1/2009) đã mời nhạc sĩ Phạm Duy nói chuyện về tác phẩm “Minh hoạ Truyện Kiều” của ông.

Báo Thể thao & Văn hoá ngày 3/1/2009 đưa tin:

Với mái tóc bạc trắng và chất giọng trầm ấm, nhạc sĩ Phạm Duy đã đăng đàn nói về tác phẩm này trong khoảng 2 tiếng đồng hồ trong một khán phòng chật kín người. Ông đã dẫn dắt câu chuyện về sự nghiệp sáng tác của mình như sau: “Tôi là người rất may mắn, suốt 60 năm hành nghề đã viết ra hầu hết các loại ca cho các giai đoạn của đời người, từ ru con cho tới tuổi lọt lòng, học sinh, sinh viên ca cho tuổi đi học, thanh niên ca cho tuổi vào đời, tình ca cho tuổi yêu đương, hội ca cho những ngày hội, nhạc lễ cho các đình chùa hay giáo đường. Và khi con người vĩnh biệt cuộc đời, tôi còn soạn tang ca để tiễn đưa tha nhân về nơi chín suối… Bây giờ vào lúc cuối đời với tác phẩm Minh hoạ Truyện Kiều, dù chưa được hoàn tất nhưng tôi rất sung sướng được đem ra hầu chuyện quý vị, anh chị em. Là nghệ sĩ lúc nào cũng muốn bảo tồn phát huy âm nhạc dân tộc, bây giờ tôi muốn kết thúc sự nghiệp của mình bằng sáng tác dựa trên một tác phẩm vô cùng Việt Nam, đó là Truyện Kiều”. Vừa giới thiệu ý tưởng sáng tác, thuyết minh điểm nhấn nhá trong từng chương hồi, vừa chỉ huy bộ phận kĩ thuật bật đĩa, một mình nhạc sĩ Phạm Duy cũng đủ để biến buổi nói chuyện thành một live show tràn đầy cảm hứng âm nhạc…(N.M).]

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU (Nhạc sĩ Phạm Duy tâm sự)

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU gồm bốn phần. Tôi đã thực hiện xong :

Phần Một là phần Kiều gặp Đạm Tiên, tức là gặp số phận mình, số phận của những người tài hoa bạc số, và

Phần Hai là phần Kiều gặp Kim Trọng, nghĩa là gặp tình yêu, nhưng là tình yêu không trọn vẹn.

Trước khi tới Phần Bốn là phần Kiều gặp Từ Hải,

Phần Ba là cuộc đời điêu đứng của Kiều : từ ngày xẩy ra chuyện vu oan giá họa của thằng bán tơ, khiến Vương Ông và Vương Quan bị bắt và Kiều phải bán mình để chuộc tội cho cha và cho anh… cho tới khi Kiều bị thất thân với Mã Giám Sinh, bị đưa vào nhà thanh lâu, bị Tú Bà đánh đập, bi Sở Khanh đánh lừa… Khi gặp Thúc Sinh thì bị Hoạn Bà và Hoạn Thư sai Khuyển Ưng, Khuyển Phệ bắt cóc đem về làm kẻ nô tỳ, rồi khi Thúc Sinh về nhà vợ thì Kiều phải hầu rượu và đàn hát cho mọi người nghe… *

Phần Ba này khác với hai phần trước ở chỗ có nhiều chuyện, có nhiều nhân vật, có nhiều tình tiết… trong khi Phần Một và Phần Hai chỉ là chuyện giữa hai người, hoặc Kiều và Đạm Tiên, hoặc Kiều và Kim Trọng.

Về phần nhạc ngữ thì ở đây không còn là nhạc tả cảnh hay nhạc tả tình thuần túy, mà mang tính chất nhạc sân khấu với nhạc đối thoại. Những cao trào đua nhau hiện ra rồi ngưng nghỉ ở một đoạn thoái trào, nghĩa là trong căng thẳng cũng phải có lúc nguôi ngoai, trong khổ đau cũng phải có lúc hạnh phúc, dù đơn sơ đến mấy.

Duy Cường đã dùng âm thanh của tổ chức “Đường Thượng Chi Nhạc Trung Hoa”, chen lẫn với âm thanh của nhạc cụ Việt Nam, hòa lẫn với âm thanh của nhạc cụ Tây Phương. Tất cả chỉ là phương tiện để diễn dịch chu đáo một đại thi phẩm của Việt Nam.

Thêm vào các ca sĩ quen thuộc của Minh Họa Kiều là một giọng hát có diễn tả của Anh Dũng trong vai Mã Giám Sinh. Vai Tú Bà cũng cần một ca sĩ của sân khấu nhưng vì chúng tôi chưa tìm được ai hát vai đó cho nên đành nhờ Ái Vân.

LỜI KẾT

Lễ kỷ niệm được tổ chức nhân ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, nhằm ngày 10 tháng 8 năm Giáp Tý (tức ngày 8/9/1924) tại hội quán Khai trí tiến đức, trên bờ hồ Gươm, Hà Nội. Tại lễ kỷ niệm này, tổng thư ký Khai trí tiến đức đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí “Nam phong” là Phạm Quỳnh (1892-1945) đọc diễn văn tôn vinh thiên tài Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Hiện tượng dân Việt, từ người học thức cao đến kẻ lam lũ, già trẻ lớn bé, ai ai cũng biết cũng thuộc cũng kể cũng ngâm Kiều, − được diễn giả ghi nhận như cái công “tác thành cho tiếng nước nhà” của Nguyễn Tiên Điền; từ đây diễn giả cho Truyện Kiều là “quốc hoa, quốc túy, quốc hồn” của nước Việt; “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”…

Tinh thần bài diễn văn của Phạm Quỳnh là nhất quán với chủ trương của ông và của nhiều trí thức người Việt đương thời: đặt niềm tin sự phát triển văn hóa dân tộc từ nay về sau vào văn quốc ngữ, vào chữ quốc ngữ, tuy là văn tự chỉ mới được phổ biến dăm ba chục năm, nhưng lại gắn với tiếng nói từ xa xưa đến hiện tại của người bản ngữ ở Việt Nam. Trong một ý hướng như thế, việc chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du làm điểm tựa trong truyền thống hầu như là lựa chọn tối ưu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác giả đương thời như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, v.v., vào dịp đó đều có những việc làm góp phần phổ biến Truyện Kiều, những bài viết đề cao giá trị Truyện Kiều.

Về kiệt tác này của Nguyễn Du, nếu ta có dịp đọc tạp văn Phan Khôi, ta sẽ thấy ông luôn luôn coi Truyện Kiều như một tập đại thành của văn hóa người Việt, của ngôn ngữ Việt, ông thường xuyên dẫn trích tác phẩm này như một nguồn văn, nguồn di sản không gì thay thế được đối với người viết văn tiếng Việt. Nhưng đây là chuyện đã xa so với đề tài đang bàn.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.11.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004