Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM






      PHỐ HIẾN


Vai trò của Phố Hiến

Câu nói truyền tụng "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" về hai trung tâm buôn bán vói nước ngoài nổi tiếng cách đây 3 thế kỷ.

Vào tháng 12 năm 1993, một Hội nghị Quốc tế về Phố Hiến được tổ chức với sự tham gia của nhiều học giả người Hoa Kỳ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan quan tâm đến vấn đề giao dịch. Những phố phường chợ bến tại Phố Hiế vẫn còn, nhưng đến nay Phố Hiến chỉ còn là một thị trấn nhỏ, đang trong tình trạng suy thoái đến cùng cực.

Đã một thời, Phố Hiến là một trung tâm mậu dịch đối ngoại, có quan hệ buôn bán với nhiều nước trong vùng Ðông Nam Á, Nam Á và một số nước Tây Phương như Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha... Do đó Trung Hoa, Nhật Bản, công ty Đông Ấn Hà Lan, Công Ty Đông Ấn Pháp, Cơ quan Lưu Trữ Quốc Gia của Hội Truyền Giáo nước ngoài tại Paris, Cơ quan Lưu Trữ Quốc Gia của Bồ Đào Nha, của Vatican... cho đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều tài liệu về Phố Hiến và có liên quan đến Phố Hiến.

Một phần những tài liệu nầy đã được một số các nhà khoa học nước ngoài khai thác và công bố (Theo Villars -1903). Đây là nguồn tài lịêu phong phú, khách quan, có giá trị về nhiều mặt: lịch sử, kinh tế, bang giao, chính trị, hợp tác quốc tế ở Ðàng Ngoài.

Những nhà nghiên cứu Nhật Bản và Hà Lan tham dự những cuộc hội thảo về Phố Hiến (1993), Hội An (1990) đã giới thiệu nhiều tài liệu của cơ quan VOC có liên quan đến nhiều vấn đề Việt Nam. Tiến sĩ A. Farrington có nhiều tài liệu liên quan đến Công Ty Đông Ấn (Anh) đến buôn bán tại Việt Nam nói nhiều về Hội An và Phố Hiến.

Những thống kê của Nhà Bảo tàng Hải Hưng cho biết: Hiện nay tại Phố Hiến còn có trên 60 di tích kiến trúc, phần nhiều được xây dựng lại vào thế kỷ XIX - XX, tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vết tích trong giai đoạn thịnh vượng của Phố Hiến tức là trong khoảng thế kỷ XVII - XVIII. Khi đến nghiên cứu tại chỗ, vẫn còn có thể tìm thấy được gia phả của nhiều dòng họ, địa bạ, trích lục địa bạ về ruộng đất thời Lê - Nguyễn - Trịnh cũng được bảo lưu.

Những cuộc thống kê trong thời gian đến nghiên cứu, có thể tìm thấy được một số liệu di tích: 74 bia ký, 5 khánh đá, 22 chuông đồng và 161 sắc phong của những triều vua liên quan đến những viên chức trấn nhiệm trong vùng nầy. Trong những bi ký khai quật được trong thòi gian gần đây thu thập ở vùng giai đoạn phồn vinh của Phố Hiến như bia năm 1625, bia năm 1709 ở tại chùa Hiến, bia năm 1711 ở chùa Chuông, bia năm 1683 ở Tường Lân.

Một trong những di tích quan trọng trong vùng nầy là khu thương điếm của người ngoại quốc đến trao đổi hàng hoá. Nhiều lò gốm cũng được tìm thấy tại đây có nhiều chất liệu tốt, mà nhiều nhà nghiên cứu suy nghĩ đến một trong những mặt hàng xuất cảng loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam nổi tiếng của nước ta bao nhiêu đời nay.

Vấn đề nghiên cứu Phố Hiến đã được ghi chép từ xưa. Những sử liệu biên niên lần cương mục, các loại địa dư chí, các bộ luật cổ và các thư tịch bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm đều có ghi chép về Phố Hiến, tuy nhiên, nhìn chung thì tất cả đều sơ lược, phần đông chỉ muốn cung cấp những số liệu và các chính sách của các Vương triều ngày trước đối với những thương thuyền nước ngoài, đồng thời cũng miêu tả qua một vài di tích ỏ Phố Hiến trong những chương trình kiến tạo hay trùng tu.

Với những nhà nghiên cứu, nguồn tài lịêu chữ viết, truyền khẩu cũng như những di tích, văn bia còn được lưu giữ đến nay tại Phố Hiến và các vùng lân cận chung quanh Phố Hiến đã giữ vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu về thương cảng nầy. Do ví trí đặc biệt của thương cảng nầy trong quá khứ, nhất là trong quan hệ với kinh thành Thăng Long và trong quan hệ mậu dịchđối ngoại cũng những thế kỷ trước, Phố Hiến đã được nhận định, phân tách, nghiên cứu, đánh giá lại với những mức độ khác nhau trong những bộ sử Việt Nam.

Xuất xứ của Phố Hiến:

Qua những công trình nghiên cứu trong mấy chục năm lại đây, nguồn tài lịêu sớm nhất tại Việt Nam mà đến nay chúng ta được biết, có nhắc đến tên Phố Hiến là văn bia chùa Thiên Ứng dựng lên năm Vĩnh Tộ (1625), trong đó có đoạn: Phố Hiến nổi tiếng là nơi đô hội Tiểu Trường An của bốn phương. Chỉ riêng những dòng chữ trong văn bia nầy cũng đủ để phủ nhận ý kiến của một số những nhà nghiên cứu trước đây đặt niên hiệu ra đời của Phố Hiến là năm 1673, với sự thành lập thương điếm Hà Lan; hay tài liệu ghi năm 1663 khi người Hoa dồn về cư trú và buôn bán trao đổi hàng hoá tại đây.

Danh xưng:

Tên "Phố Hiến" xuất phát với chữ "Hiến", với các tên gọi "Hiến Doanh" hay "Hiến Nam", mà trước đây là cơ quan hành chánh của trấn Sơn Nam, đã từng được xác nhận qua nhièu thư tịch cổ bảo lưu tại nước ta. Ngược dòng thời gian lên đến đời Trần, có thể tìm thấy được trong sử cũ một địa danh, mà ngữ âm gần gũi với Hiến Nam: đó là Hán Nam. Đầu năm 1288, lánh giặc Nguyên xâm lăng nước ta, các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã đưa quân về đóng tại đồn Hán Nam.

Một số tài liệu khác lại gọi đồn Hán Nam nầy với tên là Cảm Nam. Nhiều nhà nghiên cứu khác (Đào Duy Anh, Hà Văn Tấn, Nguyễn Lương Bích) nhận định rằng: Chưa rõ Hán Nam hay Cảm Nam ở vào vị trínào trên địa danh Đàng Ngoài.

Một số sử liệu khác thì ghi rằng: Hán Nam (Cảm Nam) ở trên sông Hồng, bờ phía Tây, mé dưới Thăng Long và mạng trên Hải Thị (cửa sông Luộc, giáp sông Hồng). Theo Guendeville trong Atlas Historique - 1713 - thì: Nơi nầy có tên là "Kẻ Nam", với ngữ âm khá gần gủi với Cảm Nam. Đó chính là Phố Hiến.

Ngược thời gian lên trên hơn nữa, đến đời nhà Lý, lại gặp được một địa danh nữa: Cư Liên. Đại Việt Sử Ký chép: "Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân đi đáng Chiêm Thành không được phải rút về; nhưng khi đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi Ý Lan thay vua ở nhà coi việc triều đình rất uy nghiêm, bèn trở lại chiến trường và đã thắng được quân giặc".

Địa danh Cư liên được nói trong trường hợp nầy đã được những nhà sử học đoán định là vùng đất Hưng Yên - Cư Liên - Hiến. Với nhận định trên, nhiều giản thuyết cho rằng đây là hậu thân của Phố Hiến, sau khi hiệu qua một chuỗi ngữ âm gần giống nhau để minh định. Nếu nghiên cứu sâu thêm trong lòng thị xã Hưng Yên hiện nay, chung quanh khu vực hồ Bán Nguyệt, dọc theo bờ sông Hồng, về vùng ven biển, gần đây còn có những địa danh đáng cho chúng ta lưu ý đến: Lương Điền, Phương Cái, Mậu Dương.

Những địa danh nầy chính là tên của 3 xã cổ: Hoa Ðiền, Hoa Cái, Hoa Giang, mà dân chúng thường gọi chung là Tam Hoa. Tam Hoa là tên gọi về sau của Hoa Dương (những người Hoa theo Dương Thái Hậu đời nhà Tống). Ở khu vực nầy cũng còn địa danh và đơn vị hành chánh: Vạn Lai Triều.

Đây cũng là nơi mà những người Hoa đến sinh sống, nhưng trong thời điểm muộn hơn về sau nầy. Tấm bia Anh Linh Vương năm Bảo Thái thứ 4 (1723) chũng ở Hưng Yên đã ghi rõ: Những người dựng bia nầy là những người các tỉnh của Trung Hoa đến cư ngụ tại Vạn Lai Triều.

Thành thử, Hoa Dương, Lai Triều là chứng tích của người Trung Hoa rải rác khắp nơi đến làm ăn ở Phố Hiến từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII và đông đúc nhất trong khoảng từ thế kỷ XVII và XVIII. Tuy nhiên, ngay từ thời xa xưa, không phải chỉ có người Hoa đến cư trú và làm ăn tại Phố Hiến.

Trong gia phả của dòng họ Tiết tìm thấy được tại Hưng Yên, có đoạn chép: "Ông Tiết Đống đến vùng Bắc Hoà hạ phố, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên nước Nam để buôn bán...". Ở đây, cuối thế kỷ XVII, địa danh Bắc Hoà dùng để thay thế cho địa danh Hoa Dương.

Trong gia phải dòng họ Đào, cũng ở Hưng Yên, lại thấy nói đến địa danh Nam Hoà: Vào khoảng năm 1730, họ Đào từ Kim Bảng sang khu Nam Hoà ở Phố Hiến dừng lò nổi: trong ngôn ngữ cổ nếu chữ "Hoa" dùng để chỉ người Trung Quốc, thì chữ "Hoà" dùng để chỉ người Nhật Bản.

Trong một tài liệu ghi chép về việc buôn bán của người Nhật và người Hoa nhắc đến một tổ chức có tên là "Hoà Hán tam tài đô hội". Như vậy, cùng với người Trung Hoa có lẽ còn sớm hơn lúc người Trung Hoa đến làm ăn buôn bán tại đây, đã có người Nhật Bản. Những điạ danh Bắc Hoà, Nam Hoà là dấu ấn của những khu vực có người Nhật đến ở.

Trong "Đại Nam Nhất Thống Chí" cho biết: Trị sở Trấn Sơn Nam đời nhà Lê có một thời đã được đặt tại xã Nhân Dục, huyện Kim Động. Ngoài ra cũng còn được gọi là "Cung cũ Hiến Nam". Một trong những nhân vật nổi tiếng trong thời gian đầu là Lê Đình Kiên. Ông đã từng là trấn thủ Sơn Nam suốt trong 40 năm, từ năm 1664 cho đến lúc ông qua đời năm 1704. Dân làng và người Hoa đã dựng đền để tôn thờ ông tại Phố Hiến với hai tấm bia dựng năm 1723 và 1727.

Theo bi ký năm 1625 ở chùa Hiến vùng trung tâm thành phố nầy xác nhận: Vào thời kỳ đó, trị sở ty Hiến Sát xứ Sơn Nam đặt tại Hoa Dương. Nhưng trị sở ty Hiến Sát thường gọi tắt là Hiến Ty, của trấn Sơn Nam đã nhiều lần thay đổi vị trí: có khi đóng tại vùng Phố Hiến, nhưng cũng có lúc chuyển sang bên kia sông, tại thôn Tường Lân, xã Trác Văn.

Nhưng những ghi chép trên tấm bia dựng lên vào tháng chín năm 1582 mới phát hiện trong thời gian gần đây cho biết thêm: Từ thời Bình An Vương Trịnh Tùng (1570 - 1623), dân chúng trong thôn nầy được cấp làm thủ lệ phục dịch nha môn trị sở Hiến Ty, nhưng trị sở và nha môn lại "di chuyển thất thường".

Lại trong bi ký dựng lên vào tháng giêng năm 1679 thì: Hiến Sát Sứ Tu lên là Phan Tự Cường; Hiến sát Phó Ty là Trần Công Cổn đã dựng lại Trị Sở tại Tường Lân. Qua những tài liệu trên cho thấy: Hiến Ty Trấn Sơn Nam không phải thường xuyên đóng tại Phố Hiến, tuy nhiên vào đầu thế kỷ XVII, có một thời gian đóng tại đây, và từ đó có tên gọi là Phố Hiến.

Thời gian và vị trí

Như vậy, căn cứ theo nguồn gốc Phố Hiến là Hiến Ty Sơn Nam, có người dựa vào đó mà cho rằng: Phố Hiến có thể đã xuất hiện từ thế kỷ thứ XV, vào năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông đặt ra 12 Thừa tuyên và các Ty thừa, Ty hiến cho các Thừa tuyên. Luận điểm trình bày nầy còn cần được chứng minh thêm là vào thế kỷ XV, Hiến Ty Sơn Nam đã đóng ở Phố Hiến chưa và vùng đó đã trở thành một tụ điểm công thương nghiệp mang tính cách một thương cảng hay một đô thị cũng như những thương cảng và đô thị cùng loại hay chưa?

Tuy nhiên, điều chắc chắn nhất là: trước thế kỷ XVII, vùng Phố Hiến đã trải qua quá trình tụ cư và chuẩn bị cho sự hình thành một thương cảng do nhu cầu phát triển việc trao đổi hàng hóa với người ngoại quốc trước khi đi vào kinh thành Thăng Long. Đó là vấn đề điều kiện ra đời của Phố Hiến mà nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thường đặt vấn đề để thảo luận qua những cuộc hội thảo quốc tế vừa qua.

Hình thành

Phố Hiến nằm về phía tả ngạn sông Hồng, cách kinh thành Thăng Long về phía Nam vào khoảng 50 cây số. Sông Hồng với lưu lượng phù sa lớn và sức xói lở nhiều, khiến cho dòng sông có nhiều bãi ngầm không tiện cho công cuộc giao thông đường thủy của những tàu thuyền lớn, nhất là của nước ngoài đến trao đổi hàng hoá với nước ta trước kia.

Theo nhận định của những nhà địa lý học (Robequain, Huard), vào đầu thế kỷ XVII cho đến thế kỷ XVIII, từ bờ biển đến kinh thành Thăng Long, vùng sông từ Nhân Mục đến Mậu Dương là gờ sông tương đối cao (khoảng 3 - 4 mét). Đó là nơi tương đối thuân lợi nhất để hình thành một tụ điểm thương nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu khảo sát để có thể phục dựng lại dòng chảy sông Hồng và địa hình vùng Phố Hiến cách đây trên 300 năm, còn là vấn đề đặt ra cho các nhà địa lý học, vì đó là điều kiện tự nhiên ảnh hưởng lớn đến sự ra đời một thương cảng trong nhu cầu của hoàn cảnh.

Trong giai đoạn sơ khởi, trên doi đất gờ sông hơi cao nầy, đã có cư dân sinh sống từ nhiều thế kỷ trở về trước, chuyên sống bằng nghề đánh cá và trồng lúa nước. Một trong những địa điểm nổi tiếng là bến vạn, chợ vạn đã phản ảnh rõ nét nhất vùng sinh hoạt của những cư dân sông nước nầy.

Trong lịch sử vào thế kỷ thứ X, vùng đất Xích Đằng thuộc Đằng Châu vốn là vùng hùng cứ của sứ quân Phạm Phòng Át, về sau bị lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh trong những cuộc kình chống gắt gao rồi cũng đã bị giẹp tan. Nhiều di tích còn ghi lại dấu vết cuộc chiến này. Vào thế kỷ XVIII, một số người Hoa lánh nạn xâm lăng của quân Nguyên, theo nhiều phương tiện di chuyển khác nhau đã đến vùng lập, lập ra làng Hoa Dương, gồm các làng Lương Điền, Phương Cái, Mậu Dương sau nầy.

Dần dà trong thời gian kế tiếp sau đó, với những xóm làng tụ cư ngày càng đông thêm, chợ và bến buôn bán cũng đã xuất hiện trong quy mô nhỏ. Cho đến khi Hiến Ty trấn Sơn Nam chọn làm trị sở tại đây, vùng Phố Hiến đã trở thành một thị trấn có dinh thự, quan lại, quân lính và số người buôn bán làm ăn chung quanh trị sở nầy, càng ngày càng đông đúc hơn.

Sự phát triển về kinh tế hàng hóa ở Đàng Ngoài trong thời vua Lê, chúa Trịnh là cơ sở bên trong cho sự phát triển của Phố Hiến. Theo những chương trình nghiên cứu về giai đoạn thế kỷ XVII -XVIII, nền kinh tế hàng hoá đang trong giai đoạn phát triển, quan hệ về tiền tệ cũng đã thâm nhập vào về mọi mặt trong đời sống xã hội của dân chúng khắp nơi. Hệ thống chợ búa ở nông thôn cũng từ đó phát triển dần theo, thậm chí có nhiều đô thị tiến đến giai đoạn phát đạt nữa. Hội An là điển hình cho cơ sở kinh tế nầy ở Đàng Trong.

Ngay từ nửa đầu của thế kỷ XVI, sự có mặt và hoạt động của một số nước Tây Phương như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp trên đường lấn chiếm thị trường tại Á Đông, đã đến Phố Hiến càng làm cho mậu dịch hàng hải phương Đông càng thêm nhộn nhịp hơn. Từ những căn cứ và thương điếm được thiết lập tại nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và Đông Á, những thuyền buôn Tây Phương đã đến giao dịch hầu hết các bến cảng các nước ven bờ biển Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á.

Phố Hiến không nằm gần con đường hàng hải quốc tế như Hội An, tuy nhiên, cũng đã chịu tác động mạnh mẽ của các quan hệ thương mại quốc tế; hơn thế nữa, đây là con đường để tiến vào kinh thành Thăng Long ở Đàng Ngoài mà nhiều nước Tây Phương thấy rõ được thị trường tiêu thụ và khai thác nguyên vật liệu, cho nên cũng đã chịu ảnh hưởng theo.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản, cũng như quan hệ giữa hai nước nầy với các nước trong vùng Đông Nam Á và các công ty Đông Ấn phương Tây đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh cũng như suy tàn của Phố Hiến và các đô thị Việt Nam.

Thành thử, không thể không nghiên cứu và đánh giá vị thế của Phố Hiến trong thời vua Lê, chuá Trịnh để hiểu rõ hệ thống thương mại quốc tế đối với Phố Hiến cũng như nền kinh tế thị trường Việt Nam. Thêm vào đó, chính sách ngoại thương của những chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cũng là một nhân tố đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của Phố Hiến.

Từ thế kỷ XV, những vua Lê đã có chủ trương hạn chế người ngoại quốc vào nội trấn (các trấn tại vùng đồng bằng) và kinh thành Thăng Long, đã quy định cho họ chỉ được buôn bán ở những địa điểm sau đây: Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An) Hội Triều (Thanh Hoá), Thống Lĩnh, Phú Lương (Thái Nguyên), Tam Kỳ (Tuyên Quang), Trúc Hoa.

Vào thế kỷ XVII, mặc dù chính quyền họ Trịnh có mở rộng đôi phần về chánh sách ngoại thương trong nhu cầu mới của triều đình, tuy nhiên, không cho buôn bán và thành lập thương điều dù lớn hay nhỏ tại kinh thành Thăng Long để tránh những tai họa có thể xẩy đến. Chính vì chính sách nầy, cho nên Phố Hiến mặc nhiên trở thành một tiền cảng quan trọng của Thăng Long.

Nơi đây, viên chức hữu trách của chúa Trịnh đã tiến hành việc kiểm soát các thuyền buôn nước ngoài và chỉ cấp giấy phép một cách rất hạn chế cho được lên Thăng Long với những khai báo và giấy tờ đầy đủ, hợp lệ và ấn định rõ ngày đi về, nơi cư trú.

Tóm lại, tất cả những điều kiện chính trị và nhân tố trên đây đã ảnh hưởng mạnh mẽ và nhanh chóng về sự phát sinh, phát triển của Phố Hiến trở thành tụ điểm buôn bán quan trọng nhất trong lãnh thổ của xứ Đàng Ngoài. Những nhà nghiên cứu thường dựa vào những sự cố nầy để minh định sự ra đời của Phố Hiến là vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, rồi từ đó đã phát triển rất nhanh chóng, toàn diện trong suốt thế kỷ thứ XVII.

Vị trí: Những người bình dân đã dùng đến câu: Thượng chí Tam Đằng, Hạ chí Tam Hoa để minh định vị trí của Phố Hiến. Thượng chí Tam Đằng là mặt trên (Bắc) tiếp giáp với Đằng Châu, Xích Đằng và Đằng Nam. Hạ chí Tam Hoa là phía dưới (Nam) tiếp giáp với Hoa Dương, Hoa Cái và Hoa Điền, tức là từ Đằng Châu xã Lam Sơn thị xã Hưng Yên đến Nễ Châu, xã Hồng Châu, huyện Phù Tiên ngày nay.

Ngoài ra, một số tài lịêu cổ của Việt Nam cũng đã nói đến vạn Lai Triều, phố Bắc Hoà, phố Nam Hoà. Cũng có thể thấy trên bi ký năm 1625 ở phía ngoài chùa Tiên ứng có ghi tên hai phường Phú Lộc và Phúc Lộc. Bia văn năm 1711 tại chùa Chuông còn giữ lại đến nay cũng đã ghi tên 20 phường của Phố Hiến mà trong đó có những phường chuyên về thủ công nghiệp như Thợ Nhuộm, Nồi Đất, Thuộc Da, Sơn, Nón... đồng thời cũng có những phường chuyên buôn bán về những loại hải sản: thịt, cua, cá...

Qua những tài liệu giao thương lưu trữ ở những thư viện Phương Tây đã xác nhận rằng: Phố Hiến có nhiều thương thuyền nước ngoài cập bến để trao đổi đủ mặt hàng hoá, mua nguyên liệu, đồng thời cũng có thành lập thương điếm, như trường hợp người Hà Lan (1637- 1700) người Anh (1672 - 1683) người Pháp (1680). Nhật Bản và Trung Hoa về sau cũng đã giao thương và lập thương điếm. Tuy nhiên sự suy tàn nhanh chóng của một số thương điếm thì không thấy ghi chép rõ nguyên nhân nào.

Trong cuốn "Relation du voyage au Tonkin en 1688 - 1909) của thương nhân William Damper đến vùng nầy cho biết: Ở đây có đến 2,000 ngôi nhà, có đồn binh và ty thuế. Người Pháp có xây cất một ngôi nhà vào loại đẹp nhất ở Phố Hiến (của Jean Duvilliers), ở đó có hai giám mục người Pháp ở. Tác giả nói trên trong khi dề cập đến ngôi nhà nầy đặt nghi vấn: "Không hiểu đây là cơ sở truyền giáo hay để buôn bán như các thương điếm khác?"

Người ngoại quốc

Vào ba thập kỷ đầu của thếkỷ thứ XVII, nhiều châu ấn thuyền (shuise) của Nhật Bản đã cập bền Phố Hiến. Từ năm 1604 đến năm 1634, trong số 331 châu ấn thuyền buôn bán với Đông Nam Á thì có 35 chiếc đến Đàng Ngoài, trong đó quan trọng hơn cả là Phố Hiến. Người Nhật đóng vai trò quan trọng trong những hoạt động kinh tế của Phố Hiến trong giai đoạn đầu thế kỷ XVII.

Công ty Đông Ấn của những thương nhân người Hà Lan đã đến được thương điếm ở Phố Hiến từ năm 1637 và phát triển mạnh mẽ trong những năm sau đó. Nhiều tài liệu thương mãi đối ngoại tại Luân Đôn cũng nói đến người Anh từ đắc thương điếm tại đây từ năm 1672 tức là giai đoạn nhưng thịnh nhất của nền ngoại thương thực dân Anh trong vùng Đông Nam Á trong giai đoạn đầu.

Người Xiêm, người Mã lai, người Manila (Philippine) cũng đã đến buôn bán và lập nhiều thương điếm tại những vị trí thích hợp trong giao thương. Một số có nhà cho thuê. Thậm chí có người chuyên về việc cho vay ăn lời nữa. Những tài liệu tương tự tại Pháp Quốc hải ngoại cũng nói đến những thương gia người Pháp trong cuộc cạnh tranh thị trường với người Anh cũng đã đặt thương điếm tại Phố Hiến năm 1680.

Những tư liệu Tây Phương cũng ghi nhận sự hiện diện tại Phố Hiến nhiều người Nhật, người Bồ Đào Nha, người Hoa, trong đó có những người làm hoa tiêu như Domingo, có người có nhà cho nước ngoài thuê như Monica Dabada; có hai người phiên dịch người Nhật được nhắc đến nhiều tên là Ouron San và Guando..

Người Hoa đã có mặt ở Phố Hiến rất sớm so với những người Á Châu khác và càng ngày họ chiếm nhiều ưu thế trong những hoạt động thương mải tại Phố Hiến, nhất là sau khi Mạc phủ Nhật ra lệnh cấm người Nhật ra nước ngoài vào năm 1636.

Trong số người nước ngoài có mặt tại Phố Hiến trong thời kỳ nầy, người Hoa chiếm ưu thế tuyệt đối về buôn bán, vừa tham gia sản xuất một số mặt hàng, lại vừa làm môi giới cho thuyền buôn nước ngoài. Họ đến từ các tỉnh phía nam Trung Hoa, đông nhất vẫn là người Phúc Kiến, với 14 họ được ghi nhận trên các văn bia: Ôn, Tiết, Hoàng, Lý, Trần, Bạch, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm, Khu. Một số người Hoa từ Vân Đồng, Thăng Long cũng về tụ cư tại đây vì dễ dàng làm ăn hơn. Số đông người Hoa cư trú lâu dài và hoà nhập vào cộng đồng cư dân Việt, gọi là người Minh Hương. Vết tích của họ còn in đậm nết trong những kiến trúc hiện còn.

Nhưng sang đến thế kỷ thứ XVIII, do chánh sách bế quan toả cảng của chuá Trịnh, đồng thời những nhà buôn ngoại quốc không thể làm ăn được nữa do những khó khăn về thủ tục, luật lệ cho nên các thương điếm phương Tây đã đóng cửa, để chuyển sang thị trường Trung Hoa. Thương điếm Hà Lan chịu thiệt thòi nhất cho nên đóng cửa toàn diện vào năm 1700.

Tuy nhiên, qua những điều ghi chép trong tấm bia Anh Linh Vương dựng vào năm Bảo Thái thứ VIII (1727) vẫn còn nhắc đến sự hiện diện của người Hà Lan tại đây. Có thể một số người chưa rời hẳn do một vài lý do nào đó. Những người Hà Lan còn ở lại nầy đã góp phần dựng lên ngôi đến Anh Linh Vương vào năm 1706.

Ngoại trừ một vài chi tiết như vừa trình bày, nhìn chung thì ở thế kỷ XVIII, hoạt động kinh tế của người phương Tây ở Phố Hiến đã không còn là bao nữa. Xem như vậy, nhìn chung thì những họat động của khách thương nước ngoài - lần lượt là Nhật, Trung Hoa, Hà Lan, Anh, Pháp - là nhân tố kích thích ở thế kỷ XVII, đã góp phần làm cho Phố Hiến đã có một thời kỳ hưng thịnh theo hướng đô thị hoá vào thế kỷ XVII.

Tuy nhiên dù cho người nước ngoài đã lần lượt ra đi, nhưng vai trò của người Việt tại Phố Hiến vẫn còn phát triển. Trên bia văn tại chùa Thiên Ứng dựng lên năm 1625 cho biết: Từ những năm đầu của thế kỷ XVII tại Phố Hiến đã tổ chức thành 10 phường khá vững.

Như vậy quá trình đô thị hoá tại đây phải được nẩy nở sớm hơn,vào thế kỷ XVI. Sau khi trải qua một thời kỳ phát triển ngoại thương mạnh vào thế kỷ thứ XVII, họ đến thế kỷ thứ XVIII, không còn mấy người khách thương nữa, tuy nhiên Phố Hiến vẫn tồn tại. Tại chùa Thiên Ứng còn lưu giữ được một tấm bia dựng vào cuối năm Vĩnh Thịnh thứ V (1709). Chính nội dung của tấm bia nầy đã cho biết đến thế kỷ XVIII, người ở khắp các địa phương trong nước (Đàng Ngoài) vẫn bị hút về Phố Hiến. Ngoài ra, còn tấm bia chùa Chuông (Kim Chung tự) ở tại đây, dựng năm 1711 cũng cho biết thêm rằng: Trong thời gian nầy, tại Phố Hiến vẫn còn tồn tại hàng chục phường.

Cho đến thế kỷ thứ XIX vào triều nhà Nguyễn, tỉnh thành Hưng Yên đã đắp ở Phố Hiến vào năm Minh Mạng thứ 12 (1832) để rồi đến những năm 1835 và 1838, cũng đã được gia cố bằng gạch, để trở thành một thành trì lớn.

Ngoài ra hai tấm bia ở ngôi đền thờ đức Trần Hưng Đạo ở tại đây, một dựng vào năm vua Tự Đức (1869), một dựng vào đời vua Thành Thái (1891) cũng còn ghi tên hàng chục phố phường của Phố Hiến, vào lúc nầy, trước khi trở thành đô thị hiện đại ở thời Pháp thuộc và thời buổi bay giờ là thị xã Hưng Yên.

Như vậy, khởi đầu là một địa điểm tụ cư từ thời nhà Lý, thời Trần, mà rất có thể còn là một địa điểm quân sự nữa (với việc vua Lý, vua Trần đều chọn nơi đây làn chỗ đồn quân) hoặc còn có thể ngược thêm thời gian lên đến thế kỷ thứ X, vào thời "Thập Nhị Sứ Quân" với sứ quân Phạm Bạch Hổ mà căn cứ chính là Đằng Châu; địa danh Đằng Châu vẫn còn được bảo lưu cho đến ngày nay ở Hưng Yên, với vị trí đầu mối giao thông thuận lợi trên trục sông Hồng, như một hải cảng nằm sâu vào trong cửa sông, đồng thời, cũng là một tiền cảng của kinh thành Thăng Long thông ra biển, lại nằm ở vùng đồng bằng phía Nam châu thổ sông Hồng đông đúc dân cư và trù mật kinh tế.

Cho đến khi đô thị cảng Vân Đồn đã mất dần vị trí hàng đầu mà nó từng giữ qua các đời Lý Trần đến khoảng thế kỷ thứ XVI thì Phố Hiến đã từng bước phát triển lên để trở thành một đô thị đồng thời cũng là hải cảng trẻ trung. Nhờ chính sách thay đổi của triều đình vua Lê, chuá Trịnh trong một giai đoạn nào đó, cho nên đã thu hút được vai trò tác động của những thương nhân nước ngoài và nhờ sự phát triển dần dà của các bộ phận kinh tế hàng hoá trên địa bàn phía nam đồng bằng Bắc Phần, Phố Hiến đã đạt tới sự thịnh vượng hàng đầu của một đô thị vào thế kỷ XVII.

Nhưng chính sách đó đã không được tiếp tục phát triển cởi mở cho nên các thương nhân nước ngoài đã không chịu được sự khống chế tàn bạo, đã bỏ ra đi. Trong khi đó thì Hải Phòng đã vươn lên dần và thay thế; như vậy Phố Hiến đã bị suy thoái về mặt đô thị mà lại nông thôn hoá dần. Nơi đây đã thích hợp vào đô thị Hưng Yên cận đại mang tính chất chủ yếu là thủ phủ của một đơn vị hành chánh cấp tỉnh nhỏ vùng đồng bằng mà thôi.

Phân chia phố phường

Hiểu về giai đoạn hưng thịnh của Phố Hiến, ngày nay chỉ có thể y cứ vào các văn bia còn được bảo lưu. Chẳng hạn như văn bia tại chùa Thiên Ứng được dựng lên vào năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) được xem là sớm nhất và có giá trị tiêu biểu nhất. Tấm bia đã nhiều chỗ phai mờ tuy nhiên vẫn còn nhận diện được một số chi tiết cần thiết về những phường phố lúc xây dựng. Chẳng hạn như hàng chữ "Nhân Dục, Hoa Dương, Hiến thị thập phường..."

Điều ghi chép trên đây cho biết rằng: Ngay từ năm 1635, trước khi người Hà Lan đến đây được buôn bán, lập thương điếm để dần dà lôi cuốn thêm những khách thương khách thì Phố Hiến cũng đã tổ chức thành đơn vị phường. Mười phường nầy không đầy đủ trên văn bia chuà Thiên Ứng, nhưng ít nhất cũng nhận được hai phường là Phú Lộc và Phúc Lộc, trong câu "Hiến thị Phú Lộc, Phúc Lộc nhị phường".

Hiểu các nguyên tắc tổ chức trong vùng đồng bằng sông Hồng thời đại đó, khi dã tổ chức thành phường thì có những đơn vị nhỏ và xã thôn. Chẳng hạn một đoạn trong văn bia nầy có ghi "Bản xã Nhân Dục, Hoa Dương nhị thôn..."

Đây là những điểm cơ bản để có thể hình dung được cơ cấu tổ chức hành chánh Phố Hiến. Qua đến thế kỷ XVII và đầu thế kỳ XVIII, thì hai văn bia khác tại chùa Thiên Ứng II và chuà Chuông. Bia chùa Thiên ứng II dựng lên năm 1709 và bia chùa Chuông dựng năm 1711.

Những văn bia nầy cung cấp khá đầy đủ tên các phường và thị. Phường ở đây có nghĩa là đơn vị kinh tế, xã hội. Những phường nầy lấy lên nơi tập trung hàng hoá: Nhiễn Tác Thị là đơn vi nhuộm; Cựu Đê Thị là đơn vị ở đê cũ. Hậi Bị thị là đơn vị cá. Đồ Nhục Thị là đơn vị thịt. Tân Lang Thị là đơn vị bán đồ gỗ. Thủy Giang Nội là đơn vị trong sông. Thủy Giang Ngoại là đơn vị ngoài sân. Ngoại đê thị là đơn vị ngoài đê. Hà khẩu thị là đơn vị nằm ở cửa sông. Vạn Mới thị là đơn vị ở Vạn Mới. Thổ oa thị là đơn vị nồi đất. Hàng Chiếu thị là đơn vị chiếu. Hoa Lạp thị là đơn vị nón hoa. Cửa cái thị là đơn vị Cửa cái. Thuộc Bì thị là đơn vị thuộc da. Hàng Bì phường là đơn vị bè. Hàng Miếu phường là đơn vị miếu. Thủy Đê nội là đơn vị trong đê.

Có nơi lại lấy nghề nghiệp làm tên gọi: bè, sũ, nhuộm, cá, thịt, nồi, da... và có 9 nơi lấy vị trí địa lý làm tên gọi: đê cũ, cửa sông, sau bia...

Đó là những trường hợp tổ chức phố phường liên quan đến nghề nghiệp hay vị trí của những cư dân sống tại Phố Hiến trong quá khứ. Nhìn chung lại thì có đến 50 đơn vị tụ cư được tổ chức tại Phố Hiến; họ từ nhiều vùng khắp nơi trên đất bắc đến làm ăn tại đây và còn lưu lại vết tích: chẳng hạn như những người của các xã huyện sau đây đã có mặt ở Phố Hiến: xã Lương xá, huyện Chương Đức, xã Phù Ủng, huyện Đường Hào, xã Hà Chỉ, huyện Thụy Nguyên, xã Niêm Chi, huyện Nông Cống, xã Bắc Xuyên, huyện Hoàng Hoá, xã Thuần Chất, châu Bố Chánh, xã Gia Thái, huyện Thanh Trì, xã Nhật Tảo, huyện Từ Liêm...

Vào thế kỷ thứ XIX, trong việc thay đổi tổ chức hành chánh, nhiều phường, thị đã được chuyển thành ra phố. Các tấm bia được dựng lên vào triều vua Tự Đức (1869) và vua Thành Thái (1891) ở đền thờ đức Trần Hưng Đạo còn ghi lại hàng chục tên phố.

Ngày nay, thị xã Hưng Yên đã cấu trúc kiểu mới quy hoạch theo kiểu bàn cờ, ngang dọc thẳng hàng. Hai đường trục dọc chạy theo hướng bắc - nam, đã hướng dòng chảy của sông Hồng ở đoạn qua địa điểm nầy. Nhiều đường song song theo hướng đông - tây, từ phía bờ sông vào trong đồng.

Khu vực phía bắc là nơi tập trung hai loại di tích: đền đài chùa miếu và vết tích các thương điếm thì lại không quy hoạch như thế. Khu vực phía nam, có một vài đường phố, còn thì hoàn toàn là một vùng làng quê cổ kính với chuà Chuông (Kim Chung tự).

Vào năm 1895, trên tạp chí Nghiên Cứu Đông Dương, ông G. Dumoutier có công bố một bản đồ về Phố Hiến. Nhưng bản đồ nầy chỉ thể hiện khu vực phía bắc trung tâm Hưng Yên mà thôi: từ hồ Bán Nguyệt ngược lên, cho tới nơi có dấu vết các thương điếm. Có một con đường chính, chạy theo hướng bắc - nam, với môt loạt đền miếu ở phía tây con đường nầy. Còn hồ Bán Nguyệt thì nằm ở phía đông con đường nầy, trong đó có khu thương điếm trước kia và hai đê quai bảo vệ lấy. Khu vực đê nầy chính là Phố Hiến lúc ban đầu hình thành và được tồn tại. Tại đây là nơi thành lập ra 10 phường đầu tiên.

Quan trọng nhất ở đây là khu thương điếm. Tính theo đường chim bay thì chiều bắc - nam vào khoảng 1,200 mét; chiều đông - tây vào khoảng 550 mét. Đến đời Nguyễn, cùng với việc những phường thị đã trở thành phố, thì đã thất xuất hiện nhiều cử hiệu buôn bán tạp hoá, thuốc bắc của người Hoa, môt số cửa hàng bán đồ thủ công và gia dụng.

Trong khi đó, một số vùng trong quy hoạch hoạt động đô thì thì đã tàn lụi dần. Những họat động thương mải dồn lại chung quanh vùng hồ Bán Nguyệt. Điều nầy môt phần có liên quan đến việc bồi tụ phùa sa và thay đổi dòng chảy của con sông Hồng. Điều quan trọng ở giai đoạn cuối nầy của Phố Hiến là việc xây dựng thành trì của Hưng Yên.Ngôi thành có chu vi 380 trượng, cao 17 thước có 4 cửa. Trong thành nầy có 13 phố và 32 cửa hiệu buôn. Như vậy, Phố Hiến từ khi hình thành đô thị đã mang cấu trúc của một đô thị cảng sông, kẻ ô dọc ngang theo dòng sông. Sự phát triển qua 3, 4 thế kỷ của Phố Hiến diễn ra theo chiều hướng của một đô thị thương nghiệp.

Họat động kinh tế

Theo tài liệu ghi trong "Hoà Hán Tam Tài Đô Hội thì trong những giao thương với nuớc ngoài, Phố Hiến đã xuất khẩu sang Nhật những thứ: lụa vàng, lĩnh, đũi, sa, nhung, tơ, bông vải, sa nhân, xạ hương, sơn, quế, nhãn, hoắc hương, lưu huỳnh, thiếc, cau, đồ sứ, đồ sành, đồ sơn.

Các tài liệu của Nhật còn bổ sung thêm vào danh sách các mặt hàng: gạo, hồ tiêu, vi cá, đường và cả vàng nữa. Chỉ môt đồng buôn bán sang Nhật như thế cũng đủ thấy riêng khả năng của Phố Hiến là không thể đáp ứng được. Hai mặt hàng chính yếu là tơ lụa và hương liệu đã được đưa từ nhiều địa phương về Phố Hiến.

Chính nhờ vậy, đã kích thích sức phát triển sản xuất và khai thác sản vật tại nhiều nơi ở Đàng Ngoài. Thành thử trong văn bia Anh Linh Vương, mới thấy có mặt đến hơn 50 địa phương, gần như của cả nước ở Phố Hiến.

Phố Hiến trong giai đoạn nầy có khả năng thuân lợi nhất để trở thành một trung tâm tiếp nhận hàng hoá từ nhiều nơi tụ về. Phố Hiến có nhiều điều kiện thuân lợi mà nhiều nơi khác không bì được cho nên đã phát triển nhanh chóng khi chính sách mở cửa cho người ngoài vào giao thương.

Tuy nhiên, sông Hồng tại khu vực Phố Hiến không đủ mức sâu để tàu buôn phương Tây vào tận Phố Hiến. Người Anh, người Pháp, người Hà Lan đều neo tàu ở nơi cách xa Phố Hiến. Thế mạnh của Phố Hiến chủ yếu là trung tâm tiếp nhận hàng hoá từ bốn phương để xuất khẩu. Sản phẩm thủ công tại chỗ cũng nhân đó mà phát triển thêm lên.

Người ở các nơi đến đây, mở hàng, mở xưởng, có từng khu vực chuyên sản xuất từng mặt hàng thủ công, họp thành phố, phường, mà địa danh có ghi rõ. Riêng người Hoa đến đây, ngoài việc buôn bán còn sản xuất nhang đèn, thuộc bắc, chiếu cói, đường phèn. Trong xu thế đó, Phố Hiến là môt đô thị cảng sông có xu hướng chuyển dần thành đô thị công thương nghiệp.

Ðây là giai đoạn hưng thịnh của Phố Hiến.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 09.11.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004