Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






PHÙNG HƯNG : BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG







P hùng Hưng ( ? - 791) là thủ lĩnh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự thống trị của  nhà Đường  ở Việt Nam .

Phùng Hưng xuất thân từ dòng dõi cự tộc lâu đời ở đất  Đường Lâm  nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, TP  Hà Nội. Đường Lâm xưa kia vốn là vùng đất gò đồi và rừng cây rậm rạp bởi vậy mới có tên gọi là "đường lâm".

Cho tới nay ngày sinh của ông vẫn chưa rõ. Các sách chính sử như  Đại Việt Sử ký Toàn thư,   Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục  ghi ông mất năm 802, chỉ một thời gian ngắn sau khi đuổi được giặc Bắc phương. Một nguồn dã sử cho biết ông sinh ngày  25 tháng 11  năm   760   (tức 5-1-761) và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13-9-802), thọ 41 tuổi.

Phùng Hưng có tên tự là  Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái - người đã từng vào trong cung vua  Đường Cao Tổ, thời  niên hiệu  Vũ Đức (618-626) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh - một người hiền tài đức độ.

Khoảng năm  Nhâm Tuất  (722) đời  Đường Huyền Tông  niên hiệu Khai Nguyên, Phùng Hạp Khanh đã tham gia cuộc khởi nghĩa của  Mai Thúc Loan  (tức   Mai Hắc Đế). Sau đó, ông trở về quê chăm chú công việc điền viên, trở nên giàu có, trong nhà nuôi nô tỳ có đến hàng nghìn người .

Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ  họ Sử. Ông bà sinh một lần được ba người con trai khôi ngô khác thường, lớn lên ai cũng có sức khỏe, có thể kéo  trâu , quật  hổ . Anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là  Phùng Hải  (tự là Tư Hào) và em út là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt). Đến năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Trong ba anh em, anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt.

Phùng Hưng nối nghiệp cha trở thành hào trưởng đất  Đường Lâm. Cho tới nay dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện ông dùng mưu kế giết hổ dữ mang lại bình yên cho làng xóm.

Việt Nam  thời thuộc Đường gọi là  An Nam  đô hộ phủ, khi đó đang nằm dưới ách cai trị hà khắc của bọn quan đô hộ. Các quan đô hộ nhà Đường ra sức vơ vét của cải của người dân Việt Nam, bắt người dân Việt phải đóng sưu cao thuế nặng khiến lòng người ngày càng căm phẫn.

Năm 767,  Cao Chính Bình, hiệu úy châu  Vũ Định  (miền   Việt Bắc) giúp kinh lược sứ  An Nam    Trương Bá Nghi  đánh bại được cuộc xâm lược của quân  Chà Và  ( Java) ở  Chu Diên, sau đó được cử làm đô hộ  An Nam. Chính Bình ra sức vơ vét của cải của nhân dân, đánh thuế rất nặng.

Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của người dân, lợi dụng khi quân lính ở  Tống Bình  ( Hà Nội) nổi loạn, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ.

Cuộc khởi nghĩa do Phùng Hưng phát động nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của người dân từ khắp các miền đất Giao châu. Thoạt đầu, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi nghĩa quân tiến lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc  Phong Châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng xưng là Đô Quân; Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại. Tình hình diễn ra như vậy hơn 20 năm.

Được sự trợ giúp của người cùng làng có nhiều mưu lược là Đỗ Anh Hàn, tháng 4 năm  Tân Mùi  ( 791 ), Phùng Hưng từ chỗ cầm cự đã cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo do các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần và chủ tướng Phùng Hưng tiến công vây thành.

Phần lớn các truyền thuyết đều kể rằng: Phùng Hưng nhận thấy lực lượng chưa thật đủ mạnh để đè bẹp quân địch, ông đã cùng các tướng tỏa đi xung quanh chiêu mộ thêm binh lính và sắm thêm vũ khí, còn việc vây thành được giao cho 3 người cháu gái họ Phùng, gọi Phùng Hưng bằng bác.

Cuộc chiến đấu sau đó diễn ra quyết liệt, quân Đường chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết.

Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước.

Chính sử chép rằng ông cầm quyền cai trị không lâu sau đó đã qua đời ngay trong năm 791. Các sử gia hiện nay xác định ông mất khoảng tháng 5 năm 791Nguồn dã sử  Việt điện U linh  của Lý Tế Xuyên và giai thoại dân gian cho rằng: ông cầm quyền được 7 năm, nhưng lại mất năm 802. Thông tin này không phù hợp về logic: Năm 791 giành được Tống Bình mà mất năm 802 tức là Phùng Hưng cầm quyền trong 11 năm chứ không phải 7 năm. GS Nguyễn Khắc Thuần cho rằng: Lý Tế Xuyên và truyền thuyết dân gian đã có sự lầm lẫn: hơn 7 năm là thời gian tính từ khi Phùng Hưng làm chủ khu vực quanh Đường Lâm tới khi ông mất, chứ không phải tính từ khi ông làm chủ Tống Bình Ông được nhân dân suy tôn là  Bố Cái Đại Vương  Sau khi mất, con trai ông là Phùng An lên nối ngôi, dâng tôn hiệu cha là Bố Cái Đại Vương. An nối nghiệp được hai năm thì đất nước lại rơi vào tay giặc. Nền tự chủ vừa mới xây dựng, chỉ tồn tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm. Sau khi đặt nền cai trị, bọn quan quân nhà Đường liên tục truy sát những người trong gia tộc   họ Phùng. Theo các dòng sông lớn dòng  họ Phùng  toả về các vùng núi,  trung du, các vùng hạ lưu các con sông lớn nhỏ để lập nghiệp. Nhưng phần lớn vẫn là ở các vùng như  Hà Tây,   Vĩnh Phúc,   Phú Thọ...tập trung lớn nhất phải kể đến như dòng họ Phùng Quang,Phùng Gia ở  Vĩnh Phúc, dòng họ Phùng Xuân thuộc hữu ngạn sông Bùi  Chương Mỹ  -   Hà Tây, dòng họ Phùng Văn ở  Thanh Hóa, Phùng Huy ở  Ba Vì... Lăng mộ Phùng Hưng  ngày nay nằm ở đầu  phố Giảng Võ,   quận   Ba Đình,   thành phố  Hà Nội. Đền thờ ông được dựng lên ở nhiều nơi như quê hương  Đường Lâm, đình Quảng Bá ( Tây Hồ), đình  Triều Khúc ( Thanh Trì, Hà Nội ), thờ ở lăng Đại Áng, Phương Trung, Hoạch An, phủ   Thanh Oai  ( Hà Nội); tại xã Gia Thanh,  Gia Viễn  tỉnh   Ninh Bình  có 3 ngôi đền thờ Bố Cái Đại Vương, tương truyền ông mất tại đây. Sau này đất  Đường Lâm  quê ông còn xuất hiện một vị vua nữa -  Ngô Quyền, người đánh bại cuộc xâm lược của  Nam Hán, chấm dứt 1000 năm  Bắc thuộc  ( 938 ). Do vậy  Đường Lâm  còn được biết đến với tên gọi "Đất hai Vua".

Đình làng Đào Nguyên

Lễ hội làng Đào Nguyên  là một lễ hội được tổ chức tại làng Đào Nguyên, xã  An Thượng, huyện  Hoài Đức, ngoại thành  Hà Nội. Đây là lễ hội truyền thống của làng. Tương truyền lễ hội này có từ rất lâu đời. Theo nhiều sử sách ghi lại và các cụ trong làng kể lại thì lễ hội này được tổ chức để tưởng nhớ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (dân gian gọi là thánh của làng hay Hoàng Làng). Hội được tổ chức vào ngày  10-2  âm lịch  hàng năm (khác với các làng khác trong xã An Thượng đều tổ chức lễ hội vào ngày 12-1 âm lịch). Vậy nên lễ hội thu hút rất nhiều người từ các vùng lân cận đến xem. Lễ rước kiệu là một nghi lễ bắt buộc trong hội. Hàng năm đều tổ chức  rước kiệu  lên quán (đường đi là đường trên của  đê   tả   Đáy ), nhưng chỉ là rước nhỏ, cứ 5 năm lại tổ chức rước to một lần gắn với lễ hội to. Lễ rước kiệu đầu tiên được tổ chức vào xuân  Nhâm Thân  ( 1992 ). Theo dự kiến của Làng thì lễ hội to tiếp theo sẽ được tổ chức vào năm  Canh Dần  ( 2010 ). Trong lễ ruớc kiệu, người ta rước tất cả 7 cái kiệu, khi rước nhỏ thì chỉ rước 5 cái (gọi là rước oản), còn khi rước to thì rước tất cả 7 cái. Gồm có: Quân kiệu: Lấy từ các nam nữ thanh niên trong làng và phải chưa có vợ chồng. Nữ: rước 3 kiệu đầu tiên, gọi là kiệu oản và rước thêm kiệu Long Đình nếu là lễ rước to. Nam: rước các kiệu còn lại


Nguồn : Wikipedia



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 08.11.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004