Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (26)


Ngô Quyền - Nổi Sóng Bạch Đằng

Chấm Dứt Bắc Thuộc lần III






N gô Quyền (898 - 944). Vua lập ra nhà Ngô 939- 944 trong lịch sử Việt Nam. Năm 938. Ngô Quyền lãnh đạo dân Việt đánh bại nước Nam Hán trong trận Bạch Đằng. Kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc. Mở ra thời kỳ dài, gần 500 năm nước Việt tự chủ.

Ngô Quyền - Trí dũng- Anh hùng tuấn kiệt

Ngô Quyền sinh trong dòng họ hào trưởng, châu Đường Lâm. Sử ghi Ngô Quyền là bậc anh hùng tuấn kiệt có trí dũng.

Trở thành con rể Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 937. Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ. Bị cô lập. Kiều Công Tiễn cầu cứu nước Nam Hán.

Ngô Quyền tập hợp lực lượng, giết Kiều Công Tiễn. Quyết chiến với quân Nam Hán. Thắng lợi của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược Tĩnh Hải quân của Nam Hán.

Trận Bạch Đằng- Kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc

Năm 939. Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập nhà Ngô. Ngô Quyền qua đời tuổi 47, trị vì sáu năm. Nhà Ngô suy yếu nhanh. Không khống chế được các thế lực cát cứ địa phương. Năm 965. Nhà Ngô đổ.

Ngô Quyền- vị vua đứng đầu các vua. Ngô Quyền- vị Tổ trung hưng của Việt Nam. Trong 14 vị vua Việt Nam thế kỷ X. Ngô Quyền và Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, được nhắc tới nhiều nhất.

Cuộc đời và sự nghiệp, quê hương, gia đình… Ngô Quyền còn đang được khám phá. Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, châu mục ở châu Đường Lâm. Mẹ của ông, sử sách không ghi.

Truyền thuyết kể, khi mới sinh, Ngô Quyền có ba cái nốt ruồi ở lưng. Thầy tướng số trông thấy lạ, đoán về sau, có thể làm chúa một phương, nên đặt tên là Quyền. Ngô Quyền khôi ngô, "mắt sáng như chớp, đi thong thả như cọp" "sức có thể cầm vạc giơ lên".

Sử gia bình luận. Hôn nhân giữa Ngô Quyền và Dương thị con gái Dương Đình Nghệ, mang ý nghĩa liên minh chính trị hai dòng họ có thế lực.

Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội nghìn thu

Sông Bạch Đằng- cửa ngõ phía Đông Bắc, là giao thông quan trọng từ biển Đông vào đất Việt. Theo cửa Nam Triệu vào Bạch Đằng, quân Tàu ngược lên, tiến đến thành Cổ Loa hoặc thành Đại La bằng đường sông.

Sông Bạch Đằng chảy qua một vùng núi non hiểm trở. Có nhiều nhánh sông phụ đổ vào. Hạ lưu sông thấp, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều. Triều lên từ nửa đêm về sáng. Cửa biển rộng mênh mông. Nước dâng trải rộng hai bên bờ hơn 2km. Gần trưa, triều rút mạnh.

Vùng cửa sông và hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm điểm quyết diệt quân Nam Hán.

Cuối năm 938. Trời rét, gió đông bắc tràn về, mưa dầm lê thê kéo dài hàng nửa tháng. Theo kế hoạch của Ngô Quyền, quân và dân ta lặn lội mưa rét, ngày đêm vận chuyển gỗ, dựng cọc.

Hàng nghìn cây gỗ lim, sến, đầu được vạt nhọn và bịt sắt được đem về đây cắm xuống hai bên bờ sông (quãng cửa Nam Triệu hiện nay) thành những hàng dài chắc chắn. Đầu cọc hướng chếch về phía nguồn. Trận địa cọc được tiến hành gấp. Khoảng hơn một tháng.

Sáng sớm. Nước lên. Mênh mông. Thuyền lớn qua lại hai bên bờ dễ dàng. Nước xuống. Các hàng cọc phơi ra. Ngô Quyền dự tính. Trận đánh sẽ diễn ra ở phía trong bãi cọc. Tướng Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) chỉ huy đội quân bên tả ngạn. Ngô Xương Ngập (con trai cả Ngô Quyền) và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn. Mai phục. Phối hợp với thủy quân. Đánh tạt sườn đội hình quân Tàu. Đợi sẵn. Diệt quân Tàu chạy lên bờ.

Từ cửa biển ngược lên phía trên không xa. Một đạo thủy quân mạnh phục. Ngô Quyền chỉ huy. Chặn đường tiến lên của địch. Chờ nước xuống. Xuôi dòng đánh lại đội binh thuyền địch.

Trận địa bố trí vừa xong. Binh thuyền Nam Hán từ Quảng Đông kéo sang. Cuộc chiến đấu diễn ra. Đúng như Ngô Quyền tính trước.

Cả đoàn binh thuyền lớn của Hoằng Thao vừa vượt biển vào cửa sông Bạch Đằng. Bị dồn dắt vào thế trận bố trí sẵn của ta. Toàn bộ chiến thuyền Tàu nhấn chìm xuống biển. Hầu hết quân Tàu chết. Chủ soái Lưu Hoằng Thao bị giết tại trận.

Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra chóng mặt. Vua Nam Hán đang đóng quân ở sát biên giới, không kịp tiếp ứng cho con. Sử chép: “Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân còn sót mà rút lui”.

Ngô Thì Sĩ viết:

Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu.

Lê Văn Hưu viết:

Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.

Ngô Sĩ Liên ca tụng Ngô Quyền mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ, đứng đầu các vua đồng thời cho rằng cách thức cai trị của ông có qui mô của bậc đế vương. Phan Bội Châu và Trần Quốc Vượng đều tôn vinh ông là "vua Tổ phục hưng dân tộc".

Trận Bạch Đằng của Ngô Quyền khiến Nam Hán phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm. Khẳng định sức mạnh của Tĩnh Hải quân không kém so với các chư hầu trong Ngũ Đại Thập Quốc.

Ngô Quyền mở Thời đại thoát Tàu, gần 500 năm

Sau trận Bạch Đằng. Ngô Quyền lập riêng một triều đại. Chính thức xác lập nền độc lập của nước Việt. Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Mở ra thời kỳ thoát Tàu lâu dài, gần nửa thiên niên kỷ. Với những triều đại: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ.

Xuân năm 939. Ngô Quyền xưng vương. Bỏ vĩnh viễn chức Tiết độ sứ. Sáng lập nhà Ngô. Ngô Quyền không định kinh đô ở Đại La. Ngô Quyền về Cổ Loa. Kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương 1000 trước. Lập kinh đô Cổ Loa của triều Ngô.

Các sử gia lý giải việc Ngô Quyền không chọn Đại La sầm uất và truyền thống nhiều thế kỷ, là trung tâm chính trị trước đó, bởi hai nguyên nhân.

Một là Ý thức dân tộc trỗi dậy tiếp nối quốc thống xưa của An Dương Vương quay về với kinh đô cũ thời Âu Lạc. Biểu hiện ý chí đoạn tuyệt với Đại La do nước Tàu khai lập.

Hai là Đại La nhiều năm là trung tâm cai trị của các triều đình Tàu đô hộ nước Việt. Đại La là nơi thương mại sầm uất nhiều đời. Chủ yếu của các thương nhân người Hoa nắm giữ. Đại La tụ tập nhiều người Tàu. Từ các quan lại cai trị nhiều đời, các nhân sĩ Tàu sang tránh loạn, và các thương nhân. Đây là đô thị mang nhiều dấu vết cả về tự nhiên và xã hội của nước Tàu. Thế lực của họ ở Đại La không phải nhỏ. Do đó lực lượng này dễ thực hiện việc tiếp tay làm nội ứng khi quân Tàu trở lại. Điển hình là việc Khúc Thừa Mỹ nhanh chóng thất bại, bị Nam Hán bắt về Phiên Ngung. Từ thất bại của Khúc Thừa Mỹ. Ngô Quyền không chọn Đại La.

Ngô Quyền & Kinh đô Cổ Loa

Chọn kinh đô cũ của Âu Lạc là Cổ Loa làm kinh đô nước Việt. Ngô Vương Quyền nối tiếp truyền thống các vua Hùng, vua Thục.

Lê Văn Hưu đồng tình ý tưởng của Ngô Quyền. Ông viết Chính thống của nước Việt ta đã nối lại được..

Tại kinh đô Cổ Loa. Ngô Quyền tổ chức triều chính độc lập: “Đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của đế vương”. Bà vợ họ Dương, con gái Dương Đình Nghệ, được lập hoàng hậu. Triều đình của Ngô Quyền tuy còn đơn sơ, nhưng theo thể chế của một vương triều độc lập.

Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa sáu năm (939- 944). Khảo cổ học phát hiện những đoạn thành sửa đắp, thời Ngô Quyền, trên nền thành hoang phế của Thục An Dương Vương.

Dân gian Cổ Loa kể. Ngô Quyền đóng đô Cổ Loa, đã trồng cây đa ở trước am thờ Mỵ Châu và đào giếng nước trên của đền. Người dân Cổ Loa truyền: Cây đa nghìn tuổi “Giếng nước nhà Ngô”.

Tại quê hương xã Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Tây) có đình thờ và lăng Ngô Quyền. Trong nhà truyền thống xã Đường Lâm còn lưu giữ nhiều hiện vật quý: rìu đá, di chỉ đồ đá mới, cọc gỗ Bạch Đằng. Gần đền có những rộc sâu, tương truyền xưa kia là hồ sen, nơi Ngô Quyền thường cùng bạn bè thuở nhỏ chơi trò thủy chiến.

Tại thành phố Hải Phòng. Bên sông Bạch Đằng lịch sử, có những ngôi đền và đình thờ Ngô Quyền. Đình Hàng Kênh. Ngôi đình tráng lệ ở Hải Phòng xây năm 1718, có câu đối lớn:

“Vương nghiệp khởi nghiệp Loa Thành, trường biên thanh sử.
Chiến công lưu Đằng thủy, cộng mộc hồng ân”,

Dịch nghĩa:

“Vương nghiệp bắt đầu từ Loa thành lưu mãi trong sử sách.
Chiến công lưu trên nước, ân phúc của loài cây.

Sông Bạch Đằng- Ba lần Thủy chiến

Sông Bạch Đằng nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Còn gọi là Bạch Đằng Giang (tên Nôm: sông Rừng), hiệu sông Vân Cừ. Là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km.

Điểm đầu là phà Rừng- Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh). Điểm cuối là cửa Nam Triệu- Hải Phòng. Sông dài 32 km. Các loại tàu thuyền có tải trọng 300- 400 tấn, vận tải được cả hai mùa.

Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất, đi vào Hà Nội (Thăng Long). Từ miền nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống, cuối cùng là sông Hồng, đoạn chảy qua Hà Nội.

Sông Bạch Đằng nổi tiếng Ba chiến công của dân tộc Việt Nam.

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 938. Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lược Nam Hán,

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 981. Hoàng đế Lê Hoàn phá tan quân Tống xâm lược.

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 1288. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Mông Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba).

Nay tại vùng cửa sông Bạch Đằng có ba ngôi đền thờ ba vị anh hùng là đình Hàng Kênh (Lê Chân- Hải Phòng) thờ Ngô Quyền. Đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên- Hải Phòng). Đền Trần Hưng Đạo ở phường Yên Giang (Quảng Yên- Quảng Ninh).

Rừng & Sông- Âm thanh bất tử

Bãi cọc Bạch Đằng là các bãi cọc trên sông Bạch Đằng được dùng làm trận địa chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt. Do Ngô Quyền khởi xướng năm 938 trong trận đại phá quân Nam Hán.

Các nhà khảo cổ cho biết hiện nay có hai bãi cọc được phát hiện.

Một bãi cọc nằm trong một đầm nước giáp đê sông Chanh, huyện Yên Giang, thị xã Quảng Yên- Quảng Ninh. Năm 1953. Dân làng đào đất đắp đê phát hiện bãi cọc này. Bãi hiện còn hàng trăm cọc. Một số cọc được cắm thẳng đứng. Đa số cọc nằm chếch theo hướng đông 15°, cắm theo hình chữ chi. Cọc phần lớn bằng gỗ lim, gỗ táu, đầu dưới vát nhọn, đầu trên đã bị gãy. Độ dài trung bình các cọc từ 2 m đến 2,8 m; có cọc dài tới 3,2 m. Phần cọc được vát nhọn dài từ 0,8 m đến 1 m. Đầu phía trên của cọc nằm dưới mặt đất khoảng 0,5 m đến trên 1,5 m. Toàn bộ bãi cọc đã được xây kè bảo vệ với diện tích 220 m2. Trong đó có 42 cọc ở nguyên trạng khi phát hiện, sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao từ 0,2 đến 2 m. Mật độ cọc ở nửa bãi phía nam là một cây mỗi 0,9 đến 1,2 m, nửa bãi phía bắc có một cây mỗi 1,5 đến 2,2 m.

Năm 2005. Một bãi cọc phát hiện tại cánh đồng Vạn Muối (thuộc Nam Hòa- Quảng Yên- Quảng Ninh). Với hàng chục cây cọc trên một vùng rộng 100 m, dài 300 m. Người xưa đã dùng loại cọc đường kính 7 – 10 cm. To nhất là 20 – 22 cm. Có cọc dài trên 2 m được cắm theo nhiều thế rất hiểm. Thường xiên 45° theo một hướng.

Vạn câu hỏi về Cọc gỗ sông Bạch Đằng

Có bao nhiêu người dân Việt, Xưa & Nay thì bấy nhiêu câu hỏi liên tiếp đặt ra với Cọc gỗ sông Bạch Đằng.

Theo tác giả Trần Phương. Trận thuỷ chiến trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử lần thứ ba (năm 1288) đánh bại quân Nguyên- Mông xâm lược, đến nay là 720 năm. Những chiếc cọc gỗ- chứng tích của võ công hiển hách. Lưu đậm đặc trên mảnh đất thiêng Thuỷ Nguyên (Hải Phòng)- Yên Hưng (Quảng Ninh). 

Nhiều tư liệu lịch sử về trận Bạch Đằng năm 1288 đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, biên soạn. Riêng vấn đề về cọc gỗ của trận thuỷ chiến như: Gỗ làm cọc được lấy từ đâu? Kỹ thuật cắm hay đóng cọc ra sao? Chưa tài liệu nào nói rõ.

Vùng cửa sông Bạch Đằng thông sang sông Chanh, sông Kênh, sông Rút rất rộng. Chiều dài các khúc sông để dàn cọc lên tới hơn 1km. Nên số lượng cây gỗ phải huy động khá lớn. Hầu hết các cọc gỗ đều được làm từ những cây gỗ khá lớn. Đường kính thân cây 20- 25cm. Mỗi cọc dài trên chục mét.

Lịch sử địa chất 2000 năm trở lại đây. Vùng biển đông bắc nước ta đã trải qua hai lần biển tiến, biển thoái. Sự chấn động địa lý ấy, dẫn đến sự thay đổi địa hình, địa mạo ngày nay. Do vậy, địa đồ rừng cây đại ngàn ở ven biển đông bắc từ Lạng Sơn đến Hạ Long, cách đây khoảng 700-800 năm vẫn là vùng đầm lầy rộng lớn.

Bia Thuỷ môn đình ở thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn) dựng sau trận Bạch Đằng năm 1288 (trên 300 năm) cho biết chính Đồng Đăng khi đó vẫn còn là cửa khẩu đường thuỷ. Người ta giải thích đặt tên chợ Đồng Đăng ghi dấu nơi đây vốn có chiếc đèn tín hiệu bằng đồng, đón thuyền bè từ ngoài khơi vào buôn bán, trao đổi hàng hoá.

Ngô Thì Sĩ khi làm Tổng trấn Lạng Sơn, năm 1778, trong bài Hý động Song Tiên viết:

“…Tôi…dạo chơi những chốn thanh u, tìm các nơi cổ tích, rông ruổi trong rừng Hổ Báo, thả thuyền trên vực Giao Long; nghe tiếng sóng ở thác cao, xem nước triều dốc núi”.

Như vậy, cách đây chưa xa, nước thuỷ triều còn vào đến Lạng Sơn. Điều đó chứng tỏ cách đây trên 700 năm. Đường biển vịnh Hạ Long với Lạng Sơn thông suốt. Thuận tiện cho việc khai thác, vận chuyển gỗ từ Lạng Sơn xuống sông Bạch Đằng.

Trên phố Pò Càng- thị xã Lạng Sơn còn ngôi đền cổ thờ Trần Hưng Đạo và văn bia ở đền Tả Phù gần đó, có đoạn chép rằng: “Tại đây, năm xưa, Hưng Đạo Vương đã đến khảo sát trấn địa”. Pò Càng tiếng Tày- Nùng có nghĩa là trái núi có cây mạy càng phát triển. Mạy càng là cây gỗ trắc, thân to, cao thẳng.

Sự kiện Trần Hưng Đạo đến núi Pò Càng (Lạng Sơn). Đúng hơn là đến rừng đại ngàn Lạng Sơn thuộc Vịnh Hạ Long, chỉ huy, tổ chức, khai thác, vận chuyển gỗ làm cọc, trận thuỷ chiến Bạch Đằng, đang được lưu truyền trong bài thơ “Vịnh cảnh quan thi xã Lạng Sơn”:

Xưa như còn vọng tiếng hò
Tiếng người đẵn gỗ, ghép đò đâu đây
 Biển xưa để lại đất này,
Một vùng bát ngát rừng cây đại ngàn
Bạch Đằng gọi cứu giang san
Cây ngàn dựng cọc, quân dàn mặt sông
Nước non toả áng mây hồng
Rước Trần Hưng Đạo từ sông lên ngàn
Ngôi đền trên phố Pò Càng
Là nơi Người đến đại ngàn năm xưa.    

Kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng

Tác giả Vũ Xuân Xuê giới thiệu kinh nghiệm cắm cọc quai đáy trên dòng chảy của dân chài làng Hạ Bì. Tục gọi là làng Quát, thuộc xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc- Hải Dương (quê của tác giả).

Danh tướng Yết Kiêu đã đem kỹ thuật cắm cọc đáy của làng chài Hạ Bì ra giúp Trần Hưng Đạo áp dụng kế sách đánh giặc của Ngô Quyền. Tướng Yết Kiêu được giao chỉ huy và tổ chức xây dựng trận địa cọc trên sông Bạch Đằng năm 1288.

Các lý giải của tác giả, hợp với huyền tích ở Thuỷ Nguyên về các tướng: Lý Minh, Lý Khả, Lý Bảo- người trang Hoàng Pha (nay thuộc xã Hoàng Động- Thuỷ Nguyên) dùng kỹ thuật cắm cọc đáy. Giúp Ngô Quyền xây dựng trấn địa cọc đánh Nam Hán trên vùng cửa biển Bạch Đằng năm 938. Tục truyền, ba anh em tướng họ Lý ở Hoàng Pha. Là người trang Hạ Bì. Đến Hoàng Pha định cư. Làm nghề đánh cá biển.

Tác giả Vũ Xuân Xuê bằng mô hình đạo cụ và biểu diễn thực nghiệm. Giới thiệu chi tiết và thuyết phục về kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông bằng thuyền dân dụng, thuyền đánh cá và nghệ thuật dùng cọc nháng (tre, gỗ), dây nháng (bện bằng rễ cây dứa dại, thân cây tre non chẻ nhỏ vắn lại thành thừng), que ngáng (tre hoặc gỗ), cọc kháp (khuyết)…

Tác giả Trần Phương nhận xét. Kinh nghiệm cắm cọc đáy của dân chài Hạ Bì (cũng là kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng) là nguyên lý Dây giữ cọc, cọc giữ dây, dây giữ phương tiện (thuyền)”.

Tình ca Ân Phúc Của Loài Cây

Hồ Gươm. Chiều thứ bảy 18- 4- 2015. Trong Đền Ngọc Sơn. Dưới tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo uy linh. Người Nấu Sử Sôi bên Hồ Gươm hát:

Tình ca Ân Phúc Của Loài Cây

“Hào quang ướp sóng Bạch Đằng Giang/ Ân phúc của loài cây Việt mình/ Cây ngậm Nước, bên Người Tình ca/ Cây hóa cọc vì dân giữ nước!/ Bãi cọc ngầm mênh mông chờ giặc/ Bên sông Bạch Đằng rất thân thương/ Nam Hán Cao Tổ Gào khóc thảm thiết/ Rút chạy về, kinh đô Phiên Ngung/ Cha Triệu Đà- Nước Việt hỏi tội/ Bảo ông thờ Tổ Tiên Bách Việt/ Phiên Ngung thiêng Sông Núi Nước Nam/ Họ Nam Hán pha máu Lạc Hồng/ Không biết mình gen cha mẹ Việt/ Hỏi lũy tre, khoai, lúa, cây trồng/ Xòe tán trên võng lọng nhà ông/ Hỏi dấu nét bàn tay hoa văn/ Chạm khắc gỗ đá, ghế ông ngồi/ Tinh hoa Tiên Rồng, ngời ngợi bay/ Hỏi ngọc trai thắm máu biển Đông/ Mà ông u tối, sang cướp về/ Hỏi Quyền linh Trống Đồng Trưng Triệu/ Giành lại 65 thành Bách Việt- Lĩnh Nam/ Hỏi Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát Việt/ Bát Bộ Kim Cương- Vũ Khí Thần/ Hỏi Thần Nông dạy dân Lĩnh Nam/ Trồng lúa nước, ông ăn cơm cháo/ Không biết ơn, láo nháo, đảo lừa/ Kinh Dịch- Trống Đồng, ông hiểu không?/ Sông Núi Nước Nam dân Nam ở/ Tham cướp làm sao nổi! Mà mơ/ Ỡm ờ, vờ vật… nốc no nước/ Thủy triều lên, xuống, nhấn chìm thuyền/ Rừng dâng cây, âm thanh bất tử/ Sóng Tâm linh giữ Đất Việt Nam/ Thánh Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo…/ Đằng Giang tự cổ huyết do hồng/ Tâm linh Việt! Không phải chuyện thường/ Khi Cây cùng Người đổ máu xương/ Ngàn năm Bắc thuộc, sống quật cường/ Cây Nước Người- Hùng khí phương Nam”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.10.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004