Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
‘Thu Mòn / Yellow Path’ tranh của Võ Công Liêm





TRIẾT THUYẾT HIỆN SINH

QUA NHỮNG NHÀ TƯ TƯỞNG








    H iện sinh là chi rứa? Mà răng lại gọi là hiện sinh? Từ ngữ này không còn xa lạ giữa thế kỷ này. Mà nó trở thành cao trào thời thượng có tính văn chương thẩm mỹ tìm thấy sự biểu lộ trong triết học, văn hóa, tôn giáo và chính trị. Tư duy phát tiết là ngọn nguồn, gốc rễ khơi dậy từ thế kỷ thứ mười chín (19) qua tư tưởng của Kierkegaard, Dostoevsky và Nietzsch, nở rộ trong những năm trước và sau Thế chiến hai. Cơ bản của sự kiện; đó là câu trả lời chính đáng cho những người Tây phương ở thời đại mong muốn hướng về (an age of anxiety) cho một tương lai sáng lạng hơn mà tuổi đời bị vùi dập trong chiến tranh (an age in which war). Tập đoàn thống trị đổi mới khoa học kỹ thuật chỉ thấy yếu kém hơn; thực chất là đặc niềm tin vào tiến trình (mặt xã hội) và tàn phá (xâm lược) là tiêu chuẩn chấp nhận cho một xác quyết: của tốt đẹp và sự thật. Nghĩ như rứa là cực đoan, là độc tài tư tưởng. Thời điểm đó người ta cho là một thứ hủy thể chớ không phải xây dựng xã hội (như chủ nghĩa Quốc xã / Nazism). Trước tình huống ấy cao trào hiện sinh phát động; là một cố gắng và thử thách để tìm kiếm nền móng mới của chân lý và giá trị cho một thời đại nhân loại –The existentialist movement is an attempt to find new grounds of truth and value for the modern human being;‘nỗi cô đơn đau đớn hiện thể trong một thế giới mù tăm / a lonely anguished being in an ambiguous world’. Đấy là tiếng ai oán! Hiện sinh xuất hiện với sự thống khổ đó; là một giải phóng,khai quật những tư duy nông cạn,không thực tế của một trí tuệ ngu xuẩn; là lý do mở đầu cho cuộc cách mạng tư tưởng và trí tuệ của loài người, một cuộc chiến hợp lý và bất vụ lợi.

Ảnh hường vào những sự lý chung; tiêu biểu bằng một lý lẽ thuộc chủ nghĩa hiện sinh đó là Jean-Paul Sartre (1905-1980) -một triết gia, tiểu thuyết gia, kịch tác gia và hoạt động chính trị tích cực- Chủ thuyết hiện sinh của Sartre là một định hướng không thế tục nghĩa là không dính dáng vào giáo phái hay một lãnh đạo tinh thần nào khác. Nó phủ nhận vào niềm tin Thượng đế hoặc một lý tính siêu nhiên nào. Mà; dấy lên ở một trọng tâm định hình (centered) vào trạng huống con người; cái sự cớ này là đặc điểm như một viễn ảnh đương đại của nhân bản chủ nghĩa –as a contemporary version of humanism. Xét ra; hiện sinh là loại trừ cái gì không cụ thể, có tính chất mơ hồ, trừu tượng, ởm ờ, giả tạo là những thứ hỏa mù, lạc hướng, đi ngược với niềm tin chính nghĩa của con người; là nhu cầu mà con người đòi hỏi là thực thể/essence hoặc hiện thể/being mà lý tới mục đích và giá trị của sự tồn lưu nhân thế. Đấy là hiện sinh. Một thứ hiện sinh đúng nghĩa và là điều kiện của chúng ta –cho một hành động và một tổng quan kinh nghiệm. Ấy là một xác định cụ thể tự nhiên của con người. Nếu có cái nhìn khác biệt cho hiện sinh, tất chưa hiểu chi về hiện sinh. Răng lạ rứa? bởi; hiện sinh là bản chất của sinh tồn, con người phải biết sống với nó, thực hiện nó để tạo nên một giá trị cố hữu, bất luận nghĩa lý nào nó là cuộc đời của nhân loại. Cho nên chi đứng trước hoàn cảnh xã hội nào đi nữa chúng ta phải thực thi nghiêm chỉnh con đường hiện sinh, sáng tạo để duy trì sự chọn lựa của chúng ta: giữa tốt và xấu, giữa tà và chính, giữa nhân nghĩa đạo đức và tà giáo hoạt đầu, nhũng lạm… Thời đó là cá tính cho một tự do thực sự. Sartre cho chủ nghĩa tự do là cái gì cao qúy, tốt đẹp nhất /And freedom for Sartre is the greatest good. Tuy nhiên; đấy là điều không dễ từ nan. Nhưng nhớ cho tự do phải thực với tự do khác.Thí dụ: người chiến sĩ rã ngũ chỉ hoài niệm cái tự do đã mất, một thứ phản kháng suy thoái mà tự mình đánh mất nó. Cuối cùng chỉ nói lên lời ta thán, hiện sinh như thế gọi là hiện sinh thoái trào chả khác gì nhai nhải chuyện xưa không có đề tài; thứ đó là vong thức mà tìm lý sống trong hiện sinh như một chứng cớ. Cái sự như vậy không gọi là hiện thực mà hóa ra mất hiện thực. Khác gì anh hàng xóm nhón người nhìn sang hàng rào thách đố và chưởi trổng. Tư tưởng gia hiện sinh cho đó là một trách nhiệm khủng khiếp, vì một tư duy đơn lẻ bởi sự chọn lựa của họ, nó không triệt thoái ra khỏi một quyết định tồn lưu, tồn lại mà tồn loạt của chính họ nhưng có chi đi nữa tất cả phải hợp pháp, hợp lý thì tồn tồn với hiện sinh –It is a dreadful responsibility, for individuals by their choices not only determine their own existence but legislate for all.

Theo quan niệm hiện sinh; thì lấy cái gì để cho đó là lý thuyêt hiện sinh? Sartre cho rằng nghĩa của nó như là một học thuyết làm cho cuộc đời con người có thể có và một điều kiện thích nghi, sáng tỏ; cái đó là sự thật và là hành động có nhiều ngụ ý cho một sự đặt để, bố trí vào vai trò khách quan của con người.

Vấn đề hiện sinh ngó rứa mà có một vài điều phức tạp giữa người theo đạo giáo như triết gia Đức Karl Jasper (1883-1969)và nhà văn Pháp Gabriel Marcel (1889-1973) với một số khác thuộc những kẻ hiện sinh vô thần (atheistic existentialist). Theo sau đó có J-P Sartre và triết gia Đức Heidegger (1889-1976) cùng nhóm hiện sinh Pháp. Họ có chung một quan điểm hiện sinh hay họ nghĩ rằng hiện hữu của sự sống là cần thiết hàng đầu? hoặc thích nghi cho cuộc đời? Cả hai câu hỏi nêu ra đều hướng tới một tọa độ. Toạ độ chi rứa? Là cải thiện tư duy con người để có một cuộc đời công lý, thích nghi đáp ứng hoài bão mà lâu nay đã có những tư duy đi lạc hướng đưa nhân loại vào bi thảm. Cũng có thể họ nhìn đó là hiện sinh. Do đó xác nhận một hiện sinh trung thực là hiện sinh phục vụ đại đồng, còn hiện sinh cá nhân chủ nghĩa chỉ là thứ tha hóa. Chủ thuyết hiện sinh là trọng điểm khai sáng của người trí thức nhận diện mặt thực của tự do. Tuy nhiên; ở đây chúng ta có một cái nhìn chuyên môn về toàn cầu, bởi chính cái đó có thể nói lên rằng tồn lưu nhân thế là một thứ văn học nghệ thuật hàng đầu –Therefore ; we have here a technical view of the world whereby it can bi said that production precedes existence. Mặc khác; trong khi chúng ta nuôi trong óc hình ảnh Thượng đế như Ông Tạo. Như vậy con người luôn có một cái lý siêu nhiên thuộc loại siêu tài năng (a superior sort of artisan). Nghĩ như rứa là đứng lại rồi. Bởi có cái nhìn vào Thượng đế là đấng toàn năng mà quên mình để thiết lập một xã hội hiện hữu; nghĩa là phải tác động để đi vào thế giới như-nhiên không còn ngu xuẩn, quẩn quanh. Sự hiện sinh là đòi hỏi ý thức vương tới trong tư tưởng. Sartre nhìn hiện sinh như lý thuyết nhân tính, có nghĩa rằng không vì giáo điều hay chủ nghĩa mà phát huy tự chính mình là tìm thấy chân lý chủ nghĩa. Jasper và Marcel nghiêng về giáo lý để thực hiện hiện sinh (trong giáo điều) Sartre đồng tình với tư tưởng gia Nietzsche (1844-1900) là chối bỏ Thượng đế để thực hiện hiện sinh, Kierkegaard và Holderline cũng như Heidegger lại có cái nhìn chủ quan về hiện sinh hơn cái nhìn khách quan, cho rằng niềm tin Thượng đế có thể đánh hạ thoái hóa. Mặc kệ; giáo điều hay chủ thuyết chúng ta phải suy xét thực trạng nghĩa là không đi vào sự nghi ngờ hay lựa chọn giống như kiểu thức của triết gia, toán gia Pháp Descartes (1596-1650) hay của triết gia, khoa học gia Đức Leibnitz (1646-1716); chúng ta luôn luôn chấp hành điều ước hoặc ít ra hiểu được vấn đề; thời coi như kẻ đồng tình với Thượng đế và thừa nhận Thượng đế là đấng Tạo dựng. Rứa thì ý niệm và niềm tin của con người là trong trí tuệ của Thượng đế? Cái đó là so sánh giữa người và người. Thế nhưng ở thế kỷ thứ mười tám, triết học /philosophes phái vô thần (Pháp) khai trừ quan niệm, lý thuyết về Thượng đế, nhưng nhớ cho không quá nhiều khái niệm hay tư duy là điều cần thiết tiên khởi cho việc tồn lưu nhân thế. Tư duy này chắc chắn lan trải, một ý niệm đã hiện ra khắp nơi. Cho nên chi; tốt hơn ta quay về với triết gia Pháp Denis Dideror (1713-1784), với văn gia Pháp Francois Marie Arouet -Voltaire (1694-1778) ngay cả phê bình gia / triết học luân lý Đức Kant (1724-1804) đều cho rằng: Con người có từ cõi Như-nhiên / Man has a human-nature. Thời cứ cho như là ý niệm ‘hiện sinh’ của nhân loại là tìm thấy trong con người, nghĩa là mỗi một con người là một dẫn chứng đặc biệt, là tiên lệ, khuôn mẫu tạo thành của vũ trụ giới. Có cần điều tra lý lịch con người có từ đâu và về từ đâu? Hỏi chi cho dài dòng văn tự mà trở nên ởm ờ, cò cưa rối ren lý trí, vòng vo tam quốc chí. Kant cho rằng giữa vũ trụ quan khởi thủy con người là giống ‘man di mọi rợ / wild-man’ thời tất ta hiểu con người là một sinh vật tự nhiên / nature-man như mọi vạn vật khác; dần dà phân chia ra từng giai cấp, từng hệ phái (để làm trùm rừng rú), là vạch ra giới hạn giống như một xác định và một sự lý cơ bản để làm chủ. Nói như rứa thì đây là bước tiên khởi cần thiết của con người cho một lịch sử tồn lưu, tồn lại không còn tồn loạt mà mỗi khi ghi nhận vào lịch sử thì sự kiện sẽ tồn tồn; cái sự lý như thế là tự nhiên thôi. Nghiệm ra chủ nghĩa hiện sinh vô thần (Atheistic existentialism) có thể là một lý thuyết cứng rắn; nếu Thượng đế không hiện hữu là phản đề cho những ai xem trọng sự tồn lưu nhân loại là việc trước tiên và cần thiết. Heidegger nói: ‘đó là thực chất con người / human reality’. Nếu con người như là một kẻ hiện sinh mù mờ về thượng đế thì điều đó hoàn toàn không xác thực để miêu tả thực hư có hay không có thượng đế, bởi; không có loài người thì không có thượng đế, thế thời thượng đế trước đó là cõi không. Thượng đế chỉ đến trong niềm tin trước vũ trụ, có thể do từ hãi hùng của vô biên mà làm cho con người trở thành ‘hạt bụi’ dưới mắt Thượng đế…Trái lại; con người hiện sinh nghĩ về điều đó như một nỗi buồn khi phải nói Thượng đế không hiện hữu giữa trần gian này /God does not exist là một sự tuyệt vọng khi tìm thấy Người ở Thiên đường mà không tìm thấy Người ở trần gian. Chủ nghĩa hiện sinh là một xác minh cụ thể, cho nên nói hay viết phải là chân chính, đó là điều mà chúng ta không phải láo, bởi; dữ kiện mà chúng ta đứng trên một mức độ tuyệt đối ở đó chỉ có con người và con người hiện sinh là hiện hữu.

Nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky (1821-1881) đã nói:’ Nếu Thượng đế không hiện hữu, thì mọi điều sẽ có thể xẩy ra được / If God didn’t exist, everything would be possible’. Nghĩa là không có ông Thượng đế này thì có ông Thượng đế nọ, nhưng; có ông hay không có ông con người vẫn thực hiện được hoài bão (có thể tốt đẹp và thánh thiện hơn). Nếu con người nhận thức được giữa tốt và xấu, giữa chính và tà (thời đó có thể là giáo điều). Liệu có cần tôn giáo đưa đường dẫn lối hay con người tự thắp đuốc lấy mà đi. Đấy là điều rất vững tâm về lý thuyết hiện sinh. Thực vậy; mọi thứ là dễ dàng và được phép nếu Thượng đế không hiện hữu thời kết quả con người không bị bỏ rơi. Răng rứa? bởi; Có hay không Thượng đế phải tìm nơi để bám vào. Không nhẽ Người tạo ra để rồi Người tha lỗi cho chính Người. Lý như rứa làm cho ta thêm bối rối? Nếu không nhận ra ở điểm này: tồn lưu nhân thế thực sự là tiên khởi cần thiết / existence really does precede essence thời đó không cần phải lý giải. Nói cách khác; nếu không có một giả thuyết nào để quyết định, thời tất con người tự do hoàn toàn (không có rào cản của giáo điều, luật tắc kềm kẹp). Mặc khác; nếu Thượng đế không hiện hữu thời chúng ta tìm ra cái vô giá trị hoặc mệnh lệnh đi ngược lại như một biện minh qua cách cư xử của chúng ta. Vì vậy; vương quốc trong sáng là giá trị tồn lưu, nghĩa là chúng ta không lỗi phải sau chúng ta và cũng chẳng biện lý hay biện minh trước chúng ta. Lý do của chúng ta là đơn phương để xét đoán. Rứa cho nên gọi hiện sinh là sống thực với đời là ở chỗ đó! Chủ nghĩa hiện sinh không nghĩ rằng con người trợ giúp ở chính mình mà không cần một mệnh lệnh, bởi tìm thấy trong vũ trụ loài người cả tin vào điềm xấu, tốt (omen) mà những tư duy như thế là cả một định hướng tồn tại chưa chịu thoát ở chính mình, coi đông phương là tọa độ (orient), một toạ độ của khởi thủy. Rứa là con người còn hoài vọng. Lý cái này nghe lạ quá? Bởi; Người nghĩ rằng con người sẽ chú ý vào phép lạ là điềm báo thích nghi ở chính người. Thế nhưng; Người nghĩ rằng con người không có dựa vào và không trợ vào, thời tự xử lấy trong phút chốc đó như một phát hiện khởi đầu. Thật vậy! theo thi sĩ Pháp Francis Ponge (1899-?) nói một câu rất chi là hay ho, chí lý: ‘Con người định được tương lai của con người / Man is the future of man’ Đúng thế! Có nghĩa rằng con người tự quyết trước vấn đề giữa hữu thể (being) và vô thể (nothingness). Nhưng rồi ta cũng không bị bỏ rơi –But then we are forlon. Răng rứa? Hiện sinh là thừa nhận để nhận thức; nói nôm na là chứng nào tật nấy, hay dở là tại lòng ta. Còn khăng khăng mà nói không phải tại tôi ‘mọi đàng’ là phản đề, vì; có nhân thì có quả, có con người thời có Thượng đế hay ngược lại. Cái gì cũng rứa cả; nói chung vũ trụ và con người đều trong qũi đạo của phép nhị-nguyên mà ra. Không nhẽ tự nhiên mà có.Thí dụ: cha mẹ răng thì con rứa; cha tốt thì con nhờ, mẹ hay thì con hưởng. Tốt xấu nhận lấy, định đoạt lấy chớ bỏ rơi thì hiếm ở đời này. Nếp sống hiện sinh là ở chỗ đó. Chớ vòng vo tam quốc là đứng ngoài vòng cương tỏa của chủ thuyết hiện sinh, là đi ngược giòng đời đang sống. Cuộc sống con người là hiện thực không thể cách ra được. Chỉ có một cách xác định giá trị ở đây là tác động thiện chí cho một nghị quyết tư tưởng, một chứng minh đầy đủ và sáng tỏ. Vai trò của con người hiện sinh là thế chủ động đứng trước hoàn cảnh, vừa nhận biết, vừa thích nghi là mẫu thức của con người đương đại, thức thời. Cái đó là hiện sinh thực sự. Trái lại; nhà văn Pháp André Gide (1869-1951) lại có một ý nghĩ hay: cho rằng ‘một cảm thức đùa giỡn và một cảm thức thật sự là hầu như điều không thể phân tách được / a mock feeling and a true feeling are almost indistinuishable’. Thí dụ: tôi thương yêu mẹ tôi và sẽ tiếp tục được yêu hoặc giữ mãi trạng huống yêu như đặt vào đó một mệnh lệnh của yêu thương. Thời đó là một quyết định dứt khoát. Cảm thức như rứa là thể thức bởi chức năng hành động, một biểu hiện hành động của phép hiện sinh. Rứa cho nên không qui nó như một mệnh lệnh thi hành mà phải là như đã một lần. Lời nói của Gide là một tương quan giữa nhận thức và trách nhiệm; ý đó không phải chứng tỏ ông là một nhà mô phạm, khuyên lơn. Nhưng nếu muốn tìm kiếm lời khuyên từ một linh mục hay nhà sư; giả như ta chọn linh mục thời tất biết được những gì ông cha muốn nói ít nhiều trong đó như điều ông ta sẽ nói trước cho một người phạm tội. Nói khác đi; chọn người khuyên giải là có dính dáng ta trong đó. Rứa cho nên chọn lời khuyên là tìm thấy nhiều khiá cạnh trong lời khuyên. Đôi khi thầy, cha chọn lời cố vấn như một hợp tác, có khi như phân bua và có khi như từ khước…Ý thức hiện sinh là nhận thức phân định ở chính ta. Không có sự khác biệt nào giữa hiện hữu tự do, giống như một mô thức sắp xếp, giống như một tồn lưu nhân thế mà chọn sự cần thiết và một hiện hữu tuyệt đối. Nhưng; không có sự khác biệt giữa hiện hữu và một vị trí nhiệt độ hạn định (nghĩa là nhiệt độ nằm trong độ không tuyệt đối); cái đó là, đặc điểm dành cho lịch sử và hiện hữu phổ quát rộng lớn – But; there is no difference between being an absolute temporarily localizes, that is, localized in history and being universally comprehensible. Cảm thức đó chúng ta có thể nói đó là tính phổ quát của con người, nhưng; cái đó không phải được cho mà nó đã là một cái gì tồn lại, tồn lai, tồn tồn (perpetually being made) cho hiện hữu tạo nên. Vậy duy trì hiện sinh là duy trì cái tồn lại đừng để cái tồn loạt chiếm cứ. Nhận định giá trị về chữ tồn/exist là nhận ra những gì về hiệnh sinh. Hiện sinh là hiện thực và sáng tỏ (như đã nói ở trên) mới sống thực cuộc đời đang sống.

Giờ đây; đối với con người hiện sinh thực sự không có tình yêu so với người khác mà sự cớ đó hiển nhiên nhận ra được ở tự nó trong một tình yêu hiện hữu của cá nhân. Cái lý đó không có chi khác biệt độc đáo hơn người đời mà là một bày tỏ trong những tác phẩm nghệ thuật. Coi thử trường hợp này; tiểu thuyết gia Pháp Marcel Proust (1871-1922) tài năng của Proust là một tổng thể toàn diện nằm trong tác phẩm của ông. Còn kịch tác gia Pháp Jean Baptiste Racine (1639-1699) tài năng sáng tác của ông qua từng loạt vở kịch là nói lên mặt bi thảm xã hội. Bên ngoài những điều đó, là như không -Outside of that, there is nothing-. Rứa thì tại sao Racine viết lên bằng một bi thảm khác.Tại sao ông không viết cái thống khổ đó? Racine cho rằng: ‘Con người vốn hệ lụy trong cuộc đời / A man is involved in life’. Do đó người hiện sinh không có tình yêu (ngoài đời) nhưng trong tác phẩm của họ là người tình. Thí dụ: Thi sĩ Z. không có người yêu để tỏ tình mà tỏ tình ‘lại-cái / guy’với một thi sĩ khác (có thể vì thần tượng mà mê-yêu (?) Thứ ái tình của thi sĩ Z. hoàn toàn không hiện sinh mà có tính cách giả-hợp. Tuy nhiên; trạng thái đó mỗi khi nói đến: ‘chắc là anh không có gì khác hơn cuộc đời của anh đang sống / you are nothing else than your life’ cho nên anh sống tình với ‘nàng thơ’ hơn sống đời. Nói như rứa có nghĩa là một con người khi không có gì khác hơn chỉ còn lại một biến trình tư tưởng, thời đó là cái nhìn tổng quan, có cơ cấu, một đồng điệu tương quan, tất thảy bù vào những chỗ khiếm khuyết như một hứa hẹn –What we mean is that a man is nothingelse than series of undertakings, that he is the sum, the organization, the ensemble of the relationships which make up these undertakings. Trong cảm thức đó chúng ta có thể nhận định rằng tính phổ quát của con người, là; bao hàm hay ngụ ý một nghĩa cử hay hành động trong nếp sống, chẳng hạn đồng tình luyền ái là một bày tỏ khơi dậy từ tâm sinh lý, phân biệt được giữa trạng thái tính thể để tìm thấy sự thật của hiện sinh mà ngày nay được thừa nhận như một sở hữu của con người. Nhưng; nó không phải là cái đã được ban thưởng mà nó là một thế tục tồn lưu. Cũng có thể coi đây là một nhiệt độ tuyệt đối, một ân xá được chọn lựa chớ không phải chơi qua loa, xổ óa với những cớ sự liên can tới mỗi thời đại mà ‘nói có sách mách có chứng’ thời mới thực thi chủ nghĩa hiện sinh. Rứa thì hư cấu truyện có hiện sinh không? Là thứ siêu tưởng xa thực tế; cái đó đối lập với hiện sinh. Hiện sinh là sống thực gần như một nhân bản, một yếu tố cần thiết để dựng nên con người. Chủ yếu gì ở thuyết hiện sinh?Thuyết hiện sinh hiện ra mạch nối giao lưu giữa nhiệt độ vô hạn (absolute temperaturelly) và đặc tính chuyên chế (absolute character) của những gì dính tới tự do, bởi; phẩm cách đó mà mỗi con người tự nhận thức lấy trong sự hiểu biết thuộc tính nhân loại, cái sự tương quan ,dính dáng vào nhau luôn luôn là nhận thức, hiểu biết sâu xa bất luận ở tuổi nào và chính sự hệ lụy vào nhau là một nền văn hóa chung do từ kết quả chọn lựa; ngay cả bầu cử hay tuyển cử nó cũng thực thi trong tinh thần chọn lựa và tự do. Nhưng ở đây không khác biệt giữa hiện hữu tự do, mà giống thể thức cho một chọn lựa cần thiết, một hiện hữu tuyệt đối. Không có sự khác biệt nào hơn giữa hiện hữu đặc quyền tạm thời, mà nó là; đặc quyền trong lịch sử và là một nhận thức hiểu biết toàn bộ. Thực ra; từ ngữ nhân bản chủ nghĩa có hai nghĩa khác nhau. Chủ nghĩa nhân bản (humanism) có người cho lý thuyết đưa con người tới cuối đường cùng như một giá trị tuyệt đỉnh. Nhưng có người cho lý thuyết Nhân bản chủ nghĩa là cảm thức có thể tìm thấy được; lấy thí dụ của nhà văn, nhà biên kịch Pháp Jean Cocteau (1889-1963) trong câu chuyện thần tiên ‘Vòng quanh Thế giới Tám mươi Giờ / Around the World in Eighty Hours’ cho rằng: ‘Con người là kỳ diệu lạ thường / Man is simply amazing’. Đấy là điều có ngụ ý cho rằng chúng ta qui vào giá trị con người là cơ bản hiện thực bằng ý thức lớn nhất của những gì nhân loại mong muốn. Chủ nghĩa nhân bản đôi khi cũng đưa tới ngu xuẩn không lường. Ngược lại chủ nghĩa hiện sinh sẽ không bao giờ là con người quá cân nhắc vấn đề để đi tới chấm hết bởi con người luôn luôn sáng tạo và tìm kiếm. Đây là thể loại dành cho lý thuyết nhân bản, chúng ta có thể làm được mà không có nó để làm nên –This kind of humanism we can do without. Nhưng đó cũng là một nghĩa khác của chủ nghĩa nhân bản, nghĩa khác: con người là một thể chất bất biến bên ngoài chính nó, trong một phản ảnh chính nó, trong cái mất mát trong và ngoài chính nó để rồi tạo nên một tồn lưu, tồn lại của con người, và: trong khiá cạnh khác hiện sinh làm cho người ta tin để đi tới mục đích siêu lý; đó là những gì hiện hữu tồn lưu nhân thế của con người, hiện hữu trong trạng huống này là vượt ra khỏi cõi ngoài (passing-beyond) cái đó là cơ hội nắm bắt được một lần và xử lý được một lần là vượt tới cõi ngoài. Không có vũ trụ nào khác hơn vũ trụ loài người, vũ trụ thuộc chủ thể nhân bản. Nhớ cho khi con người vượt qua giới hạn ở cõi ngoài tức tiếp dẫn giữa siêu lý và siêu nhân; nhìn nhận như một cấu tạo cơ bản của con người. Chủ nghĩa nhân bản nằm trong phạm trù xử lý, không có làm ra luật lệ, không bỏ rơi, buộc tội, phạm tội, tha tội chúng ta tự xử lấy chúng ta trước Thượng đế; chúng ta không hướng về Thượng đế để cầu xin. Nietzsche nói:‘Thượng đế đã chết /God is dead’ tức không hiện hữu/God doesn’t exist. Nhưng chúng ta nhìn Thượng đế như một cái đích ; cái đích đó là giải phóng con người như một thực hiện hoàn thành.


Hiện sinh chủ nghĩa không có gì khác hơn mà là một cố gắng để vượt qua, để vẽ lên đó tất cả những gì có hiệu năng của nhận biết và đặc chất thuộc vô thần chủ nghĩa. Vô thần có niềm tin nhưng không cúng bái, nghi lễ, giáo điều…vì; cho rằng những thứ đó hỏa thiêu Thượng đế. Đây không phải là một cố gắng đẩy con người vào những gì tuyệt vọng của niền tin. Hiện sinh chủ nghĩa không hô hào vô thần mà mang vào đó lời bày tỏ rằng:Thượng đế đã chết tức không hiện hữu giữa đời này. Con người hiện sinh là con người nhận thức sâu xa, thực tế vượt ra khỏi những mộng mị, yếm thế trước nhân sinh ./.


(ca.ab.yyc mùa tạ ơn. 10/2015).


SƯU TẦM: ‘Qua những bài đã thực hiện từ 2007 đến 2015 của võcôngliêm’. Tìm đọc thêm trên mạng báo và giấy hoặc email về vcl.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 24.10.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004