Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO

THỜI KỲ ĐẦU HAI TRIỀU ĐẠI LÝ – TRẦN

VÀ DẤU ẤN SƠ TỔ

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG






T rải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, với tư cách là một luồng văn hóa ngoại nhập, Đạo Phật dần dần được bản địa hóa và trở thành một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam. Con dân nước Đại Việt trước đây cũng như tín đồ Phật tử Việt Nam ngày nay tin theo Đạo Phật, luôn hình dung Đức Phật là Đấng toàn năng hiện diện ở mọi nơi, sẵn sàng cứu độ chúng sinh .

Với bài viết này, xin có đôi điều suy nghĩ và cảm nhận về tư tưởng Phật giáo trong đời sống văn hóa - xã hội thời kỳ đầu hai triều đại Lý – Trần và tư tưởng nhập thế của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên cương vị Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng – sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

1. Tư tưởng Phật giáo trong đời sống văn hóa - xã hội thời kỳ đầu hai triều đại Lý – Trần.

Quá trình hội nhập của Đạo Phật vào nền văn hóa Đại Việt xuyên suốt xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử đã để lại cho chúng ta một hệ thống kho tàng lý luận và thực tiễn vô cùng phong phú, có giá trị trường tồn. Nhà thơ Hồ ZDếnh đã từng viết “ Trang sử Phật đồng thời là trang sử Việt, trải bao độ hưng suy có nguy mà chẳng mất”. Thời kỳ sơ khởi, do tiếp thu trực tiếp Phật giáo từ Ấn Độ nên danh từ “Buddha” (Bậc Giác ngộ) được phiên âm thành từ "Bụt". Bụt được coi như đấng từ bi hỷ xả, vô lượng công đức; là vị thần cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu luôn ứng nghiệm trong đời sống thường ngày, trong văn học nghệ thuật cũng như trong truyền thuyết dân gian. Sau này, do ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa du nhập từ Trung Hoa mà từ "Bụt" được thay thế dần bằng từ "Phật"- Đức Phật.

Đạo Phật xác định: con Người là chủ nhân của chính mình (bản ngã) dựa trên niềm tin của trí tuệ. Tư tưởng Phật giáo không phải là một hệ thống giáo lý hỗn độn, gieo rắc đức tin mù quáng đối với tín đồ Phật tử mà là tư tưởng minh triết, thấm đẫm tinh thần nhân loại, tinh thần cộng đồng (vô ngã); lấy thiện trả ác, lấy tốt trả xấu, lấy lành trả dữ, khoan dung độ lượng với những mê lầm, ngang trái của thế gian.

Từ thực tiễn lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh những phẩm hạnh của Đức Phật được hòa quyện trong khát vọng độc lập tự do, cố kết nhân tâm bền vững, hun đúc ý chí tự lực tự cường của Người Việt; bền bỉ, quyết liệt chống lại sự nô dịch và mưu đồ đồng hóa của các thế lực Phương Bắc. Vì vậy có thể nói Đạo Phật là một hệ tư tưởng tiến bộ có sức lay động và cảm hóa trái tim hàng triệu con người. Đạo Phật luôn đề cao những giá trị văn hóa truyền thống, ươm mầm giác ngộ; không giáo điều, chấp tướng; không che đậy hình thức mà coi trọng tính chủ thể của con người, tạo điều kiện cho mọi người được học và tu theo Phật. Quốc sư Phù Vân trả lời vua Trần Thái Tông khi Ngài có ý định rời bỏ ngai vàng để về chốn sơn lâm tìm Phật: “ trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm. Tâm vắng lặng mà biết đó là chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ được tâm ấy, thời tức khắc thành Phật, không phải nhọc công tìm đâu xa”.(1)

Nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và trước tác của các Quân vương đầu triều 2 thời đại Lý – Trần càng thấy rõ xu hướng nhập thế của Đạo Phật được các vị chuyển tải và hiện thực hóa vào đời sống xã hội lúc bấy giờ thật khéo léo và nhuần nhuyễn .Sự hòa nhập và chuyển tải ấy không hướng tới những gì siêu nghiệm, hàn lâm mà là những vấn đề cụ thể, liên quan đến sinh tử, tồn vong của sơn hà xã tắc theo nguyên lý: Phụng sự chúng sinh là cúng Dường chư Phật.

Ở triều đại Đinh và tiền Lê, nhiều bậc cao tăng thạc đức được mời tham gia triều chính, trở thành Tăng thống, Quốc sư, như là: Hòa thượng Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh…Tuy nhiên Đạo Phật ở thời kỳ này không phát triển mạnh vì những luật hình hà khắc của triều đình trái với hạnh từ bi của Đạo Phật. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, Người đã ra lệnh bãi bỏ mọi hình cụ phong kiến hà khắc, mở ra triều đại Nhà Lý phát triển rực rỡ hơn hai thế kỷ, theo đó đạo Phật cũng được hoằng khai, phổ cập.

Thái tử Nhật Tôn, trước khi lên ngôi Hoàng đế đã ở cung Long Đức ngoài thành Thăng Long 27 năm nên thấu hiểu mọi điều trong dân gian. Với tư chất của một thanh niên thông minh xuất chúng, văn võ song toàn, ông được vua cha phong làm Đô thống Đại nguyên soái đem quân đi dẹp loạn ở châu Văn, châu Ái; làm Lưu thủ Kinh sư đi đánh Chiêm Thành. Khi lên ngôi vua, Lý Thánh Tông là một bậc quân vương nhân từ, minh triết không chỉ đối với người hiền mà còn bao dung thương sót những kẻ tù tội. Gặp ngày trời lạnh, Ngài chạnh lòng nói với tả hữu: “Ta ở thâm cung sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh còn thế này huống hồ những kẻ bị giam trong ngục thất, xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm, gặp cơn gió lạnh chẳng chết rét sao”. Nói rồi Vua sai người đem chăn trong kho ban cho tù nhân, mỗi ngày cho ăn hai bữa. Cùng năm đó Vua xuống chiếu miễn cho dân cả nước một nửa thuế, rồi quyết định cho đổi Quốc hiệu thành Đại Việt, ngõ hầu tiếp nối truyền thống ông cha xây dựng một quốc gia hùng mạnh.

Bên cạnh việc trị vì quốc sự, Lý Thánh Tông còn là người sùng Đạo Phật; ông là Tổ thứ hai sáng lập thiền phái Phật giáo Thảo Đường. Tuy nhiên Người vẫn chăm lo mở mang Nho giáo: cho dựng Văn miếu thờ Đức Khổng Tử và 72 bậc tiên hiền, chủ trương hòa hợp với Khổng học để tạo sự thống nhất ý chí và hành động của tăng lữ với thứ dân; giữa tu thân và trị quốc; phát triển ý thức tự tôn dân tộc, lấy việc phụng sự Dân tộc làm phương châm nhập thế của Đạo Phật. Khai thác trong kho tàng Phật học triết lý sinh thành dưỡng dục, cứu nhân độ thế, chỉ cho Phật tử con đường tu đạo không phải vì chán ngán cuộc sống mà vì muốn có cuộc đời cao đẹp, từ bi bác ái.

Ở triều đại Nhà Trần, vị Vua đầu triều Trần Thái Tông cũng là một nhà Phật học uyên bác, viết sách giảng kinh mẫn tiệp. Trong tác phẩm Khóa hư lục của ngài chứa đựng nhiều tư tưởng độc đáo, minh triết. Trong bài Niệm Phật luận ngài viết: “Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng. Tướng tướng vô nhị, tịch niên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi hoạt Phật” (2) tạm dịch: thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng, tướng Phật và tướng ta không phải là hai, lặng lẽ thường tồn, tồn tại mà không biết, đó là Phật sống vậy. Trong bài Văn sắc giới Ngài chỉ ra rằng: “Người mê say đoạn nghĩa thày bạn, người tham đắm đức mất đạo tan. Trên mà phong giáo chẳng còn, dưới tất khuê môn rối loạn. Chẳng kể học lưu thế tục hay hàng tăng lữ xuất gia, phép nước sụp đổ chôn vùi nơi dâm thất, chẳng quay đầu chiếu nội tâm, cởi bỏ lụa là quanh mình vẫn lộ da bì bọc thịt”(3). . Thật đúng là tư tưởng của một vị Vua đầu triều quy y Tam Bảo có sức lay động, cảm hóa to lớn, giúp con người ta vượt lên trên những ham muốn danh lợi, thế tục tầm thường; góp phần giáo dục, đào tạo những Quân vương kế vị, những danh tướng mẫu mực làm trụ cột cho giang sơn xã tắc sau này.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông lần thứ nhất, mùa xuân năm 1258 giặc Mông Cổ chia làm hai cánh quân tiến đánh Đại Việt. Thế giặc mạnh khiến lòng người phân tán, hàng hay đánh là câu hỏi ngày đêm day dứt trong lòng Thái Tông. Với câu nói của Quốc thượng phụ Thái sư Trần Thủ Độ: “đầu Thần chưa rơi xuống đất xin Bệ hạ đừng lo” đã khích lệ tinh thần xả thân cứu nước của Vua tôi Nhà Trần và bách tính Đại Việt. Ngày đó, Xa Giá đã cùng con trai cả là Thái tử Hoảng trực tiếp chỉ huy đội lâu thuyền ngược dòng Thiên Mạc đón đánh địch ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại kinh thành Thăng Long, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi trong vòng 9 ngày đêm. Tháng 2 năm 1258 Vua ban thưởng cho ba quân tướng sĩ, xuống chiếu truyền ngôi cho con trai là Thái tử Hoảng để lui về làm Thái thượng Hoàng. Cũng vào năm này, Hoàng tử Trần Khâm con trai đầu của Hoàng đế Thánh Tông, cháu nội của Thượng hoàng Thái Tông ra đời. Tương truyền: hôm ấy Thượng Hoàng Thái Tông đang ngồi đọc kinh thì chợt bên tai có tiếng chuông ngọc vang lên và một mùi hương kỳ diệu thoảng qua. Ngài lập tức đến cung Hoàng Hậu Nguyên Thánh. Nhìn đứa cháu trai vừa cất tiếng chào đời, khuôn mặt khôi ngôi, hai vai có hai nốt ruồi đỏ, Ngài nghĩ đây đích thị là vị Bồ Tát. Từ đó Hoàng tử Khâm được ông nội đặc biệt quan tâm dạy dỗ. Khi vừa đủ khôn lớn Nhân tông đã được Thái Thượng Hoàng cho theo học thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ .19 năm sau, vào một ngày đầu hạ năm 1277, tin buồn đau sót đã đến với Đông cung Thái tử Trần Khâm khi chàng chứng kiến sự ra đi của ông nội là Thượng Hoàng Thái Tông. Bất giác Thái tử thốt lên: “Ông ơi, thế là ông đi xa thật rồi, vô thường là lẽ vậy nhưng sao không đau lòng cho được. Cầu mong ông được về cõi niết bàn, sẽ được trời Phật thấu hiểu một con người suốt đời chỉ biết lấy việc phúc làm trọng, tận tâm cho nước cho dân”.(4)

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 vào năm 1285, lần thứ 3 vào năm 1287 - 1288, Hoàng đế Trần Nhân Tông thực sự trở thành người Anh hùng dân tộc, giương cao ngọn cờ tụ nghĩa, hừng hực hào khí Đông A với việc tổ chức 2 hội nghị lịch sử là: Hội nghị Bình Than năm 1282 bàn kế đánh giặc và Hội nghị Diên Hồng đầu năm 1285 để thống nhất quyết tâm kháng chiến và động viên toàn dân đánh giặc. Khí thế "Sát Thát” náo nức trong toàn quân, toàn dân để dẫn đến thắng lợi cuối cùng là đánh cho tan tành đạo quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế kỷ XIII.

Tại phủ Long Hưng, trước lăng mộ ông nội Trần Thái Tông vua Trần Nhân Tông cùng tôn thất Nhà Trần tổ chức lễ hiến tiệp, bắt bại tướng Ô Mã Nhi phải dập đầu tạ tội. Nhìn con ngựa đá chân lấm bùn, nhà Vua tưởng như tiền nhân đang cưõi ngựa xông vào trận mạc, khiến ông cảm khái làm hai cầu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
       Sơn hà thiên cổ điện kim âu

       Đất nước hai phen chồn ngựa đá
       Non sông ngàn thuở vững âu vàng

2. Tư tưởng nhập thế của Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên cương vị Đầu Đà Điều ngự Giác Hoàng- Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Sau mười bốn năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Anh Tông về làm Thái thượng Hoàng rồi xuất gia đầu Phật, trở thành Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - Là dòng thiền đầu tiên của người Việt, do người Việt làm Sư Tổ. Sau này kế nghiệp Ngài còn có Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang.

Từ Hoàng tử đến Thái tử Đông cung rồi lên ngôi Hoàng Đế rồi về làm Thái thượng Hoàng cũng như khi khoác lên mình bộ áo tu hành, Trần Nhân Tông vẫn không quên bổn phận trách nhiệm đối với non sông đất nước. Ngài nói: “Ta đã thấm thía lời dạy của Thượng hoàng Thái Tông rằng: hãy làm một A Dục Vương để mang ân đức của Thế Tôn rải khắp nhân gian, đem trăm ngàn lợi cho dân chúng. Từ triều Lý đã cho xây chùa, dựng tượng, đúc chuông, nay nhà Trần ta nối gót cũng chỉ là làm theo mà thôi”5.

Tư tưởng Thiền học của Phật hoàng Trần Nhân Tông là: dĩ thiên hạ chi dục vi dục, dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm ( lấy cái mong muốn của mọi người làm cái muốn của mình, lấy tâm của mọi người làm tâm của mình). Vậy nên sử thần Ngô Sĩ Liên mới có nhận định : “Trần Nhân Tông trên nhờ từ cung tỏ rõ hiếu đạo, dưới dùng người hiền lập nên võ công, không phải bậc nhân minh, anh minh thì làm sao được như thế” ( Đại Việt sử ký toàn thư). Chất “Thiền” ấy được phản ánh và thâu tóm sinh động trong bài thơ “ Cư Trần lạc đạo” của Ngài:

"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
       Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
       Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
       Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền."
        "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
        Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
        Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
        Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền."

Thật đúng là Căn – Trần bất nhiễm. Giữa biển sóng trần ai mà giữ được bản thể thanh tịnh của chân tâm ấy là khởi nguồn của “Cư trần lạc đạo”. 

Sau khi chứng kiến việc xuống tóc đi tu của Công chúa Huyền Trân, Đức Điều Ngự đã mở hội Vô lượng ở chùa Phổ Minh, chuẩn cấp tiền lụa cho người nghèo, tụng kinh giảng pháp. Sau đó Ngài đi đến các chùa Sùng Nghiêm ở Chí Linh, Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang để thuyết pháp. Năm 1307 Ngài chính thức trao truyền Y bát cho Đại sư Pháp Loa. Ngài tâm sự: “Nay dòng Thiền Trúc Lâm của ta đã có người kế thừa, đất nước yên bình, nhìn lại thấy yên tâm rồi. Ngày trước Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy ta về tôn chỉ của Thiền tức là hãy quay đầu nhìn lại cái gốc của mình chứ không tìm ở đâu khác được. Cứ mải loay hoay chấp nê từng câu kinh, cúi lạy trăm ngàn lần pho tượng gỗ, giữ giới qua từng bước chân thì bến bờ giác ngộ e rằng nhiều kiếp cũng không tới. Thiền là nhằm giải phóng tất cả mọi trói buộc của cuộc sống, những kiến giải chấp chước về nhân quả, tội phúc,mê lầm. Cốt tủy của Thiền là sự sống trong lòng thực tại, giác ngộ chính mình. Cứ dựa vào những kiến giải suông, triết lý này nọ khác nào lấy đũa quơ trăng, gãi ngứa trên giày, chẳng ích lợi gì.(6)

Một lần tâm sự với Huyền Trân Công chúa, Phật Hoàng Nhân Tông dạy : “Chư Tổ dạy:Phật Pháp tại thế gian có nghĩa việc đạo không thể tách rời việc đời, nói cách khác người đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời, việc làm của con vừa qua là vậy. Nay con muốn xuất gia, càng phải hiểu thế nào là hằng thuận chúng sinh. Ngài vuốt tóc con gái và nhẹ nhàng tiếp, Ta tặng con bài kệ này: Mọi pháp đều không sinh; mọi pháp đều không diệt; nếu hiểu rõ như thế; chư Phật thường hiện tiền. Các hiện hữu, các ngã tướng đều do nhân duyên mà1 sinh, đều do nhân duyên mà diệt… hiểu rõ pháp giới nhân duyên sinh diệt là hiểu rõ pháp tính, thấy rõ Pháp tính là thấy rõ Phật vậy(7).

Cuộc đời lồng lộng thanh tao. Tấm lòng vì nước vì dân của Trần Nhân Tông sáng tựa sao Khuê. Người để lại lời tự bạch cuối cùng : “Ta là người xuất gia, phải chăng ta đang phạm vào giới luật? Tuy nhiên nếu cứ vì giữ cho mình tu hành, lo giữ giới luật mà bỏ mặc muôn dân trong lửa đỏ, đất nước bị dày xéo thì đấy có phải là tu hành chăng! Ta không quên mình còn là Vua nước Nam, là Trần Nhân Tông nên chấp nhận thà phạm vào giới luật, thà bị đày đọa nhiều kiếp luân hồi nhưng không thể bỏ đất nước lâm nguy. Ta nghĩ ấy cũng là điều mà nhiều bậc Thánh tăng cởi áo cà sa đi vào chiến trận. Suy cho cùng cũng là tùy duyên bất biến”(8).

Vào lúc canh ba ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân ( tức ngày 16 tháng 12 năm 1308) Tổ hỏi Bảo Sát ( đệ tử gần gũi nhất, luôn bên cạnh Trần Nhân Tông): "Hiện giờ là giờ gì ?" Bảo Sát bạch: "Giờ Tý". Ngài vén màn nói:" Đến giờ ta đi !" Bảo Sát hỏi : "Tôn đức đi đâu ?" Ngài dùng kệ đáp:

                   Tất cả pháp không sinh,
                          Tất cả pháp không diệt.
                           Nếu hay hiểu như thế,
                           Chư Phật thường hiện tiền.
                           Nào có đến đi ấy vậy.

Rồi Người thu thần thị tịch tại am Ngọa Vân, hưởng thọ 51 tuổi .

Hương Tức Mặc- hành cung Thiên Trường - Phủ Thiên Trường - Trấn Sơn Nam hạ là quê hương của các Vương tử Nhà Trần, được xem là Kinh đô thứ 2 của nước Đại Việt thế kỷ thứ XIII. Hiện nay Tại chùa Phổ Minh và quần thể di tích Đền Trần còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử của không gian văn hóa thời đại Lý – Trần, những minh chứng đậm nét cho sự nhập thế của Phật giáo trong đời sống văn hóa – xã hội Đại Việt cách đây hàng ngàn năm.

May mắn thay, nhờ có những vị Vua anh minh, mẫn tiệp thời kỳ đầu của hai triều đại Lý -Trần mà dân tộc ta mãi mãi rạng danh, trường tồn, thịnh trị. Sự đón nhận, tiếp thụ và truyền bá tinh hoa văn hóa Phật giáo vào không gian văn hóa Đại Việt của các vị Vua đầu triều thời đại Lý – Trần là dấu son rực rỡ trong tiến trình phát triển, thăng hoa tinh tiến của nền Phật học Việt Nam./.

Nam Định, tháng 10 năm 2015


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 19.7.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004