Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VIỆC TRUYỀN Y BÁT LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH HIỂU ĐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO?





(tiếp theo kỳ trước)


M uốn TRỪ KHỔ phải biết nguyên nhân và cách thức.

Theo Đức Thích Ca, sở dĩ con người bị KHỔ là vì CHẤP LẤY CÁI THÂN GIẢ TẠM, CHO ĐÓ LÀ MÌNH, gọi là CHẤP NGÃ. Cái Chấp này theo Phật là do SI, tức là VÔ MINH, có nghĩa là thiếu sáng suốt, vì thiếu sáng suốt nên nhận cái không phải là Mình (Ta) mà cho là Mình (Ta). (Tức là cái Thân Tứ Đại). Do CHẤP NGÃ nên chấp luôn những gì đến với Nó gọi là CHẤP PHÁP. Khi Chấp Ngã, Chấp Pháp, mọi người sẽ phản ứng với những gì đến với Cái Thân, cho đó là đến với mình. Những phản ứng của mỗi người khi đối pháp không ngoài THAM, SÂN do SI. Muốn THOÁT được những thứ này thì phải hiểu rõ về nó. Vì vậy người tu theo Đạo Phật được hướng dẫn cho TƯ DUY.

Không phải suy nghĩ cái gì cũng là Tư Duy, nên Tư Duy cũng có Chánh, Tà. Muốn TƯ DUY cho hiệu quả thì phải biết cần Tư Duy Pháp nào, để đặt mục tiêu cho chân chánh, gọi là CHÁNH TƯ DUY. Đã biết Cái Thân là nguyên nhân làm cho đau khổ, và muốn Thoát Khổ thì phải Tư Duy về nó. Để có thể dừng bớt việc chạy theo sự điều động cái Thân thì GIỚI được đặt ra, như một bờ bao để người giữ được bảo vệ trong đó. Người tu không chỉ dừng những suy nghĩ vu vơ. Ngưng không làm điều Ác, mà còn phải thiện hóa từ từ, rồi còn phải Quán Sát cái Thân, xem thực chất nó là gì? Từ đâu đến? Tồn tại bao lâu?

Dựa theo căn bản đã được Đạo Phật vạch sẵn. Người tu bắt đầu tìm hiểu về cái THÂN để thấy nó chỉ là một khối thịt xương, được hình thành bằng duyên kết hợp của cha mẹ, sau đó được bồi bổ bằng thực phẩm mà lớn lên. Tồn tại nhiều lắm là 100 năm. Nhưng trong 100 năm sống đó, nó vừa phải trả Nghiệp cũ, lại vừa tạo thêm Nghiệp mới, lại phải đối đầu với biết bao nhiêu khó khăn. Do đó mà TỨ DIỆU ĐẾ được đưa ra để người tu theo đó mà nhìn lại những gì diễn ra trong kiếp sống để thấy Phật dạy không sai. Rõ ràng: “Hữu Thân, hữu Khổ”! Hết mưa gió, bệnh hoạn tấn công, rồi đến cầu mong không được. Người yêu thương phải sống xa. Kẻ oán ghét lại cứ phải gặp… Do vậy mà Đạo Phật khuyên con người không nên bám vào cái Thân. Vì có gìn giữ, yêu thương, cưng chiều nó cho mấy thì thời gian nào đó nó cũng sẽ hư hoại. Nhưng điều quan trọng là không phải khi cái Thân hư hoại thì tất cả đều kết thúc. Ngược lại, những gì đã làm trong quá khứ không mất, cho nên lại phải Luân Hồi để Trả. Tu Phật chỉ là một hành trình để dứt KHỔ trong hiện kiếp và kết thúc vòng SINH TỬ LUÂN HỒI.

Để hỗ trợ cho việc Tư Duy về các Pháp, một công thức khác cũng được đưa ra để nói về diễn tiến của chúng, là THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG, để người tu thấy rằng các Pháp đang tồn tại, có vẻ bền chắc như vậy, nhưng cuối cùng cũng sẽ hư hoại để trở về KHÔNG. Đó là bài học để người yêu thích cái THÂN, yêu thích cuộc đời học hỏi, để bớt đi những đắm nhiễm vào cái Thân và các PHÁP. Người càng Soi Quán nhiều, càng nhập tâm thì càng mau chóng thoát vòng ảnh hưởng của chúng. Bởi nếu biết rằng những thứ mà chúng ta làm quần quật, đấu tranh, giành giật, thậm chí lường gạt hay tàn sát nhau để tích lũy chỉ là những thứ GIẢ, thì liệu chúng ta còn hăng say để tiếp tục hay không? Để cưng dưỡng cái Thân, cho nó ăn ngon, mặc đẹp. Sắm cho nó đủ thứ đồ sang, cho nó đeo vàng, đeo ngọc, tẩm bổ nó bằng những thứ thực phẩm đắt nhất trên đời, ta đã phải nhọc nhằn, gian khổ, đôi khi phải dối trên, lừa dưới, tạo Nghiệp… rốt cuộc nó cũng hành hạ ta chán bằng những cơn bệnh, rồi lạnh lùng bỏ ta mà đi. Biết như vậy thì liệu ta có còn tiếp tục cưng chiều, cung phụng cho tất cả những đòi hỏi của nó hay không?

Không chỉ Quán Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã, người tu còn nghiền ngẫm câu “PHÀM SỞ HỮU TƯỚNG GIAI THỊ HƯ VỌNG”, của Kinh Kim Cang để có thêm cái hiểu về vạn pháp. Bổ sung theo đó là một Kinh khác cũng đưa đến kết quả tương tự. Đó là BÁT NHÃ TÂM KINH. Người tu sẽ theo từng câu, từng lời trong đó mà quán sát: “Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc”. Tức là mọi thứ có tướng (Sắc) mà ta đang nhìn thấy, đang tiếp xúc đây, kể cả cái Thân của ta cũng sẽ hư hoại. Như vậy thì Tướng (Sắc) đó có khác gì Không? Nó đã hư vọng thì còn đam mê, còn bám lấy nó để làm gì?

Nhờ quán sát như thế người tu mới gỡ lần được một số những dính mắc vào cuộc đời, nên những thứ trước kia làm cho con người điên đảo là Danh, Lợi, Tình, được, mất, hơn, thua… không còn làm Khổ họ được nữa, gọi là Thoát Khổ.

Qua cả một quá trình GIỮ GIỚI, sống theo BÁT CHÁNH ĐẠO và QUÁN SÁT, TƯ DUY để Xả bớt những tập khí cũ, rồi nhờ tập trung lúc THIỀN ĐỊNH, đến lúc nào đó, người tu sẽ nhận ra là ngoài phần Hữu Tướng là Cái Thân, mỗi người còn có phần Vô Tướng là những Ý Thức mà Phật đặt tên cho đó là cái TÂM. Khi nó chưa sáng suốt thì Ngài gọi đó là VỌNG TÂM. Cái Vọng Tâm này, theo Đức Thích Ca, là thủ phạm đã gây ra SINH TỬ LUÂN HỒI. Vì nó đã xui cái Thân tạo Nghiệp, để rồi theo đó mà vòng Sinh Tử Luân Hồi cứ triền miên không dứt. Nhưng cái Thân, suy cho cùng chỉ là đống thịt xương, là bộ máy hành động theo sự điều khiển của Ý thức hay còn gọi là Cái Tâm. Khi phân biệt được thế nào là VỌNG TÂM, thế nào là CHÂN TÂM, cùng với những gì đã được học, hiểu, thực hành, người tu sẽ biết được rằng mình có cái CHÂN TÂM, không ô nhiễm, không Sinh, Tử, không bị nghiệp lực lôi kéo, và Nó mới là cái TA THẬT, trong sạch, thanh tịnh, trường tồn, bất diệt. Ở trong Thân này mà không Tử theo cái Thân khi nó hết kiếp. Người thấy như vậy gọi là THẤY TÁNH hay nhận được BỔN THỂ TÂM. Đó là sự Chứng Đắc của Đạo Phật mà người tu cần đạt tới. Đó là cái mà Lục Tổ Huệ Năng gọi là “Bồ Đề bổn vô thọ”.

Việc THẤY TÁNH mới là bước đầu của người nhận được “Bổn Thể Tâm” nên chư cổ đức gọi là “Kiến Tánh khởi tu”, bởi vì sau đó là cả một hành trình chuyển hóa Thân, Tâm. Nói nôm na như một vị vương tử bị thất lạc trong dân gian từ nhỏ. Nghe có người nói loáng thoáng mình là con của Vua, nhưng không biết thực hư thế nào. Cho đến khi tìm được nhiều bằng chứng, khẳng định mình đích thực là con vua, chỉ còn chờ về lại hoàng cung để nhận lấy ngai vàng mà thôi. Đó là một sự thật vốn có, không phải là điều gì mới lạ. Chỉ vì không nhận ra. Từ khi vị vương tử khi biết mình không phải là một người nghèo khổ, mà vốn dòng dõi sang trọng, cốt cách thanh cao, hẳn nhiên sau đó phải bỏ những thói lê la, những cách ăn nói, cư xử của giới bình dân trước kia, mà tập sống đúng với địa vị mới của mình. Có Kinh diễn tả bằng thí dụ một con sư tử con, nhưng bị lạc vào bầy giả can (chacal: chó sói) từ lúc nhỏ. Nó cũng kêu tiếng, ăn thức ăn như chúng. Đến khi nhận ra mình không phải là chó sói, mà chính là Sư tử, thì rống lên tiếng oai vệ của dòng giống mình, và không ăn thức ăn dơ của loài chó sói như trước nữa.

Từ khi nhận ra mình không phải là cái Thân hữu tướng giả tạm này, mà mình thật ra là Vô Tướng, bất sinh, bất diệt, thanh tịnh, như như, tạm hiện thân trong cái Giả Tướng này và ở cùng với nó cho đến hết hạn kỳ của nó, thì bản thân người Thấy Tánh đó sẽ không còn bị Mê Lầm như trước. Họ sẽ không còn để cho Lục Căn bị ảnh hưởng bởi Lục Trần để quay cuồng, đảo điên theo các Pháp, mà điều khiển Thân, Tâm, để cho nó theo ý thức đã Giác, không còn chạy theo Tham, Sân, Si, mà lấy lại quyền làm chủ Thân, Tâm, chỉ làm những việc tốt đẹp cho mình, cho người mà thôi. Những việc làm này được tượng trưng cho 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, mà nhiều thế hệ đã hiểu lầm, cứ lấy vàng, ngọc, đá quý, xi măng, gỗ, thạch cao… tạc thành hình tượng để Thờ!

Người Thấy Tánh chỉ là người nhận được lại Cái Thật Sự Là Mình. Không còn bám vào cái Mình Giả thì sẽ được Giải Thoát những sự ràng buộc bởi những thứ giả tạm, nên không còn bị cuộc sống khảo đả, cái tâm được an lạc, gọi là Thành Phật. Thành Phật không có phải là thành một vị Thần Linh, có quyền cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên hay những người khác bên ngoài, mà chỉ là thành tựu công việc Giải Thoát cho bản thân. Việc Quán Sát, Tư Duy, hành dụng chỉ nhắm vào Thân, Tâm mà hành trì. Không có so sánh với bên ngoài, nên không có cao, thấp, hơn, thua. Người tu chỉ là người tự chỉnh sửa cái Hiểu, cái Hành của mình. Trở về với Bản Thể của mình, nên cái đạt được cũng chỉ có giá trị với chính mình, không có so sánh với ai khác, nên gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Vô Thượng Bồ Đề không có nghĩa là cao tột bực, nhưng vẫn có một số người hiểu lầm lại sinh ra kiêu mạn khi tưởng rằng mình đã Chứng Đắc! Trong khi đó, ngưởi Chứng Đắc thật sự phải qua giai đoạn Xả cái Ta. Đã không còn có TA thì sao còn có cao, thấp? Đó là căn bản để ta có thể đánh giá người Tưởng Chứng và người Thật Chứng.

Người đã THẤY TÁNH thì nhận biết giá trị của cái Tánh, nên không còn chấp vào TƯỚNG để tranh giành Danh, Lợi như những người còn Mê Lầm, bám lấy cái Thân, bám lấy cuộc đời. Người như thế Phật tạm gọi là Thánh Nhân, bởi họ ở trong đời, vẫn phải dùng những vật phẩm của đời để cho cái thân tồn tại, nhưng chỉ với một mức độ vừa phải, và không còn tranh giành những thứ danh, lợi, vật chất của đời. Cách sống đó Đạo Phật gọi là “Ở trong thế gian mà Thoát thế gian”. “Ở trong phiền não mà không bị phiền não nhấn chìm”. Đó là ý nghĩa việc Chứng Đắc của Đạo Phật. Sự Chứng Đắc đó được so sánh như Hoa Sen, sống giữa bùn nhơ mà vẫn thanh khiết.

Qua trình tự của con đường tu hành chân chính: Người Tu chỉ làm công việc chuyển hóa Thân Tâm của mình để đạt được kết quả: Thoát Khổ, không còn phiền não, như Hoa Sen, vươn lên từ bùn. Tất cả chỉ là như thế, so với bao nhiêu Phương Tiện mà Phật đã đưa ra, nào là Tứ Quả Thánh, nào là Phật Quốc, Phật, Chư Bồ Tát, Chúng Sinh v.v… Do đó mà Ngài Ca Diếp đã mỉm cười khi thấy Đức Thích Ca đưa cành Sen lên. Nhìn nụ cười đó, Phật biết là Ngài đã nắm vững con đường của mình, nên Truyền Y bát lại cho Ngài để thay mình tiếp tục giữ gìn và phổ biến Chánh Pháp cũng như cầm đầu Tăng Chúng. Theo lời Phật dặn dò, việc đó được kế tục mãi, để thời nào cũng có người đại diện cho Phật. Nhờ vậy Chánh Pháp đã không dứt diệt dù rằng Y Bát không còn trao truyền.

Việc Thấy Tánh của Đạo Phật không phải là chỉ cần học, hiểu và có thể diễn nói làu làu tất cả các pháp của Đạo Phật như vẹt, mà như một công thức nấu ăn hay làm bánh. Người học phải tự mình thực hiện các món đó ra thành phẩm, và người thầy sẽ là người nếm để cho họ biết là món đó đã thành công hay chưa. Nhìn bên ngoài thì mọi người cùng giống như nhau. Nhưng suy nghĩ, thực hành, hiểu biết thì mỗi người đều khác. Chính vì vậy mà những vị Thầy hay kêu các đệ tử làm Kệ để đánh giá trình độ của học trò. Qua diễn tả, người Thầy sẽ thấy họ chứng đắc hay chưa. Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, ta thấy Ngũ Tổ đã kêu các Sư Tăng trong Chùa trình Kệ, để ai Thấy Tánh thì Ngài sẽ truyền Y Pháp cho làm Tổ Thứ Sáu.

Chính Sư Thần Tú cũng biết trình độ của mình, nên không dám công khai trình Kệ, chỉ lén lút biên trên vách nhà. Hy vọng nếu Tổ Sư thấy được, khen hay thì mình sẽ ra nhận, chứng tỏ Sư đâu có đủ tự tin khi trình Kệ. Ngược lại, Lục Tổ Huệ Năng là người đã Thấy Tánh, nên chỉ cần nghe qua bài Kệ của Sư Thần Tú là biết ngay rằng bài Kệ đó chưa đạt trình độ Thấy Tánh, và chỉ cần sửa một vài chữ là ý nghĩa hoàn toàn khác. Một bên thì cho là Thân là cội Bồ Đề. Tâm là đài gương sáng, lúc nào cũng cần lau chùi để bụi trần đừng vướng vào. Chứng tỏ Sư Thần Tú còn thấy Thân, Tâm là Mình, nên cần phải tu, sửa. Ngược lại, Lục Tổ Huệ Năng đã thấy được Phật Tánh, nên Ngài cho là Giải Thoát vốn không có gốc gác. Cái Tâm tức là minh cảnh cũng không có đài. Trước sau không có vật nào thì chỗ đâu mà vướng bụi trần? Tức là một bên vẫn còn vướng Tướng, nên vướng vào Thiện, Ác, thấy cần phải tu, sửa. Một bên đã thấy mình là Vô Tướng, không có chỗ nào để cho các pháp bám vào.

Có người cho là muốn tu hành thì phải như Sư Thần Tú: “Thời thời cần phất thức”, còn nói như Lục Tổ Huệ Năng thì lý thuyết có vẻ cao siêu, nhưng thiếu phần thực hành. Theo tôi nhận định như sau: Đã đành bước đầu và cả đời tu hành thì phải tu, sửa như Sư Thần Tú là không sai. Nhưng qua hai cái Thấy của Sư Thần Tú và Lục Tổ Huệ Năng, thì một người đang trên đường đi và một người đã đến. Cái “Đến”đó chính là sự CHỨNG ĐẮC của Đạo Phật. Cũng giống như thợ hồ và Kiến Trúc Sư. Thợ hồ thì chỉ biết cắm cúi xây, không biết lúc nào mới dừng. Cũng không biết nên xây tới đâu. Trong khi đó thì Kiến Trúc Sư là người nắm được tổng thể của ngôi nhà. Biết chỗ nào xây, chỗ nào làm thứ khác. Biết lúc nào, tới đâu là kết thúc. Do đó chỉ những người không hiểu hết ý nghĩa của Đạo Phật mới bài bác việc Chứng Đắc, Thấy Tánh. Bởi vì bản thân họ chưa hiểu thế nào “Tới”, là “Đến”, nên cũng không hiểu thế nào mới là thực hành đúng Chánh Pháp, dù cùng áp dụng những Pháp mà Phật đã giảng. Họ chỉ dựa theo Chữ, không hiểu được Nghĩa, nên hiểu lầm rằng Chứng Đắc, Thấy Tánh, Thành Phật, là thành một vị Thần Linh, hay thành Phật Tổ Như Lai có quyền ban ân, giáng họa. Do đó họ sẽ ở một trong hai địa vị: Hoặc tôn thờ, phụng sự Phật. Sáng tối chuông mõ, tụng niệm, Trai Giới, Thiền Định. Cố gắng giữ Giới cho nghiêm chỉnh để được Phật phù hộ độ trì khi sống, lúc chết được rước về Tây Phương Cực Lạc. Hoặc như một số Thiền Sư thời xưa, khởi Tăng Thượng Mạn, cho rằng người Chứng Đắc còn “cao hơn cả Phật” (Vô Môn Quan). Chính những cái hiểu sai này đã đưa họ đến tranh giành quyền lực, tranh giành địa vị cao thấp trong đạo, mà quên tu sửa Thân, Tâm. Hay nói ngược lại: Chính vì không biết rằng con đường Tu chính là Sửa Thân, Tâm nên nhiều người mới tiếp tục coi trọng lợi, danh của con đường tu hành, không biết rằng mục đích tu hành là để được Giải Thoát, không phải để đạt địa vị cao trong Đạo, được mọi người tôn kính.

Chính vì không nắm vững mục đích và phương tiện của công việc tu Phật, nên nhiều đời qua, biết bao nhiêu lớp người đã viễn ly cuộc thế, nhưng không có được bao nhiêu người “đắc đạo” . Do đó, họ đã bỏ nhà cửa đời, cho rằng đã Xuất Gia. Nhưng rời nhà thế tục mà không RỜI NHÀ LỬA TAM GIỚI. Bỏ luyến ái cha mẹ, vợ chồng, con cái, quyến thuộc mà không bỏ LUYẾN ÁI cái Thân và 7 đời quyến thuộc. Đó là Ba Nghiệp của Thân và 4 Nghiệp của Khẩu! Cạo sạch tóc mà không CẠO SẠCH PHIỀN NÃO, không trừ Tham, Sân, Si, thương, ghét, đố kỵ nơi Tâm. Đắp Y mà Không đắp lên THÂN, TÂM một màu thanh tịnh của Đạo. Khất vật thực mà không Khất Pháp Thực. Vì thế mà không đạt kết quả của Đạo, chỉ là người giữ tròn đạo đức mà thôi. Có GIỚI, ĐỊNH mà thiếu HUỆ thì không thể nào đi đến đích của Con Đường Giải Thoát được.

Tu Phật là để đạt Vô Thượng Bồ Đề mà có người đã tự hù dọa mình, cho là chỉ cần KHỞI cái tâm đạt Vô Thượng Bồ Đề là Tăng Thượng Mạn! Chẳng hiểu Vô Thượng Bồ Đề là gì mà cứ tu. Tu miệt mài nhưng chẳng dám mong ước để đạt. Vậy thì đi tu để làm gì? Phải chăng tự chúng ta lừa dối mình để rồi đi trong vòng lẩn quẩn. Cứ Hành mà không biết bao giờ sẽ đạt tới! Cũng chẳng biết Hành thế nào mới đúng, mà cũng không dám tìm hiểu, vì sợ khởi tâm là “động”! Muốn qua bờ Giác mà còn chưa biết Bờ Giác đó ở đâu? Muốn lìa Mê mà không biết thế nào là MÊ thì làm sao lìa? Vậy thì chúng ta sẽ tu những gì? Tu đến bao giờ? Rồi cứ thế, chồng lên, mỗi năm một Hạ. Nhiều năm là nhiều Hạ. Tu lâu thì thành cao chăng?

Chính vì vậy mà Đạo Phật cần phải có việc Chứng Đắc và Truyền Y Bát. Bởi khi người Thầy đi rồi, thì người kế vị là người đã nắm vững mục đích cũng như phương tiện của Đạo Phật, không chỉ đủ sức tự hành trì, mà còn có thể hướng dẫn cho người khác, và có thể diễn tả con đường tu hành bằng ngôn ngữ theo từng thời đại cho mọi người dễ hiểu, vì có những điều mà thời Phật tại thế chưa đủ ngôn ngữ để diễn tả nên dễ bị hiểu lầm.

Nhiều người giải thích TAM THẾ PHẬT đó là Phật của quá khứ là A Di Đà, Phật hiện tại là Thích Ca, và Phật của tương lai là Di Lặc. Đó là lời giải thích bất hợp lý. Chẳng phải đối với thời này thì Phật Thích Ca cũng là quá khứ sao? Cách đây đã 3.000 năm mà sao cho là hiện tại được? Trong khi Kinh Đại Thừa dạy là đối với con đường tu Phật, thì dù là QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI hay VỊ LAI. Nếu người hành trì đúng theo lời Phật dạy thì đều được Giải Thoát hay còn gọi là Thành Phật như nhau, nên gọi là có Tam Thế Phật.

Nhiều người thì chỉ chấp nhận có mỗi Đức Thích Ca là Đắc Đạo thôi, nên họ không nhìn nhận cả Chư Tổ, cho rằng những Kinh nào không phải được chép lại những lời chính thức của Phật thuyết, mà được viết về sau đều là Kinh Ngụy Tạo, chứng tỏ những người đó không hiểu gì về việc Chứng Đắc của Đạo Phật, nên không hiểu luôn thế nào là Tam Thế Phật và nếu là người đã Chứng Đắc thì Phật trước, Phật sau đều hiểu giống như nhau, vì đều cùng làm những việc như nhau mà thành Đạo. Đời cũng như Đạo, người trước truyền lại cho người sau. Nếu cho rằng chỉ có mỗi Đức Thích Ca là đắc đạo thì không khác nào nói rằng Ngành Y chỉ có mỗi Hyppocrate là Bác Sĩ!

Có Hòa Thượng đã nói là “Người bênh vực Đại Thừa đã không minh chứng được nguồn gốc xuất xứ của kinh, không biết kinh được kết tập thời điểm nào, vị Thánh Tăng nào đã chứng minh cho sự ra đời của Đại Thừa”. Là người có thời gian khá dài nghiên cứu và tu tập theo Đại Thừa, tôi xin lấy tư cách cá nhân để trả lời như sau:


l/ Về Sự ra đời của Đại Thừa

Đại Thừa là do chính Đức Thích Ca thành lập. Nếu có đọc lịch sử Đạo Phật chúng ta sẽ thấy là chính Đức Thích Ca, sau hơn 40 năm giảng dạy, khi thấy mình đã già yếu, qua vụ việc đưa cành Sen lên giữa hội chúng, thấy rằng Ca Diếp đã lĩnh ngộ Giáo Pháp của mình, nên đã Truyền Y Bát lại cho Ngài để thay mình toàn thống lãnh Tăng Chúng và phổ biến Đạo Pháp. Sau đó, Ngài Ca Diếp truyền lại cho Ngài A Nan, rồi Ngài A Nan truyền cho Ngài Thương Na Hòa Tu làm Tổ Thứ Ba. Khi Ngài Thương Na Hòa Tu truyền cho Ngài Ưu Ba Cúc Đa, lúc đó 20 tuổi, mới vào tu được có 3 năm, thì nhóm Trưởng Lão không bằng lòng, tách ra lập TRƯỞNG LÃO BỘ. Phía các Sư Tăng còn lại theo Tổ Thứ 4 gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ. Đại Chúng Bộ cũng được gọi là ĐẠI THỪA, Nhóm các Trưởng Lão Bộ được gọi là Tiểu Thừa, về sau cải thành Phật Giáo Nguyên Thủy.

Từ khi tách ra, Nhóm Trưởng Lão Bộ chỉ nhìn nhận Tổ Ca Diếp và Tổ A Nan, không nhìn nhận Tổ Tứ 3 và tất cả những Tổ còn lại. Cũng không hề nói đến việc Truyền Y Bát. Nên tín đồ của Phật Giáo Nguyên Thủy hoàn toàn không biết gì về việc Truyền Y Bát cũng như tầm quan trọng của việc này đối với Đạo Phật.

Như vậy, rõ ràng là Tiểu Thừa mới là nhóm tự tách ra khỏi Tăng Đoàn do Đức Thích Ca thành lập, tự hình thành một Giáo Phái mới, song hành với Đại Thừa suốt từ sau Phật nhập diệt khoảng 100 năm đến nay. Hai bên cùng dùng Giáo Pháp của Phật thuyết để giảng dạy, nhưng phần giải thích và thực hành có nhiều chỗ khác nhau. Đó là sự khác biệt giữa một bên do người đã Chứng Đắc nối tiếp nhau để khai triển Giáo Pháp do Phật giảng dạy, và một bên không có người Chứng Đắc hướng dẫn.


2/ Nguồn gốc, xuất xứ của Kinh Đại Thừa? Kinh được kết tập thời điểm nào? Vị Thánh Tăng nào đã chứng minh?

Xin được trả lời như sau: Sở dĩ kinh Kết Tập cần những vị Thánh Tăng chứng minh, là vì thời Phật tại thế chưa có tài liệu ghi chép lại những lời Ngài giảng. Sau khi Phật nhập diệt khoảng 4 tháng, Ngài Ca Diếp mới triệu tập tất cả các Đệ Tử của Phật để gom lại những lời Phật thuyết lúc sinh thời, sợ thời gian sẽ làm quên mất. Lúc đó Ngài A Nan là người “thuộc Pháp của Phật thuyết như nước trong bình đổ ra không thiếu một giọt” đích thân kể lại, và những người trong chúng hội đã từng nghe Phật giảng dạy, sẽ xác nhận những điều mình cũng từng nghe qua, nên gọi là chứng minh. Những Bộ Kinh đầu tiên do gom lại lời Phật giảng nên gọi là Kinh Kết Tập.

Trường hợp Kinh Đại Thừa do các Tổ được Truyền Y Bát viết hay giảng về sau thì đó là lời của chính các Ngài. Thời của các Ngài thì chữ viết đã có, các Ngài có thể tự viết hay kêu đệ tử biên tập, đâu cần chờ viên tịch thì các đệ tử mới kết tập, thì cần gì các vị Tăng khác chứng minh? Hơn nữa, những vị Tăng khác trong chùa chỉ là đệ tử làm gì đủ trình độ mà đánh giá, chứng minh những lời của Thầy? Do đó, đòi hỏi Kinh Đại Thừa cần có Thánh Tăng chứng minh là không hợp lý.

Sở dĩ vẫn dùng “Ta nghe như vầy” hay mở đầu bằng những câu y như lời Ngài A Nan kể lại, là để mượn phương tiện mà hướng dẫn chúng sinh. Vì cách đây cả ngàn năm, con người chưa ý thức được rằng Phật Đạo là con đường đưa đến Giải Thoát mà bất cứ ai hành trì đúng theo những gì Đức Thích Ca đã hướng dẫn thì cũng sẽ Giải Thoát như Ngài, và người đã Giải Thoát thì Trí Huệ như nhau vì “Phật trước Phật sau đều bình đẳng”. Nhưng ngay cả thời này mà nhiều người vẫn còn phản đối, không chấp nhận được có người đắc đạo ngoài Đức Thích Ca mà không thấy là hết sức vô lý: Đạo là Con Đường, thì ai cùng đi trên đường đó phải đến cùng một mục đích. Lý do nào cùng đi một đường mà nơi đến khác nhau? Người phản đối có giải thích được lý do vì sao Tu Phật mà không Thành Phật chăng? Nếu khẳng định như thế khác nào cho lời Thọ Ký của Phật là vô nghĩa!

Tóm lại, Kinh Đại Thừa dù không phải những lời chính thức do Đức Thích Ca giảng, nhưng trong đó là những lời của các vị đã Chứng Đắc, đã nắm vững con đường tu hành khai triển những gì ngày xưa thời Đức Thích Ca giảng nhưng do chưa đủ ngôn từ để diễn tả nên bị hiểu lầm. Người đã Chứng Đắc thời nào thì sự hiểu biết cũng giống như nhau. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên vì sao Chư Tổ nhiều thời khác nhau, như lời Tổ Long Thọ trong Kinh Hoa Nghiêm cũng không khác với những gì do Tổ Đạt Ma giảng trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất hay Lục Tổ Huệ Năng dạy trong Pháp Bảo Đàn Kinh. Hoặc những kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kim Cang… được nhiều Tổ viết từ nhiều thời khác nhau, nhưng tất cả đều diễn tả con đường tu hành giống nhau, vì họ cùng hiểu, cùng hành các pháp, cùng thành tựu như nhau. Cũng giống như việc học hành ngày nay. Lớp trước đào tạo lớp sau. Chỉ có thể nói lớp sau chưa đủ kinh nghiệm bằng lớp trước, không thể nói kiến thức khác nhau. Những người cho rằng chỉ mỗi Đức Thích Ca là đắc đạo nghĩ sao về những gì Ngài đã bỏ ra 49 năm để giảng dạy? Chẳng lẽ chỉ để giảng khơi khơi, không đào tạo được đệ tử nào chứng đắc? Như vậy thì có gì để cho người sau học hỏi? Đã cho rằng lời Đức Thích Ca là không hư vọng, mà lại cho rằng không có người chứng đắc ngoài Đức Thích Ca! Như vậy chẳng lẽ lời Thọ Ký: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” là vô giá trị?

Thời Phật giảng, có nhiều điều người chưa Chứng Đắc chưa thể hiểu hết nghĩa, nên cho là “bất khả tư nghì”! Nhưng cũng nhờ có Chư Tổ khai sáng, và hướng dẫn nên chúng ta mới biết cách hiểu Nghĩa của Kinh, mới biết rằng những cảnh giới được mô tả trong Kinh là để nói về những diễn biến trong CÕI TÂM của mỗi người. Vì thế, người tin theo Đại Thừa, khi muốn tu hành thì cố gắng quay vào “Nội quang phản chiếu” tìm chúng sinh nơi Tâm mình, chuyển hóa chúng, để hoàn thành Phật Quốc nơi đó, gọi là TU TÂM. Trong khi đó, những người Y NGỮ, cứ nhìn ra ngoài, cho rằng Nước Phật, Phật, Chư Bồ Tát là ở Tây Phương, Đông Phương. Do đó, ngày họ càng dựng Chùa cho to, cho trang nghiêm. Theo hình tượng mô tả mà tạc tượng cho lớn. Chất liệu càng quý càng tốt, để tôn thờ Phật. Rồi cả kiếp sống tu hành là cố gắng giữ tròn đạo đức để cầu được phù hộ khi sống. Lúc chết mong được Thánh Chúng rước về Tây Phương Cực Lạc, và cố gắng tuyên truyền, lôi kéo ngày càng nhiều người quy y theo Phật. Càng làm việc hăng say thì thấy mình phụng sự cho Phật, không biết rằng mỗi người chỉ cần phụng sự cho Phật của chính mình, vì Phật chỉ để nói về sự Giải Thoát nơi Tâm của mỗi người, không phải để nói đến Phật của ai bên ngoài, dù cho đó là Phật của Đức Thích Ca.

Giáo Pháp Phật đặt ra là bình đẳng cho mọi người, mọi giới. Tu PHẬT là Sửa để được Thành Phật, tức được Giải Thoát. Kinh dạy: Giải Thoát hay ràng buộc cũng chỉ ở nơi Tâm. Vì thế TU PHẬT là TU TÂM. Hình tướng không quan trọng, không cần thiết. Do vậy, Đại Thừa cho rằng không cần phân biệt. Ở đâu? Trình độ nào? Hoàn cảnh nào? Giới tính nào cũng có thể Tu được. Không cần rườm rà trang phục, vì Sen đâu có cần rửa sạch bùn, hay bứng đi, trồng vào chậu nước tinh khiết mới nở Hoa được. Trái lại, phải ở trong bùn mà vẫn nở hoa thanh khiết mới nói lên hết tính chất của Giải Thoát mà Đức Thích Ca muốn mượn Hoa Sen để diễn tả. Người tu Phật là người vẫn tiếp tục sống giữa đời. Vẫn làm tròn trách nhiệm của một công dân, một người con, người chồng, người cha, người vợ, người mẹ. Trong đó, vừa tu sửa Thân, Tâm vừa phụng sự cha mẹ, gia đình, xã hội, bởi đạo Phật dạy người tu sau khi thành tựu còn phải đền nợ TỨ ÂN. Nếu ta tách khỏi cuộc đời, không học hỏi, làm ăn, sinh sống, giúp mình, giúp người, làm sao đền được Tứ Ân?

Nếu không học hết những giai đoạn mà Phật khai mở mà dừng ở những lời Phật dạy ban đầu thì người tu sẽ đi vào một thái cực khác của cuộc đời. Trong khi phàm phu là những người cho cái Thân là Mình. Kiếp sống là thật, nên thấy các pháp là CÓ THẬT, từ đó khởi ra Tham để tranh giành nhau, làm cho cuộc sống thêm xáo trộn thì người mới nghe Phật dạy các pháp là KHÔNG đã vội chấp lấy đó, bỏ hết mọi việc, vô Chùa, sống đời sống biệt lập, tách rời khỏi cuộc đời, không dính líu tới mọi sinh hoạt của đời để trở thành mâu thuẫn với cuộc đời. Bởi nói các pháp là KHÔNG, nhưng bản thân họ vẫn đang tồn tại, tức là đang CÓ. Hàng ngày, dù không tham gia việc đời, nhưng họ vẫn phải sử dụng cơm, áo, vật dụng, nhà cửa, thuốc uống, xe cộ để đi lại… Tất cả đều CÓ! Do đó, nếu họ có học tiếp thì sẽ thấy: Giai đoạn đầu Phật nói các pháp là KHÔNG là để đối trị với những người cho các pháp là CÓ để rồi vì đó mà tranh giành, vướng mắc, gây đau khổ cho bản thân họ và những người chung quanh. Khi họ đã được chỉ cho soi, quán, thấy cuối cùng các pháp sẽ về KHÔNG, thì sẽ bỏ được cái Tham Lam, mê đắm vào vật chất, lúc đó Phật mới dạy là các Pháp thật ra KHÔNG PHẢI CÓ, KHÔNG PHẢI KHÔNG, MÀ CŨNG CÓ, CŨNG KHÔNG, gọi là con đường TRUNG ĐẠO.

Điều này có vẻ khó hiểu đối với những người mới tu học. Nhưng nếu xét cho cùng lý, ta thấy: Phải chăng nếu nói rằng các pháp là CÓ thì sao không tồn tại mãi mà đến lúc nào đó sẽ bị hư hoại? Nếu nói hoàn toàn là KHÔNG thì cái gì đang hiện diện? Do đó mà Đạo Phật dạy người tu nên hiểu rằng các pháp chỉ là TẠM CÓ, để rồi hành xử theo con đường TRUNG ĐẠO. Sống và cư xử giữa những cái CÓ, nhưng vì biết nó chỉ là TẠM CÓ, nên không chấp, không bám lấy nó, cái Tâm được như hư không. Đó gọi là hành xử theo con đường Trung Đạo. Nhờ đó mà được giải thoát, hết khổ.

Không phải chỉ vô Chùa mới được giải thoát, vì đã tách khỏi bon chen của cuộc đời. Mọi thứ đều được người khác cung phụng cho. Không còn phải lo miếng cơm, manh áo. Không phải phụng dưỡng cha mẹ. Không cần phải vất vả để mưu sinh. Không có vợ, con để phải chăm lo thì có gì phiền não nữa mà cầu Giải Thoát? Bởi Giải Thoát của Đạo Phật chỉ là Thoát Khổ, Thoát Phiền Não. Ngoài phiền não, đau khổ, còn giải thoát khỏi thứ gì khác? Do đó, chính ở ngay tại trần gian, hàng ngày phải vật lộn với cuộc sống để mưu sinh mới cần và mới thấy rõ giá trị của Giải Thoát. Cho nên Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác”. Mặt khác, phiền não sở dĩ có là vì phải đối đầu với cuộc đời do nhu cầu cuộc sống. Nếu ta trút gánh nặng đó cho người khác để mình thảnh thơi tu hành rồi khi chứng đắc chỉ mình mình nhờ thì liệu có công bằng không, vì ai có tu xong cũng đâu thể độ cho người khác? Phật còn không độ được cho con. Do vậy mà Lục Tổ dạy: “Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác” có nghĩa làRời thế gian mà đi tìm Giải Thoát cũng như đi tìm sừng thỏ”


(Tháng 6/2015)


(còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 14.10.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004